Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự - Pdf 29



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐĂNG DŨNG

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN
HÌNH SỰ

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


7
1.1.1.
Khái niệm biện pháp ngăn chặn
7
1.1.2.
Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
11
1.2.
Vị trí, vai trò của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
14
1.2.1.
Vị trí các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự
14
1.2.2.
Vai trò của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự
17
1.3.
Căn cứ, nội dung, điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
18
1.3.1.
Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự
18
1.3.2.
Nội dung áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự

Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự của Cộng hòa Liên bang Đức
33

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
36
2.1.
Quy định của pháp luật việt nam về biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
36
2.1.1.
Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp ngăn chặn
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trước năm 2003
36
2.1.2.
Quy định của pháp luật Việt Nam về các biện pháp ngăn
39 chặn theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
2.2.
Thực trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
54
2.2.1.
Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự

trong quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn
80
3.2.4.
Tăng cường mối quan hệ phối hợp, trao đổi giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan, tổ chức hữu
quan
84
3.2.5.
Các giải pháp khác
87

KẾT LUẬN
92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
94
1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Các biện pháp ngăn chặn (BPNC) là một chế định quan trọng của
pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), là phương tiện cưỡng chế nhà nước có hiệu
quả nhất để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho việc giải quyết
vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặt khác, nó còn là
phương tiện pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đối với
người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cả
người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, cũng như thân
nhân của họ.
Việc áp dụng các BPNC đối với người có hành vi phạm tội được xem

nghiên cứu nội dung các BPNC với phạm vi khác nhau. Riêng dưới góc độ
luật TTHS, các công trình nghiên cứu về các BPNC khá phong phú và đa
dạng ở nước ngoài, nhất là các nước như Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật Bản,
Đức. Việc tiếp cận, nghiên cứu các công trình về các BPNC dưới góc độ luật
TTHS cũng rất thuận lợi, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế và hợp tác
trên nhiều lĩnh vực như hiện nay. Đây là điều kiện thuận lợi để nghiên cứu, so
sánh quy định về các BPNC trong BLTTHS Việt Nam với BLTTHS các
nước, trên cơ sở đó có sự tham khảo nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định của
pháp luật Việt Nam cho hợp lý, hội nhập được với thế giới.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp luật TTHS,
cũng có các công trình nghiên cứu về việc áp dụng các BPNC trong điều tra
hình sự. Bởi lẽ việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn điều tra tội phạm để hình
thành lý luận về phương pháp, chiến thuật điều tra là một đòi hỏi bức thiết đối
với mọi quốc gia. Tuy nhiên, đến nay trên thế giới chưa có nhiều công trình
khoa học nào nghiên cứu về BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự một
cách cơ bản, hệ thống.
3

Ở trong nước, trên các góc độ, khía cạnh nghiên cứu khác nhau đã có
một số đề tài, công trình khoa học đề cập có liên quan đến đề tài. Cụ thể:
- Giáo trình: Các BPNC là một chế định rất quan trọng trong
BLTTHS, vì vậy đã có rất nhiều giáo trình, sách tham khảo nghiên cứu, đề
cập đến vấn đề này dưới góc độ luật TTHS như: giáo trình Luật Tố tụng hình
sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội; giáo trình Luật Tố tụng hình sự
Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật
Tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; Các biện pháp ngăn
chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb Công an nhân dân,
năm 1995 của Tiến sĩ Nguyễn Vạn Nguyên; Những biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997 của Thạc sĩ
Nguyễn Mai Bộ; Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự - những vấn

nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện và có hệ thống về các BPNC trong
giai đoạn điều tra hình sự ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận về các BPNC và thực tiễn áp dụng các
BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp
có tính khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các BPNC trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những nhận thức cơ bản về các BPNC trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự (khái niệm, đặc điểm liên quan, cơ sở áp dụng ).
- Đánh giá đúng thực trạng áp dụng các BPNC trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng các
BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
5

4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các
BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận văn nghiên cứu về áp dụng các BPNC trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2003 (thời điểm ban hành
BLTTHS năm 2003) đến nay.
- Về địa bàn: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi toàn quốc, tập trung
chủ yếu ở các tỉnh, thành phố đã xảy ra nhiều án hình sự như: thành phố Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nguyên, Quảng Ninh, Hải Phòng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ


7

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn
Để thực hiện nhiệm vụ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm,
phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, BLTTHS cho
phép cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có
các biện pháp cưỡng chế TTHS.
Các biện pháp cưỡng chế được hầu hết các giáo trình luật TTHS Việt
Nam chia ra làm ba nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất, các BPNC, gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi
nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Nhóm thứ hai, các biện pháp thu thập chứng cứ, gồm: khám xét người,
chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; xem xét dấu vết trên thân thể; thu giữ thư tín,
điện tín, bưu kiện, bưu phẩm; tạm giữ đồ vật là vật chứng, tài liệu có liên
quan trực tiếp đến vụ án.
Nhóm thứ ba, các biện pháp bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án, gồm: kê biên tài sản; áp giải bị can, bị cáo, dẫn giải
người làm chứng; tạm đình chỉ chức vụ của bị can; những biện pháp kỷ luật
người vi phạm trật tự phiên tòa.
Các BPNC thuộc nhóm thứ nhất, chiếm vị trí trung tâm và có vai trò
quan trọng, vì nó có khả năng ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, việc bỏ
trốn, tiêu hủy chứng cứ, ngăn ngừa phạm tội mới và bảo đảm cho hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhằm góp phần hạn chế tội phạm và các

9

Bộ luật TTHS Cộng hòa Liên bang Đức có sử dụng cụm từ BPNC tại
Mục 7 - Giám sát tư pháp và BPNC là giám sát tư pháp và tạm giam, nhưng
cũng không đưa ra khái niệm BPNC [46].
Các chuyên gia luật học của nước ngoài đã nêu ra những khái niệm
khác nhau về BPNC, phản ánh được khái quát những đối tượng nghiên cứu
mà chúng ta cần tham khảo, tiếp thu, như: quan niệm về bản chất pháp lý của
BPNC, sự cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa, quyền lựa chọn BPNC
trong TTHS.
Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng có nhiều khái niệm khác
nhau về BPNC, như:
- Từ điển Luật học giải thích BPNC là biện pháp cưỡng chế về mặt tố
tụng hình sự áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa
bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn
hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn
tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án [27, tr.69]. Từ điển đã xác định đúng đối tượng và mục đích
áp dụng các BPNC, nhưng không chỉ ra chủ thể có quyền áp dụng chúng.
- Một số khái niệm khác về BPNC của các nhà khoa học nghiên cứu
pháp luật, cán bộ làm công tác thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội
phạm được công bố trong các giáo trình Luật TTHS Việt Nam, sách chuyên
khảo, tạp chí chuyên ngành luật học. Các khái niệm đó đều dựa trên cơ sở
phân tích nội dung của các quy phạm pháp luật tại Điều 61 BLTTHS năm
1988 và Điều 79 BLTTHS năm 2003, cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong
công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
- Điều 79 BLTTHS quy định những biện pháp ngăn chặn bao gồm:
bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để đảm bảo. Đây là những biện pháp cưỡng chế cần thiết của TTHS nhằm
tước bỏ hoặc hạn chế một phần các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp

- Mục đích áp dụng: ngăn chặn đối tượng nói trên phạm tội và bảo
đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự.
11

Từ sự phân tích ở trên, ta có thể đưa ra khái niệm BPNC như sau: Biện
pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa do
người có quyền hạn được quy định trong Bộ luật TTHS áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, khi có căn cứ áp dụng
nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án hình sự.
Các BPNC trong Bộ luật TTHS được sử dụng hầu như đối với mọi vụ
án hình sự. Chúng có tác dụng ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc cản trở
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, bảo đảm cho quá trình giải
quyết vụ án theo thời hạn đã quy định, nên có ý nghĩa rất to lớn trong công
cuộc phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm thông qua các khía cạnh, như:
Thứ nhất, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn thể
hiện sự chuyên chính của Nhà nước trong đấu tranh chống tội phạm bằng sức
mạnh cưỡng chế.
Thứ hai, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn có ý
nghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho cả quá trình xử lý vụ án.
Thứ ba, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn thể
hiện tính ưu việt của Nhà nước XHCN.
Thứ tư, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn có ý
nghĩa to lớn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do cá nhân được Hiến
pháp, pháp luật ghi nhận.
1.1.2. Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục
vụ nhu cầu của con người. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là
hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm. Hoạt động điều tra được nhìn nhận
và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào quan điểm chính trị,

vụ án hình sự. Trên thực tế hoạt động điều tra được tiến hành trong tất cả các
giai đoạn tố tụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự với những
mục đích khác nhau để xác định sự thật khách quan của vụ án.
13

