phân biệt tư cách của những người tham gia tố tụng theo luật tố tụng hình sự việt nam - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 37 (2012-2014)

Đề Tài

PHÂN BIỆT TƯ CÁCH
CỦA NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Mạc Giáng Châu
Bộ môn Tư pháp

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Phong Trần
MSSV: B110149
Lớp: LK1163B2

Cần Thơ, 4/2014


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………

1.2. Cơ sở lý luận về tư cách người tham gia tố tụng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .19
1.2.1. Một số nguyên tắc cơ bản liên quan đến việc phân biệt tư cách của
những người tham gia tố tụng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .19
1.2.1.1. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. . . . . . . 19
1.2.1.2. Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 19
1.2.1.3. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .20
1.2.2. Ý nghĩa của việc phân biệt tư cách của những người tham gia tố tụng. . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .21
1.2.2.1. Xác định làm rõ sự thật của vụ án. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
1.2.2.2. Giải quyết đúng đắn quyền và lợi ích hợp pháp của người tham
gia tố tụng có liên quan đến hành vi phạm tội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .21
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

CHƯƠNG 2. DẤU HIỆU ĐỂ PHÂN BIỆT TƯ CÁCH GIỮA NHỮNG
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
MÀ TRONG THỰC TIỄN DỄ BỊ NHẦM LẪN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .23
2.1. Phân biệt căn cứ vào thiệt hại đã xảy ra và mối quan hệ giữa hậu quả
với hành vi phạm tội. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
2.1.1. Người bị hại và nguyên đơn dân sự. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .23
2.1.2. Người bị hại và người có quyền lợi liên quan đến vụ án. . . . . . . . . . . . . . . . . 25
2.1.3. Người có quyền lợi liên quan đến vụ án và nguyên đơn dân sự. . . . . . . . 29

Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

3.2. Một số biện pháp khắc phục. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .60
3.2.1. Đối với người bị hại. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .61
3.2.2. Đối với nguyên đơn dân sự. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 62
3.2.3. Đối với bị đơn dân sự. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 62
3.2.4. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. . . . . . . . . . . . . . .63
3.2.5. Đối với người là chứng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 64
3.2.6. Đối với người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .65

KẾT LUẬN. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người tham gia tố tụng có vai trò nhất định trong tố tụng hình sự, tuy họ

Luật tố tụng Hình sự Việt Nam”.
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
1


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

2. Phạm vi nghiên cứu
Trong vụ án hình sự, những người tham gia tố tụng được xác định với nhiều
tư cách khác nhau, tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể. Theo đó, có thể là người bị tạm
giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào chữa; người bảo vệ
quyền lợi của đương sự; người giám định; người phiên dịch. Ngoài ra, trong từng
trường hợp cụ thể còn có những người như: người đại diện hợp pháp của người bị
tạm giữ, của bị can, của bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại, của
nguyên đơn dân sự, của bị đơn dân sự, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án. Trong một vụ án cụ thể không cùng một lúc có đầy đủ những người tham
gia tố tụng với các tư cách này, nhưng trong tất cả các vụ án hình sự thì buộc phải
có bị can, bị cáo. Theo từng tư cách cụ thể, pháp luật tố tụng hình sự cũng quy định
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của từng người khi tham gia tố tụng, nhưng để xác
định quyền và nghĩa vụ đối với vụ án thì có người chỉ có quyền, có người chỉ có
nghĩa vụ, có người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ. Do vậy, khi giải quyết một vụ án
cụ thể, việc xác định chính xác tư cách của người tham gia tố tụng đóng vai trò rất
quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên,
trong thực tế, do cách hiểu không thống nhất nên vẫn có một số tư cách người tham

đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện một số quy định của pháp luật, tạo điều kiện
cho việc áp thống nhất, đúng đắn và khách quan.
4. Phương pháp nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu nội dung quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự
năm 2003 về tư cách người tham gia tố tụng, các giáo trình, tài liệu, sách báo, các
văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật… và tham khảo các tài liệu pháp lý có liên
quan, đề tài sẽ được nghiên cứu bằng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp
phân tích, so sánh và phương pháp đàm thoại, trao đổi trực tiếp với những cán bộ có
nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ án hình sự, từ đó đánh giá, rút ra kết
luận và đề xuất phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về việc xác định tư cách người tham gia tố
tụng.
- Chương 2: Dấu hiệu để phân biệt tư cách giữa những người tham gia tố tụng
theo quy định của pháp luật mà trong thực tiễn dễ bị nhầm lẫn.
- Chương 3: Một số tồn tại và giải pháp đề xuất.
Đề tài “Phân biệt tư cách của những người tham gia tố tụng theo Luật tố
tụng Hình sự Việt Nam” rất phức tạp, nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến
thức sâu, rộng. Do bản thân người viết chưa có kinh nghiệm thực tiễn, vốn kiến
thức hiểu biết ít và điều kiện nghiên cứu về lý luận có hạn nên chất lượng của đề tài
chắc chắn có rất nhiều hạn chế và khiếm khuyết cả về nội dung lẫn hình thức. Tuy
bản thân là một sinh viên học văn bằng 2, nhưng đây là lần đầu tiên làm quen với
một đề tài nghiên cứu ở lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, vì vậy, hạn chế, thiếu
sót và sai lầm là điều không thể tránh khỏi. Người viết rất mong nhận được ý kiến
đánh giá, góp ý của thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần

sản của cá nhân, tổ chức). Đây là chế định pháp luật dân sự được giải quyết bằng
pháp luật tố tụng hình sự1. Trong quan hệ bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra,
người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường, yêu cầu trả lại tài sản và họ có thể là
người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án hoặc
người đại diện hợp pháp của những người này. Còn bên có trách nhiệm phải bồi
thường, phải trả lại tài sản, thì họ có thể là bị can, bị cáo, người có nghĩa vụ liên
quan đến vụ án, bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của những người này.
Thực tế việc giải quyết một vụ án hình sự đã không ít trường hợp xảy ra sự nhầm
lẫn trong việc xác định tư cách giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người đại

1

Điều 28 Bộ luật tố tụng Hình sự 2003

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
4


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

diện hợp pháp của bị can, bị cáo. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu những quy định của
pháp luật tố tụng hình sự về tư cách của những người tham gia tố tụng này.
1.1.1. Khái niệm người tham gia tố tụng
Khi xét xử vụ án hình sự, ngoài những người tiến hành tố tụng thì trong vụ

Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr. 49.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
5


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

Ví dụ: Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội
phạm gây ra; Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội
phạm gây ra; Người có quyền lợi liên quan đến vụ án là người có lợi ích vật chất
hoặc tinh thần bị xâm phạm có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Thiệt hại
của người bị hại, của nguyên đơn dân sự và lợi ích của người có quyền lợi liên quan
đến vụ án được pháp luật bảo vệ.
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người bị tình nghi phạm tội, các
quyền của họ khi tham gia tố tụng hình sự được pháp luật bảo vệ.
- Người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý là người bắt buộc phải tham
gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Họ có trách nhiệm phải tham
gia tố tụng, nếu họ không thực hiện đúng các yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng
hoặc người tiến hành tố tụng đặt ra thì họ phải chịu các biện pháp cưỡng chế của
Nhà nước hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Khi tham
gia tố tụng, những người này không có quyền lợi cá nhân mà chỉ là những người có
nghĩa vụ do cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập hoặc trưng cầu để giải quyết vụ án
hình sự3.
Ví dụ: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người bị tình nghi phạm tội,

