ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LY
CHÕ §ÞNH DÉN §é TRONG HîP T¸C QUèC TÕ
THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LY
CHÕ §ÞNH DÉN §é TRONG HîP T¸C QUèC TÕ
THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Sự ra đời và khái niệm dẫn độ .................................................................... 6
1.1.2.
Khái niệm chế định dẫn độ ....................................................................... 13
1.2.
NỘI DUNG CỦA CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ ................................................. 20
1.2.1.
Cơ sở dẫn độ ............................................................................................ 20
1.2.2.
Các nguyên tắc của dẫn độ ....................................................................... 22
1.2.3.
Thủ tục dẫn độ ......................................................................................... 30
1.2.4.
Thẩm quyền thực hiện dẫn độ .................................................................. 32
1.2.5.
Một số quy định khác về dẫn độ ............................................................... 33
về dẫn độ.................................................................................................. 44
2.2.2.
Những nội dung về dẫn độ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam ........... 49
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ....... 87
3.1.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẪN ĐỘ Ở VIỆT NAM ........................ 87
3.1.1.
Tình hình thực hiện các yêu cầu dẫn độ.................................................... 87
3.1.2.
Nguyên nhân hạn chế hiệu quả của hoạt động dẫn độ ở Việt Nam............ 90
3.2.
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ ......................................... 94
3.2.1.
Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp
dụng chế định dẫn độ ............................................................................... 94
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
TTHS:
Tố tụng hình sự
TTTP:
Tương trợ tư pháp
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Bảng 3.1. Thống kê yêu cầu dẫn độ tội phạm ở Việt Nam từ 01/07/2008
đến 30/06/2014
Trang
tố tụng hình sự năm 2003 về dẫn độ tội phạm cũng mới chỉ dừng lại ở mức khái
quát, chưa cụ thể nên khó áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan
1
tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện các hiệp định đã được ký
kết còn nhiều hạn chế, thiếu các văn bản hướng dẫn cần thiết, chưa có sự quan tâm
chỉ đạo của các ngành chức năng liên quan. dẫn đến tình trạng các quy định về dẫn
độ ở Việt Nam còn mang nhiều tính hình thức; Năng lực, trình độ của cán bộ tiến
hành tố tụng còn hạn chế là một trong những nguyên nhân làm cho việc thực thi
pháp luật về dẫn độ tội phạm ở Việt Nam chưa đạt hiệu quả cao.
Trước thực trạng trên, việc nghiên cứu chế định dẫn độ tội phạm không
những có ý nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, xử lý tội phạm; hội nhập
quốc tế; bảo đảm quyền con người; thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp mà còn góp
phần xây dựng lý luận về hợp tác quốc tế trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự. Vì
vậy, em chọn đề tŕi “Chế định dẫn độ trong hợp tác quốc tế theo luật tố tụng
hình sự Việt Nam” cho Luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về dẫn độ tội phạm dưới dạng các bài
tạp chí, luận văn thạc sỹ, sách tham khảo… như nghiên cứu về Hoạt động dẫn độ
tội phạm theo Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước theo Tạp
chí Dân chủ và pháp luật số 05 năm 2000 của tác giả Nguyễn Ngọc Anh, nghiên
cứu của tác giả Dương Tuyết Miên về “Vấn đề dẫn độ tội phạm” (Tạp chí Tòa án số
10 năm 2006), nghiên cứu của tác giả Nguyễn Giang Nam về “Dẫn độ tội phạm
theo pháp luật hiện hành” (Tạp chí Nhà nước và pháp luật. Viện Nhà nước và pháp
luật số 12 năm 2008), Luận văn thạc sỹ của tác giả Đào Thị Hà (2006) về “Vấn đề
dẫn độ trong pháp luật Việt Nam”… Bên cạnh đó một số giáo trình, sách tham khảo
của một số cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam như “Giáo trình Công pháp Quốc tế” do
PGS.TS Nguyễn Bá Diến chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội năm 2013, “Giáo
- Làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về dẫn độ;
- Nêu thực trạng, phân tích, đánh giá hiệu quả của hoạt động dẫn độ ở Việt Nam;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của
hoạt động dẫn độ tội phạm.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề dẫn độ với
tư cách là một chế định trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở các quy định
của Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, Luật tương trợ tư pháp năm 2007
và Hiệp định dẫn độ giữa Việt Nam với một số nước trên thế giới như Hàn Quốc, Ốt
– xtrây – lia, Ấn Độ, Indonesia,…
3
4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải
cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002
của Bộ Chính trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới", Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020.
