Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hính sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh) - Pdf 57

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Vế XUN MO

CĂN Cứ, CƠ Sở KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Vế XUN MO

CĂN Cứ, CƠ Sở KHởI Tố Vụ áN HìNH Sự
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN TT VIN

H NI - 2017


1.1.1. Đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự ..................................................... 4
1.1.2. Những yêu cầu đối với giai đoạn khởi tố vụ án hình sự ...................... 7
1.2.

Khái niệm căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự.............................. 10

1.2.1. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự ............................................................. 10
1.2.2. Cơ sở khởi tố vụ án hình sự ............................................................... 13
1.3.

Căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự
của một số quốc gia .......................................................................... 19

1.3.1. Trung Quốc......................................................................................... 19
1.3.2. Liên bang Nga .................................................................................... 20
1.3.3. In-đô-nê-xia ........................................................................................ 21
1.3.4. Một số quốc gia khác ......................................................................... 22
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 25
Chƣơng 2: CĂN CỨ, CƠ SỞ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ 1945
ĐẾN NAY .......................................................................................... 26
2.1.

Các quy định pháp luật về căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự
từ 1945 đến trƣớc 1988 .................................................................... 26


2.2.

Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án trong Bộ luật tố tụng hình sự

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 71


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng hình sự

CCTP:

Cải cách Tư pháp

KKT:

Khu kinh tế

TAND:

Tòa án nhân dân

TTHS :

Tố tụng hình sự

UBND:

Ủy ban nhân dân

VKSND:


tiễn pháp luật thực định về khởi tố vụ án hình sự. Các công trình nghiên cứu
đã luận giải về tầm quan trọng, ý nghĩa và nội dung của chế định khởi tố vụ
án hình sự. Qua các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy:

1


a) Có rất ít công trình nghiên cứu về căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình
sự. Mặt khác, thực tiễn hoạt động khởi tố vụ án hình sự còn nhiều bất cập
trong đó có nguyên nhân từ các quy định pháp luật tố tụng hình sự mà nội
dung chưa rõ ràng, cần phải tiếp tục nghiên cứu.
b) Chưa có công trình nào nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự về căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự trên địa
bàn một tỉnh, cụ thể như tỉnh Hà Tĩnh.
Từ công việc thực tiễn của học viên và được sự gợi ý của Bộ môn Luật
hình sự, học viên đã chọn đề tài: “Căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự theo
Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà
Tĩnh)” làm Luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Mục đích, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
2.1. Mục đích
Làm sáng tỏ về lý luận những căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời, thông qua việc phân
tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện các quy định về căn cứ, cơ sở khởi
tố vụ án hình sự, xác định những nguyên nhân của kết quả cũng như hạn
chế từ đó kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện đúng
đắn chế định này.
2.2. Phạm vi: Luận văn thực hiện trên cơ sở thực tiễn của tỉnh Hà Tĩnh
trong áp dụng các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về khởi tố vụ án hình sự.
2.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật,

sự trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
Chương 3: Áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về căn cứ, cơ sở
khởi tố vụ án hình sự từ thực tiễn của tỉnh Hà Tĩnh và một số kiến nghị.

3


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ VÀ
CƠ SỞ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khởi tố vụ án hình sự - giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự
Để nghiên cứu về căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự trước hết cần tìm
hiểu ý nghĩa, vai trò, đặc điểm và những yêu cầu đặt ra cho giai đoạn khởi tố vụ
án hình sự với ý nghĩa là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự.
1.1.1. Đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự
Trong cuộc đấu tranh chống tội phạm, yêu cầu mà pháp luật hình sự đặt
ra là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng,
công minh theo đúng pháp luật. Thực hiện yêu cầu đó, các cơ quan tiến hành
tố tụng phải có một quá trình thu thập chứng cứ làm rõ tội phạm, sử dụng các
biện pháp cần thiết để ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục xảy ra. Khi sự
việc có dấu hiệu của tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền phải làm sáng tỏ có
hay không có sự việc phạm tội, ai là người phạm tội và có thỏa mãn dấu hiệu
của cấu thành tội phạm hay không, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự và những vấn đề khác có liên quan của vụ án... việc làm sáng
tỏ các tình tiết của vụ án trải qua một quá trình gồm nhiều giai đoạn phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành tố tụng. Các giai đoạn đó
bao gồm: khởi tố, điều tra, xét xử. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên
của quá trình tố tụng, bắt đầu bằng việc phát hiện những thông tin về tội phạm
và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự. Việc khởi tố vụ án hình sự là thể hiện nguyên tắc trách nhiệm của nhà