Cách hiểu thứ hai coi hoạt động điều tra là hoạt động của cơ quan điều
tra, viện kiểm sát và tòa án nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.
Điểm khác biệt lớn nhất của quan điểm này so với quan điểm thứ nhất là đã
nhìn nhận chủ thể của hoạt động điều tra rộng hơn. Tuy nhiên, cách hiểu thứ
hai lại nhầm lẫn giữa các hoạt động của cơ quan điều tra với hoạt động điều
tra; giữa chức năng của từng hoạt động điều tra với chức năng của các cơ
quan điều tra và viện kiểm sát.
Về mặt luật thực định, ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm
pháp lý về "hoạt động điều tra" và cũng chưa được giải thích chính thức bởi
các cơ quan có thẩm quyền. Trong tất cả các Bộ luật Tố tụng hình sự, chưa có
điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về hoạt động điều tra.
Mặc dù hoạt động điều tra đã được quy định trong các văn bản pháp
luật tố tụng hình sự, hoạt động điều tra được các cơ quan tố tụng hình sự thực
hiện thường xuyên trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng khoa
học pháp lý và thực tiễn hiện nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống
nhất nhận thức về hoạt động điều tra, vẫn có sự nhầm lẫn giữa các khái niệm
điều tra, thẩm quyền điều tra vụ án và hoạt động điều tra; giữa giai đoạn điều
tra với hoạt động điều tra. Chính vì vậy mà vô tình đồng nhất hoạt động điều
tra với các hoạt động khác của cơ quan điều tra, bó hẹp phạm vi chủ thể,
phạm vi thời gian của hoạt động điều tra [1].
Tóm lại, từ những nhận định trên ta có thể chỉ ra khái niệm của giai
đoạn điều tra vụ án hình sự như sau:
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là quá trình áp dụng pháp luật nhằm
làm rõ sự thật khách quan toàn diện về vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều
tra, cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động theo quy định của Bộ luật TTHS

sửa đổi năm 2013) quy định:
Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được
pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra
tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào
15

khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân,
quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường
hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định [33].
Trong thực tế nhiều vụ án xảy ra nếu không áp dụng các BPNC bắt,
tạm giữ, tạm giam đối với bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn rất lớn cho công tác
điều tra, truy tố và xét xử, cụ thể như người phạm tội có thể bỏ trốn khỏi nơi
cư trú sau khi gây án nhằm mục đích trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật;
người phạm tội sau khi gây án có thể có những hành động gây cản trở hoạt
động điều tra của các cơ quan THTT, dẫn đến hoạt động điều tra gặp nhiều
khó khăn hơn; nhiều bị can, bị cáo lại không có nơi cư trú rõ ràng, hoặc luôn
thay đổi chỗ ở, trong trường hợp này nếu không bắt, tạm giữ, tạm giam bị
can, bị cáo sẽ bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử, mặc
dù phạm tội ít nghiêm trọng; người phạm tội sau khi gây án có thể tẩu tán tài
sản, tang vật do phạm tội mà có gây khó khăn cho công tác thu hồi lại tài sản
phạm tội, cũng như có những hành động nhằm che giấu tội phạm; người
phạm tội sau khi gây án xong nếu không bắt tạm giữ, giam sẽ có thời gian để
xóa dấu vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, bịt đầu mối hay tìm cho mình những
chứng cứ ngoại phạm hòng trốn tránh tội; người phạm tội có thể tiếp tục
phạm tội mới nếu không áp dụng các BPNC ngay đối tượng phạm tội sẽ gây
nguy hiểm cho xã hội
Chính vì vậy, BLTTHS quy định về các BPNC là có ý nghĩa về mặt
lập pháp, thể hiện vị trí, vai trò hết sức quan trọng, đảm bảo cho việc đấu
tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, đảm bảo hoạt động của các cơ quan

khoa học cho việc hoàn thiện các chế định các BPNC và phục vụ cho các cơ
quan chức năng trong việc hướng dẫn các quy định về các biện pháp này một
cách thống nhất. Nghiên cứu các BPNC có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn
xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN nước ta hiện nay.
17

Qua phân tích như trên cho thấy vị trí quan trọng của các BPNC trong
giai đoạn điều tra vụ án hình sự, điều đó đảm bảo cho công tác điều tra, truy
tố và xét xử.
1.2.2. Vai trò của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự
Vai trò của các BPNC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung
được quy định tại Điều 79, BLTTHS năm 2003:
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can,
bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố xét xử hoặc sẽ tiếp tục
phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, CQĐT, VKS, Tòa án trong
phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy
định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những BPNC sau: bắt, tạm
giữ, tạm giam… [28].
Ở giai đoạn điều tra, việc áp dụng biện pháp bắt người nhằm kịp thời
ngăn chặn hành vi phạm tội; việc áp dụng biện pháp tạm giữ nhằm xác
định có căn cứ khởi tố bị can hay không đối với người bị bắt khẩn cấp,
phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc để chuyển giao
người bị bắt theo lệnh truy nã cho CQĐT đã ra lệnh truy nã; việc bắt bị can,
bị cáo để tạm giam nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án và thời hạn áp dụng nó căn cứ vào bốn loại tính chất tội phạm đã
được quy định tại Điều 8 BLHS, còn việc áp dụng các biện pháp khác, như:
cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
lại có mục đích bảo đảm sự có mặt của bị can khi CQĐT triệu tập theo các
điều 91, 92, 93 BLTTHS.