Trước xu thế quốc tế hóa, việc nghiên cứu luận văn còn được thực hiện
trên tư tưởng tiến bộ của nhân loại về việc đấu tranh phòng chống tội phạm có
tính chất quốc tế.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn gồm: Phương
pháp lịch sử; Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh đối chiếu;
Phương pháp tổng kết thực tiễn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
trong tố tụng hình sự Việt Nam.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ
TRONG HỢP TÁC QUỐC TẾ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM “DẪN ĐỘ” VÀ “CHẾ ĐỊNH DẪN ĐỘ”
1.1.1. Sự ra đời và khái niệm dẫn độ
1.1.1.1. Sự ra đời của dẫn độ
Dẫn độ được hình thành và phát triển cùng với luật quốc tế, là một bộ phận
của Luật hình sự quốc tế, nó được ra đời khi có nhu cầu trao đổi về tội phạm giữa các
quốc gia thông qua một thỏa ước quốc tế. Các nghiên cứu cho rằng, thời cổ đại qui
chế về dẫn độ đã ra đời, khi người nước ngoài phạm tội chống lại công dân nước
ngoài ở quốc gia sở tại, nơi người phạm tội cư trú. Trong thời kỳ này, đã xuất hiện
các điều ước quốc tế giữa một số quốc gia về dẫn độ, chẳng hạn: Năm 1296 trước
công nguyên, điều ước quốc tế về dẫn độ ở vùng Ai Cập cổ đại có nêu rõ rằng:
Nếu như một ai đó chạy khỏi Ai Cập và tới quốc gia Khettôv, thì vua
Khettôv sẽ không bắt giữ anh ta, mà bắt anh ta quay trở lại Ai Cập. Đặc
điểm của điều ước quốc tế này thể hiện ở chỗ, vấn đề không phải chỉ là các
tội phạm và thời kỳ đó, chế định dẫn độ còn đề cập tới cả người nô lệ da
trắng, đặc biệt là ở Hy Lạp và đế chế La Mã. Đồng thời, có các điều ước
quốc tế về dẫn độ giữa một số quốc gia thành phố của Hy Lạp [42, tr. 341].
Quan điểm này cũng được Christopher L. Blakesley khẳng định:
Trong thực tế, văn bản ngoại giao được biết đến sớm nhất có chứa
một phần quy định về sự lộ diện của những kẻ trốn chạy. Đó là Hiệp ước
về Hòa bình giữa Ramses II, Pharaon của Ai Cập, và vua Hittite Hattusili
III, được ký sau khi các nước cố gắng xâm chiếm Ai cập. Văn bản này
được viết bằng chữ tượng hình, được khắc trên Đền của Ammon ở
nhằm thoát khỏi sự truy lùng và kết án hình sự. Tình trạng này đã thúc đẩy các quốc
gia với mục đích bảo vệ nền pháp chế tìm kiếm các chế định mới mà một trong các
chế định đó là dẫn độ. Có nhiều điều ước song phương cũng như đa phương về dẫn
độ được ký kết bởi các quốc gia Châu Âu, theo PGS.TS Nguyễn Trung Tín:
Một trong số các điều ước đa phương đầu tiên về dẫn độ là điều
ước Amenski năm 1802 với sự tham gia của Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha và Anh. Sau đó một loạt các điều ước quốc tế được ký kết ở Châu
7
Mỹ, Châu Âu và các Châu lục khác. Việc mở rộng sự hợp tác của các
quốc gia về vấn đề dẫn độ tội phạm được hậu thuẫn bởi sự ra đời và củng
cố các nguyên tắc của chế định dẫn độ tội phạm. Các nguyên tắc “có đi
có lại”, “chuyên môn” và các nguyên tắc khác [42, tr.342].