Luận văn tốt nghiệp

hành tố tụng làm rõ những tình tiết liên quan đến vụ án, góp phần đảm bảo tính
chính xác, khách quan, bảo vệ pháp chế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Trong một số trường hợp nhất định, sự tham gia của những người này là bắt buộc
để đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng trong hoạt động tố tụng4.
Ví dụ: Người bào chữa là người tham gia tố tụng để làm sáng tỏ những tình
tiết của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp họ những hoạt động pháp lý cần thiết.
Trong trường hợp bị can, bị cáo bị khởi tố hoặc xét xử về tội có khung hình phạt
cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự hoặc bị can, bị cáo là
người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì sự tham
gia của người bào chữa là bắt buộc, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp
của họ không mời người bào chữa thì người bào chữa sẽ được các cơ quan chức
năng hoặc tổ chức có trách nhiệm cử ra; Người bảo vệ quyền lợi của đương sự là
người tham gia tố tụng (có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác)
có kiến thức pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người bị hại, của nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Người
bảo vệ quyền lợi của đương sự có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy
định để góp phần làm rõ sự thật của vụ án và giúp đương sự về mặt pháp lý nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
1.1.1.2. Đặc điểm về tư cách người tham gia tố tụng
Người tham gia tố tụng khi tham gia vào quan hệ tố tụng sẽ thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình với tư cách cá nhân hoặc tổ chức không mang quyền lực nhà
nước.5
Trong việc giải quyết vụ án hình sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể được
người tiến hành, cơ quan tiến hành tố tụng xác định tư cách tham gia tố tụng là
người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự;
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; người bào
chữa; người bảo vệ quyền lợi của đương sự; người giám định; người phiên dịch.

tiến hành tố tụng như: Chủ tọa phiên tòa, Thư ký phiên tòa... là những người mang
quyền lực nhà nước, còn người công an viên được xác định là bị cáo và không còn
mang quyền lực nhà nước.
Đối với vụ án chống người thi hành công vụ. Nếu các bị cáo bị truy tố về tội
“chống người thi hành công vụ” thì người thi hành công vụ không phải là người
tham gia tố tụng trong vụ án hình sự. Tuy nhiên, nếu người thi hành công vụ bị gây
thương tích có tỷ lệ thương tật 50% sức khỏe thì người thi hành công vụ được xác
định tư cách tham gia tố tụng là người bị hại trong vụ án nhưng là người bị hại đối
với bị cáo phạm tội “cố ý gây thương tích” chứ không phải người bị hại đối với bị
cáo phạm tội “chống người thi hành công vụ”. Trong trường hợp này, người thi
hành công vụ tham gia tố tụng hình sự với tư cách một cá nhân và không phải là
người mang quyền lực nhà nước (người thi hành công vụ) trong vụ án “cố ý gây
thương tích” ở trên.
Một ví dụ khác, trên cơ sở những quy định Bộ luật Dân sự 2005 thì bị đơn
dân sự trong tố tụng hình sự có thể là:
- Cơ quan, tổ chức mà theo quy định của pháp luật phải bồi thường những
thiệt hại do hành vi phạm tội của bị can, bị cáo là cán bộ, nhân viên của cơ quan, tổ
chức mình gây ra.
Cơ quan, tổ chức này tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn dân sự trong vụ
án hình sự và trong quan hệ tố tụng này, cơ quan, tổ chức không còn mang quyền
lực nhà nước (nếu là cơ quan, tổ chức có mang quyền lực nhà nước), đồng thời có
trách nhiệm phải bồi thường những thiệt hại do hành vi phạm tội của bị can, bị cáo
là cán bộ, nhân viên của cơ quan, tổ chức mình gây ra.
- Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm
quyền của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
8

Theo Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật tố tụng Hình sự thì người bị hại là người bị
thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. Có ý kiến cho rằng, “tội
phạm” ở đây là hành vi của người phạm tội trong vụ án hình sự đã gây ra những
thiệt hại thể chất, tinh thần hoặc tài sản và ai là người bị thiệt hại đều là người bị hại
trong vụ án hình sự. Ví dụ: Trong vụ án gây rối trật tự công cộng có hành vi phá
phách làm hư hỏng một số tài sản, nhưng hành vi này chưa đến mức cấu thành tội
“cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng người bị hư hỏng tài sản vẫn là người bị hại, vì họ
là người bị thiệt hại về tài sản do hành vi của người phạm tội gây ra.
Cách hiểu như trên là không đúng, đã đồng nhất khái niệm “tội phạm” với
“hành vi vi phạm” của người phạm tội là một, vì trong quá trình thực hiện tội phạm,
người phạm tội không chỉ thực hiện một hoặc một số hành vi cấu thành một tội
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
9