người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm
trọng theo điểm a khoản 1 Điều 81; b) Trường hợp bắt quả tang: khi người đó
đang thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội phạm, thì bị phát hiện hoặc
bị đuổi bắt theo khoản 1 Điều 82.
19

Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đây là căn cứ dự báo được dựa trên những
tài liệu có các tình tiết và hành vi của bị can, bị cáo, như: a) Nơi cư trú của họ
không có hoặc không rõ ràng, sự vắng mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ
quan (người) THTT, đã di chuyển khỏi nơi cư trú…; b) Tính chất của tội
phạm mà bị can, bị cáo đã thực hiện thuộc vào loại tội rất nghiêm trọng, đặc
biệt nghiêm trọng. Về tâm lý, mức hình phạt của các loại tội phạm này là rất
cao, nên người phạm tội luôn có tâm lý ám ảnh, sợ hãi, dẫn đến hành vi xóa
dấu vết, tiêu hủy tài liệu, đối phó với CQĐT và bỏ trốn…; c) Các hành vi của
họ được diễn ra sau khi tội phạm đã thực hiện, như: mua chuộc, đe dọa người
bị hại, người làm chứng, xóa dấu vết, tiêu hủy chứng cứ, thông đồng với nhau
khai báo sai sự thật…
Thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội.
Đây là căn cứ dự báo và có thể xác định trên hai tiêu chí, như: a) Về nhân
thân bị can, bị cáo là những đối tượng có nhân thân xấu. Ví dụ: bị can, bị cáo
là người có ý thức chống đối giai cấp sâu sắc, những phần tử thuộc diện lưu
manh, côn đồ, hung hãn… Bị can, bị cáo là những đối tượng phạm tội đã có
nhiều tiền án, tiền sự hoặc những đối tượng phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp; b) Về hành vi của bị can, bị cáo: đe dọa trả thù người tố giác, người bị
hại, người làm chứng; có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện cho việc phạm tội
và xét thấy khả năng thực hiện được những hành vi này.
Thứ tư, để bảo đảm thi hành án. Thi hành bản án và quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan trực tiếp đến người bị kết án. Sự có
mặt của họ rất cần thiết để cho quyết định của Tòa án có hiệu lực trên thực tế.

đình, bản thân họ là người lao động chính duy nhất trong gia đình hoặc do
nhu cầu công vụ theo Điều 61 BLHS; c) Tình trạng sức khỏe, phụ nữ có thai
hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng
theo Điều 88 BLTTHS; d) Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
21

vi phạm tội, nhân thân của bị can, bị cáo theo Điều 92 BLTTHS và tình trạng
tài sản theo Điều 93 BLTTHS.
Khi giải quyết vụ án hình sự, theo các căn cứ chung được nêu ở trên,
người THTT còn phải xem xét những căn cứ khác được quy định tại một BPNC
cụ thể trong BLTTHS để quyết định lựa chọn một BPNC nào đó phù hợp với
quy định về: tính chất của tội phạm, nhân thân đối tượng và điều kiện áp dụng.
Việc quyết định áp dụng đó phải "tiết kiệm", có nghĩa là chỉ cần áp dụng một
BPNC có mức độ ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam mà vẫn đạt được cả hai
mục đích của các BPNC đã được phân tích ở trên, đồng thời, Nhà nước không phải
tốn kém nhiều chi phí vật chất cho những thi hành việc bắt, tạm giữ, tạm giam.
Điều 79 BLTTHS hiện hành có đề cập đến bốn căn cứ chung nói trên,
nhưng không chính xác về căn cứ và mục đích. Trong đó, có hai mục đích bị
hiểu nhầm thành căn cứ là: a) Khi cần thiết để kịp thời ngăn chặn tội phạm; b)
Để bảo đảm thi hành án.
Như vậy, căn cứ áp dụng các BPNC là những tài liệu, chứng cứ mang
tính dự báo về khả năng bị can, bị cáo thực hiện các hành vi cản trở điều tra,
truy tố, xét xử, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở thi hành án. Khi áp dụng BPNC
phải dựa vào một trong những căn cứ vừa nêu trên chứ không phải bất kỳ
trường hợp nào bị can, bị cáo cũng đều bị áp dụng BPNC. Việc có hay không
áp dụng BPNC và áp dụng BPNC nào tùy thuộc vào tính chất mức độ của
hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của bị can, bị cáo và điều kiện, khả
năng quản lý họ của các cơ quan THTT.
Đối với từng BPNC, luật TTHS còn quy định những căn cứ cụ thể cho
từng biện pháp, tránh sự áp dụng tràn lan không có căn cứ.

trong các giai đoạn trước khi khởi tố của VKS và xét xử của Tòa án, cùng với
các giai đoạn TTHS khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và
chống tội phạm trong toàn xã hội.

Trích đoạn Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Trung Quốc Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức KẾT LUẬN CHƢƠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trƣớc năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status