Trong thời gian ấy, pháp luật về dẫn độ tội phạm có hai mục đích: Một là
công cụ hợp tác của các quốc gia để ngăn chặn tội phạm, hai là công cụ để bảo vệ
chính người bị dẫn độ. Vì vậy, ngay vào các năm 40 của thế kỷ XIX các nước Châu
Âu đã thông qua một nguyên tắc là chỉ dẫn độ các tội phạm hình sự, chứ không dẫn
độ tội phạm chính trị hay những người đào ngũ. Sau chiến tranh thế giới lần thứ
nhất, vào năm 1924, “Ủy ban các chuyên viên về pháp điển hóa tiến bộ về luật pháp
quốc tế” của Hội quốc liên đã dự thảo và kiến nghị ký kết các công ước phổ cập
điều chỉnh vấn đề hợp tác quốc tế về dẫn độ tội phạm. Tuy nhiên, dự thảo này chưa
được ký kết thì Hội quốc liên đã ngừng hoạt động do chiến tranh.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Tòa án Nuremberg và tòa án Tokyo xét
xử phát xít đã đề cập đến việc dẫn độ tội phạm, do đó năm 1946 Đại hội đồng liên
hợp quốc đã thông qua Nghị quyết áp dụng các biện pháp truy tìm, bắt giữ và dẫn
độ các tội phạm chiến tranh về quốc gia nơi thực hiện tội phạm để xét xử theo pháp
luật quốc gia sở tại. Năm 1947, Đại hội đồng liên hợp quốc tiếp tục thông qua Nghị
quyết về nghĩa vụ của các quốc gia trong việc dẫn độ và chuyển giao tội phạm chiến
định của Hiệp ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự đã được ký kết
(hoặc các quy phạm pháp luật quốc tế trong trường hợp Hiệp định tương
ứng chưa được ký kết) chuyển giao người phạm tội đang ở trên lãnh thổ
của nó theo đề nghị của quốc gia kia (nước yêu cầu) mà trên lãnh thổ có
việc thực hiện tội phạm hoặc có người phạm tội là công dân của mình
(nước yêu cầu) để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt
với người ấy [11, tr.230].
Định nghĩa này không chỉ nêu lên đặc điểm của dẫn độ mà còn bao gồm
cả những nội hàm của khái niệm “Chế định dẫn độ” nên nội dung của nó khá
phong phú do tác giả tiếp cận dẫn độ với tư cách là một chế định pháp lý hình sự.
Tuy nhiên, trong giới hạn của việc đưa ra khái niệm “dẫn độ” của luận văn này,
tác giả luận văn chỉ tham khảo những đặc điểm về dẫn độ tội phạm mà định
nghĩa đã nêu ra.
9
Từ điển Oxford đã đưa ra khái niệm “Dẫn độ tội phạm là việc dẫn độ một
người bị buộc tội hoặc bị kết án đối với một tội phạm” [23, tr.14]. Định nghĩa này
về dẫn độ đã thiếu đi tính thuyết phục khi giải thích khái niệm dẫn độ bằng việc lặp
lại chính cụm từ “dẫn độ” (dẫn độ là dẫn độ). Đồng thời, định nghĩa này mới chỉ đề
cập đến đối tượng của dẫn độ mà chưa chỉ ra được chủ thể tiến hành dẫn độ, nguyên
tắc, thủ tục và mục đích của dẫn độ. Đặc biệt, định nghĩa chưa làm rõ được bản chất
của dẫn độ là một quá trình hướng tới mục đích chuyển giao người phạm tội để truy
cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án giữa các quốc gia trong đấu tranh xử
lý tội phạm ở phạm vi toàn cầu.
Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa về dẫn độ, theo đó:“dẫn độ là
việc đưa phạm nhân người nước ngoài bị bắt ở nước mình giao cho cơ quan tư
pháp ở nước ngoài đó xét xử” [23, tr.15]. Tuy nhiên, đây được coi là cách giải thích
chưa hoàn chỉnh về dẫn độ bởi chỉ đề cập đến một nội dung của dẫn độ người phạm
Trong cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về luật hình sự quốc tế”,
PGS.TS Nguyễn Trung Tín đưa ra định nghĩa: “Dẫn độ trong luật hình sự quốc tế
được hiểu là việc một quốc gia chuyển trao người bị cáo phạm tội hoặc người bị kết
án (quốc gia nơi những người đó có mặt) cho một quốc gia khác (thường là quốc
gia nơi tội phạm gây ra hoặc là quốc gia đã kết án người đó” [42, tr.335]. Đây là
định nghĩa tuy có cụ thể hơn nhưng mới dừng lại ở việc chỉ ra mục đích của dẫn độ
và phần nào phản ánh được bản chất dẫn độ mà còn thiếu đi những nội dung quan
trọng của dẫn độ.
Từ những phân tích, đánh giá các định nghĩa (nêu trên) về dẫn độ, tác giả
luận văn với cách tiếp tổng thể, dựa vào quy định pháp luật và thực tiễn dẫn độ đưa
ra định nghĩa sau: “Dẫn độ là một quá trình, theo đó, một nước (nước được yêu
cầu) chuyển giao người phạm tội đang có mặt trên lãnh thổ của mình cho nước
khác (nước yêu cầu) để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt
đối với người đó theo các nguyên tắc, thủ tục được qui định trong điều ước quốc
tế và pháp luật quốc gia”.