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

phạm mà trong số những hành vi đó, có hành vi cấu thành tội phạm (hành vi phạm
tội), có hành vi chưa cấu thành tội phạm (hành vi vi phạm). Những hành vi cấu
thành tội phạm và hành vi đó đã gây ra những thiệt hại về thể chất, về tinh thần
hoặc về tài sản thì người bị thiệt hại mới là người bị hại trong vụ án hình sự6.
Các văn bản pháp luật trước đây cũng đã xác định cụ thể, rõ ràng về người bị
hại và khái niệm về người bị hại cũng giống như khái niệm được quy định trong Bộ
luật tố tụng Hình sự hiện hành. Để xác định là người bị hại thì thiệt hại mà tội phạm
đã gây ra phải là thiệt hại trực tiếp, là hậu quả của tội phạm (một dấu hiệu thuộc mặt


GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
10


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

hại được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại. Nội dung các
quyền của người này không khác nhiều so với nội dung các quyền quy định cho
người bị hại tại Điều 51 Bộ Luật tố tụng Hình sự. Do đó, trong trường hợp người bị
hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì
người đại diện hợp pháp có thể đại diện người bị hại để thực hiện quyền của người
bị hại8.
Trong trường hợp người bị hại được xác định là mất tích thì Bộ Luật tố tụng
Hình sự chưa có quy định cụ thể và người đại diện hợp pháp của họ có thể đại diện
người bị hại để thực hiện quyền của người bị hại hay không. Mặc khác, trường hợp
nếu không xác định được ai là người đại diện hợp pháp của người bị hại hoặc người
bị hại không còn ai là người đại diện hợp pháp thì Bộ Luật tố tụng Hình sự cũng
chưa có quy định cụ thể. Ngoài ra, nếu người đại diện hợp pháp của người bị hại có
quyền và nghĩa vụ mâu thuẫn với nhau thì quy định cũng không rõ ràng.
Tóm lại: Người bị hại phải là con người cụ thể chứ không phải là cơ quan, tổ
chức. Họ là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản. Người bị hại
là đối tượng tác động của tội phạm. Các thiệt hại về thể chất, về tinh thần, về tài sản
phải là thiệt hại do tội phạm gây ra, thiệt hại xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả
với hành vi phạm tội, phù hợp với mục đích của người phạm tội. Nếu đó là những

thiệt hại do tội phạm gây ra. Tuy nhiên, những thiệt hại về vật chất do tội phạm gây
ra không phải là đối tượng mà người phạm tội nhằm tác động tới và không phù hợp
với mục đích của họ.
Nguyên đơn dân sự còn là người tuy không bị người phạm tội trực tiếp xâm
hại, nhưng bị thiệt hại về vật chất vì tội phạm gây ra hoặc tuy bị người phạm tội
trực tiếp xâm hại đến tài sản, nhưng hành vi này chưa đến mức hoặc không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
hành vi khác.
Ví dụ: Do mẫu thuẫn với Trung từ trước, Quốc đánh Trung để trả thù trong
quán cơm làm hư hỏng chiếc tivi của chị Hoa. Quốc bi truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội “Cố ý gây thương tích”. Chị Hoa có đơn yêu cầu bồi thường chiếc tivi bị hư
hỏng. Rõ ràng chiếc tivi của chị Hoa bị hư hỏng không phải là đối tượng mà Quốc
nhằm hướng tới. Mục đích của Quốc chỉ nhằm gây thương tích cho Trung. Trong
vụ án này, Trung được xác định là người bị hại, chị Hoa tham gia tố tụng với tư
cách là nguyên đơn dân sự.
Thiệt hại đối với nguyên đơn dân sự là cá nhân không phải là tình tiết để
đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đồng thời cũng không
được xem là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội
khi quyết định hình phạt.
Nguyên đơn dân sự có thể đồng thời là người bị hại trong vụ án, trong trường
hợp này thì họ có cả quyền của người bị hại và quyền của nguyên đơn dân sự. Tuy
nhiên, họ chỉ sử dụng quyền của người bị hại khi tham gia tố tụng là đủ. Thiệt hại
trong trường hợp này là hậu quả tiếp theo mà người bị hại cần được khắc phục9.
Nếu nguyên đơn dân sự là người chưa thành niên hoặc là người có nhược
điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại diện hợp pháp có thể thay mặt họ thực
hiện những quyền của nguyên đơn dân sự10. Trong trường hợp người được người bị
hại ủy quyền kháng cáo (nếu chỉ kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại) có thể
tham gia tố tụng như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự.
9