Định nghĩa này khắc phục được những hạn chế của các định nghĩa đã nêu
trên, do vậy nó phản ánh được đầy đủ bản chất của dẫn độ với các nội hàm sau:
Thứ nhất, mục đích dẫn độ: Định nghĩa nêu trên đã chỉ ra mục đích của dẫn
11
độ là truy cứu trách nhiệm hình sự và thi hành hình phạt đối với người phạm tội.
Hai mục đích này quyết định các nguyên tắc, thủ tục, trình tự dẫn độ trong các điều
ước quốc tế và cũng còn để phân biệt dẫn độ với các khái niệm liên quan, liền kề
trong luật quốc tế, như chuyển giao tội phạm đã bị kết án; chuyển giao vật chứng,
tài liệu hồ sơ vụ án...
Thứ hai, đối tượng của dẫn độ là người thực hiện hành vi phạm tội đang có
mặt ở một quốc gia (quốc gia được yêu cầu dẫn độ) về quốc gia (quốc gia yêu cầu
dẫn độ) để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt. Cũng cần lưu ý là
tội để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án đối với người đó (như đã
phân tích ở phần trên) thì “chế định dẫn độ” là khái niệm pháp lý để chỉ hệ thống
các quy phạm pháp lý điều chỉnh hoạt động dẫn độ giữa các quốc gia với nhau
trong quan hệ quốc tế. Chế định pháp luật hay định chế pháp luật hoặc chế định là
tập hợp một nhóm quy phạm pháp luật có đặc điểm giống nhau để điều chỉnh nhóm
quan hệ xã hội tương ứng trong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều ngành luật. Chế
định có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Nghĩa chung và rộng là các
yếu tố cấu thành cơ cấu pháp lý của thực tại xã hội, nghĩa hẹp là tổng thể các quy
phạm, quy tắc của một vấn đề pháp lý.
Trong các giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của các cơ sở
đào luật ở Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về chế định pháp luật: “Chế định pháp
luật là nhóm những quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội
cùng loại có liên hệ mật thiết với nhau” [46, tr.335] hoặc “Chế định pháp luật bao
gồm một số quy phạm có những đặc điểm chung giống nhau, nhằm điều chỉnh một
nhóm quan hệ xã hội tương ứng” [39, tr 195]… Trên cơ sở cách tiếp cận này thì chế
định dẫn độ tội phạm được hiểu là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan
hệ dẫn độ tội phạm giữa các quốc gia, chỉ ra phạm vi tồn tại của các quy định làm
cơ sở cho việc dẫn độ giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Do đặc trưng của
hoạt động dẫn độ thể hiện nội dung ngoài biên giới của các quốc gia nên chế định
dẫn độ tội phạm mang tính tổng hợp vừa bao gồm các quy phạm pháp luật quốc tế
vừa bao gồm các quy phạm của quốc gia.
Trong khoa học luật hình sự và khoa học luật quốc tế, các nhà khoa học còn
có nhiều cách hiểu khác nhau về chế định dẫn độ. Có quan điểm cho rằng, dẫn độ là
chế định thuộc ngành luật nhà nước hoặc ngành luật hành chính, vì quyết định về
13
vấn đề dẫn độ thường không phải là Toà án, mà là Chính phủ hoặc một cơ quan
hành pháp nào đó của Chính phủ. Có quan điểm cho rằng, dẫn độ là chế định thuộc
độ, mà các quốc gia còn tiến hành dẫn độ cho nhau dựa trên nguyên tắc có đi có lại
khi chưa hoặc không thể ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến dẫn độ. Vì vậy,
bên cạnh các điều ước quốc tế về dẫn độ giữa các quốc gia còn có các quy phạm
pháp luật quốc tế chung được sử dụng làm cơ sở cho các thỏa thuận dẫn độ đối với
từng trường hợp cụ thể khi giữa các quốc gia chưa có hiệp định về dẫn độ.
Từ phân tích trên có thể định nghĩa chế định dẫn độ như sau: Chế định dẫn
độ là tổng hợp các quy pháp phạm pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia điều
chỉnh hoạt động dẫn độ giữa các quốc gia, trong đó, một nước (nước được yêu cầu)
chuyển giao người phạm tội đang có mặt trên lãnh thổ của mình cho nước khác
(nước yêu cầu) để nước được chuyển giao tiến hành xét xử hoặc thi hành hình phạt
đối với người đó.
Định nghĩa này phản ánh những đặc trưng sau của chế định dẫn độ:
a. Chế định dẫn độ bao gồm tổng hợp các qui phạm pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia
Trong khoa học pháp lý quốc tế có những quan điểm khác nhau về nguồn
của chế định dẫn độ tội phạm, nói cách khác là cơ sở của dẫn độ. Đây là vấn đề
phức tạp và chỉ khi xác định được rõ cơ sở của dẫn độ thì mới xác định được một
quốc gia có nghĩa vụ dẫn độ khi có yêu cầu hay không. Các nhà nghiên cứu về vấn
đề này đã đưa ra nhiều quan điểm về cơ sở của dẫn độ. Nhóm quan điểm thứ nhất
cho rằng cơ sở của dẫn độ chính là các điều ước quốc tế. Theo đó, các quốc gia
không có quyền cũng như nghĩa vụ phải dẫn độ người phạm tội nếu không có một
văn bản pháp lý quốc tế do quốc gia đó ký kết hoặc thừa nhận quy định quốc gia
đó có trách nhiệm trong việc dẫn độ tội phạm. Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng,
cơ sở của dẫn độ tội phạm là pháp luật của mỗi quốc gia. Trong hệ thống pháp luật
của mỗi nước, các quốc gia tự xây dựng cho mình những quy định về dẫn độ,
trong đó chỉ ra những tội phạm bị dẫn độ, các trường hợp dẫn độ và từ chối dẫn
độ, trình tự, thủ tục của việc dẫn độ… Khi có các vấn đề về dẫn độ tội phạm phát
sinh, các quốc gia sẽ dựa vào những quy định này để giải quyết các yêu cầu liên
được yêu cầu sẽ tiến hành dẫn độ một cá nhân đang có mặt trên lãnh thổ quốc gia
mình cho nước yêu cầu nhằm thực hiện việc xét xử hoặc thi hành bản án đã có hiệu
lực pháp luật đối với cá nhân đó theo pháp luật của quốc gia đưa ra yêu cầu. Như đã
16
phân tích, dẫn độ được hình thành từ nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia trong việc
đấu tranh phòng chống tội phạm. Theo đó, các quy định về dẫn độ thường thể hiện
tính ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa các quốc gia trong hoạt động dẫn độ. Hiện
nay, các quy định của pháp luật về dẫn độ vừa tồn tại trong pháp luật quốc tế vừa tồn
tại trong pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của quốc gia. Như vậy, nghĩa vụ dẫn độ
là một trong những nội dung điều chỉnh của chế định dẫn độ.
Đối tượng của dẫn độ
Việc quy định về đối tượng dẫn độ sẽ giúp các quốc gia thành viên trong các
điều ước quốc tế đưa ra yêu cầu dẫn độ phù hợp với loại tội phạm mà các quốc gia
đã xác định trong các điều ước. Thông thường các điều ước quốc tế chuyên môn sẽ
quy định đối tượng dẫn độ cụ thể là các loại tội phạm liên quan đến lĩnh vực chuyên
môn đó. Còn các điều ước quốc tế khác cũng sẽ ghi nhận đối tượng dẫn độ theo sự
thoả thuận của các quốc gia thành viên.
Điều kiện dẫn độ
Tuy dẫn độ tội phạm là nghĩa vụ quốc gia, nhưng khi tiến hành nó phụ thuộc
vào những điều kiện chung của pháp luật quốc tế cũng như những điều kiện trong
thỏa thuận riêng giữa các quốc gia. Những điều kiện đó thể hiện tập trung rõ nét
nhất ở các nguyên tắc của dẫn độ, như: Nguyên tắc chủ quyền quốc gia, nguyên tắc
có đi có lại, nguyên tắc tội phạm kép, nguyên tắc không dẫn độ công dân nước
mình, nguyên tắc không dẫn độ tội phạm chính trị… Ngoài ra, trong mỗi điều ước
quốc tế song phương, đa phương cụ thể về dẫn độ, các quốc gia còn đưa ra những
trường hợp mà quốc gia được yêu cầu có quyền từ chối dẫn độ như không dẫn độ
người phạm tội quân sự, người bị buộc tội hoặc kết án hay bất kỳ tội nào khác mà vì
Trong khuôn khổ luật quốc tế đã có Công ước về chuyển giao cá nhân bị kết
án tù giam được thông qua năm 1978 tại Beclin, Công ước Châu Âu về chuyển giao
tù phạm thông qua năm 1983, Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng đã thông qua hiệp
ước quốc tế mẫu về chuyển giao từ phạm nước ngoài năm 1985 [21, tr.342]. Theo
các văn bản này, việc chuyển giao phạm nhân quốc tế cần đảm bảo các điều kiện
sau: thứ nhất, phạm nhân phải là công dân của nước nơi anh ta sẽ chuyển về; thứ
hai, phạm nhân đã có bản án có hiệu lực pháp luật; thứ ba, việc chuyển giao chỉ
được thực hiện khi có sự đồng ý của nước có tòa án đưa ra phán quyết và nước mà
18