được xác định tư cách tham gia tố tụng là nguyên đơn dân sự.
Tóm lại: Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội
phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Nguyên đơn dân sự là cơ quan hoặc tổ chức thì cơ quan, tổ chức này phải là
cơ quan, tổ chức bị người phạm tội gây thiệt hại về tài sản.
Nguyên đơn dân sự là cá nhân là người tuy không bị kẻ phạm tôi trực tiếp
xâm hại nhưng bị thiệt hại về tài sản vì tội phạm gây ra hoặc tuy bị người phạm tội
trực tiếp xâm hại đến tài sản nhưng hành vi này chưa đến mức hoặc không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
hành vi khác.
Thiệt hại của nguyên đơn dân sự là do tội phạm gây ra nhưng thiệt hại này
không phải là đối tượng tác động của tội phạm. Hay nói một cách khác, thiệt hại của
nguyên đơn dân sự là do hành vi của người phạm tội gây ra nhưng thiệt hại này
không phải là hậu quả của hành vi khách quan mà người phạm tội bị truy cứu.
Nguyên đơn dân sự có thể đồng thời là người bị hại trong vụ án. Thiệt hại
trong trường hợp này là hậu quả tiếp theo mà người bị hại cần được khắc phục.
Hậu quả (thiệt hại) đối với nguyên đơn dân sự không có ý nghĩa với việc
định tội hoặc là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

11

Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu: Những vấn đề chung của Luật tố tụng Hình sự, Giáo trình Luật tố
tụng Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr. 53.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
13



nhiệm hình sự những vẫn có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại thì họ tham gia tố
tụng với tư cách là bị đơn dân sự để thực hiện việc bồi thường những thiệt hại mà
mình và các bị can khác đã gây ra cho người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người
có quyền lợi liên quan đến vụ án.
Tóm lại: Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định
phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
14


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

Bị đơn dân sự có trách nhiệm phải bồi thường những thiệt hại do người khác
gây ra hoặc có trách nhiệm phải bồi thường nếu bản thân đã tham gia và gây thiệt
hại cùng các đồng phạm khác.
Bị đơn dân sự là cá nhân là người đã gây thiệt hại vật chất cho các nguyên
đơn dân sự. Nếu người gây ra thiệt hại về vật chất là người chưa thành niên thì họ
phải có người đại diện hợp pháp. Cơ quan, tổ chức là bị đơn dân sự khi cán bộ, công
nhân viên chức của cơ quan này là người gây thiệt hại vật chất cho nguyên đơn dân
sự12.
1.1.2.4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Bộ Luật tố tụng Hình sự không đưa ra khái niệm về người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Theo khoản 4 Điều 56 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người mà việc giải quyết vụ án

15


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

vụ liên quan đến vụ án), từ đó xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của họ trong
vụ án hình sự.
- Người có quyền lợi liên quan đến vụ án: Là người có lợi ích vật chất hoặc
tinh thần bị xâm phạm có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và được cơ
quan tiến hành tố tụng công nhận. Chỉ những lợi ích vật chất hoặc tinh thần có liên
quan đến hành vi phạm tội thì người có lợi ích đó mới được công nhận là người có
quyền lợi liên quan đến vụ án.
Người có quyền lợi liên quan đến vụ án không phải là người bị thiệt hại trực
tiếp do hành vi phạm tội gây ra, tức là thiệt hại xảy ra không phải là đối tượng tác
động của tội phạm, thiệt hại xảy ra do hành vi của người phạm tội gây ra nhưng
hành vi gây thiệt hại chưa đủ yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập.
- Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Là người mà hành vi của họ có liên
quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện và theo pháp luật họ phải có trách nhiệm về
hành vi của mình, trách nhiệm này chủ yếu là trách nhiệm vật chất. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có trách nhiệm về
mặt tinh thần.
Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có thể là người trực tiếp tham gia vào việc thực hiện tội phạm,
nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự.
Hoặc có thể là người không liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhưng các cơ
quan tiến hành tố tụng phải xử lý theo pháp luật về những vấn đề có liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

Người làm chứng trước hết là những người biết được những tình tiết có liên
quan đến vụ án, tức là những tình tiết cần phải chứng minh (sự việc phạm tội, thời
gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm, lỗi, động cơ, mục
đích phạm tội…) họ có thể trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc được người khác kể
lại về những tình tiết có liên quan. Điều cần thiết là họ phải chỉ ra được nguồn của
những tin tức đó. Theo sự triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc họ tự nguyện
đến để khai báo về các tình tiết mà mình biết, được xác định là người làm chứng
trong vụ án hình sự. Trong tố tụng hình sự, vai trò của người làm chứng rất quan
trọng, họ là người biết các tình tiết liên quan đến vụ án nhưng vì họ không có quyền
và lợi ích liên quan đến vụ án nên lời khai của họ thường trung thực, khách quan
giúp các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng tìm ra sự thật của vụ án. Với vai trò
của người làm chứng có ý nghĩa nhất định đối với việc làm sáng tỏ sự thật khách
quan của vụ án nên việc tham gia tố tụng của người làm chứng không thể thay thế
và cũng không thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thay mình. Họ được
cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập tham gia tố tụng để khai báo những gì mà họ biết
về vụ án nên họ phải trực tiếp tham gia mà không thể thông qua người đại diện để
thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình.
Để bảo đảm tính xác thực, khách quan của chứng cứ, pháp luật quy định
những người có nhược điểm về thể chất, tâm thần mà không có khả năng nhận thức
được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn và những
người là người bào chữa của bị can, bị cáo thì không được làm chứng16.
1.1.2.6. Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo
Trong Bộ Luật tố tụng Hình sự không có điều luật riêng quy định về người
đại diện nhưng dựa trên cơ sở những quy định tại các Điều 139, 140, 141, 142, 143,
144 Bộ luật Dân sự 2005 thì có thể hiểu đại diện là việc một người (gọi là người đại
diện) nhân danh một người khác (gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao
dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp
luật hoặc ủy quyền.
16


cần phải có người đại diện, vì đây là những đối tượng có khó khăn trong việc biểu
lộ ý chí khi tham gia tố tụng và nhiều trường hợp không có khả năng gánh vác
nghĩa vụ
Người đại diện cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có
nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần là những người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định. Họ bao gồm: Cha, mẹ người chưa thành niên hoặc
người có nhược điểm về thể chất, tâm thần. Trường hợp bị can, bị cáo không còn
cha, mẹ hoặc cha, mẹ cũng là người có nhược điểm về thể chất, tâm thần mà không
có người giám hộ thì những người thân thích trong gia đình (ông, bà, anh, chị, cô,
chú…) cử ra một người đại diện.
Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo có phạm vi quyền rất rộng, họ có
quyền có mặt khi hỏi cung bị can, được tham gia phiên tòa, có quyền đề nghị thay
đổi người tiến hành tố tụng, quyền được tranh luận, quyền được kháng cáo hoặc
khiếu nại bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng… nhưng họ có nghĩa vụ
phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do hành vi phạm tội của người mà họ đại
diện gây ra nên họ có thể được xác định là bị đơn dân sự. Nếu là bị đơn dân sự, họ
chỉ được kháng cáo phần liên quan đến trách nhiệm bồi thường, trong khi đó, người
GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
18


Phân biệt tư cách của những người tham gia
tố tụng theo Luật tố tụng Hình sự Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp

đại diện hợp pháp có thể được kháng cáo toàn bộ bản án (tội danh, trách nhiệm hình


Mạc Giáng Châu, Nguyễn Chí Hiếu: Những vấn đề chung của Luật tố tụng Hình sự, Giáo trình Luật tố
tụng Hình sự Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr. 7.

GVHD: Th.S Mạc Giáng Châu

SVTH: Nguyễn Phong Trần
19


Trích đoạn Một số biện pháp khắc phục Đối với nguyên đơn dân sự Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đối với người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status