phạm tội và tội phạm ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo.
Với mục đích và nhiệm vụ quan trọng như vậy, khởi tố vụ án hình sự
có nhiều ý nghĩa. Trước hết, về mặt chính trị - xã hội, khởi tố thể hiện việc
phản ứng kịp thời của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong đấu tranh

5


chống tội phạm trên phương diện pháp luật hình sự. Khởi tố vụ án hình sự là
một biện pháp rất quan trọng để xác định sự thật của vụ án và truy cứu trách
nhiệm hình sự người có hành vi phạm tội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; ngăn chặn, phòng ngừa các hành
vi phạm tội. Và điều quan trọng hơn là khẳng định trên thực tế „„nguyên tắc
không tránh khỏi hình phạt‟‟ của người có hành vi phạm tội. Việc khởi tố kịp
thời các vụ án hình sự còn góp phần đấu tranh chống tội phạm “ẩn”. Theo
nhận xét của nhiều nhà khoa học pháp lý hình sự, tình trạng tội phạm “ẩn”
vẫn còn là vấn đề nan giải với nhiều nguyên nhân khác nhau và ở các mức độ
khác nhau. Vì vậy, việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự là yếu tố quan trọng
làm giảm tội phạm “ẩn” trong tình hình hiện nay.
Bên cạnh đó khởi tố vụ án hình sự có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại
trừ tố tụng đối với vụ việc, cũng cần thấy rõ là nếu không khởi tố vụ án khi đã
có dấu hiệu tội phạm, hoặc khởi tố vụ án không kịp thời thì dễ dẫn đến việc
tội phạm bị bỏ lọt, bị che giấu, chứng cứ bị thất thoát, bị tiêu hủy làm cho việc
điều tra xử lý khó khăn. Ngược lại, giai đoạn khởi tố còn có nhiệm vụ làm rõ
các tình tiết loại trừ tố tụng đối với vụ án. Khi có những căn cứ pháp luật quy
định không được khởi tố, cơ quan tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh chấp
hành để tránh oan, sai. Việc khởi tố cũng như không khởi tố vụ án theo đúng
các quy định của pháp luật tố tụng hình sự sẽ tạo niềm tin cho xã hội vào sự
công minh của pháp luật, đồng thời cũng tiết kiệm chi phí của xã hội, nhà
nước và công dân.

phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội,
trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi
trường xã hội an toàn, lành mạnh, nhân văn. Để đạt mục tiêu này, nhà nước sử
dụng các biện pháp tổng hợp để đạt mục tiêu đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi

7


tội phạm ở mức độ thấp nhất. Vì vậy, việc khởi tố vụ án hình sự trước hết
xuất phát từ phương diện đấu tranh chống tội phạm trong khung khổ pháp luật
hình sự. Từ đó, nhiệm vụ đặt ra cho tố tụng hình sự nói chung, giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự nói riêng là bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh,
kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người,quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Khởi tố vụ án hình sự phải tuân theo các thủ tục của mô hình tố tụng
hình sự Việt Nam.Trên thế giới hiện nay tồn tại ba mô hình tố tụng hình sự là:
mô hình tố tụng thẩm vấn, mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình kết hợp
giữa thẩm vấn và tranh tụng. Với mỗi kiểu tố tụng đó hình thành mô hình
tương ứng: kiểu tố tụng thẩm vấn hình thành nên mô hình kiểm soát tội phạm;
kiểu tố tụng tranh tụng hình thành nên mô hình tố tụng tranh tụng. Còn mô
hình thứ ba là sự kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng hiện đang được một số
quốc gia áp dụng, tuy mức độ kết hợp có khác nhau (Mêxicô, Liên bang Nga,
Nhật Bản, Hàn Quốc…). [33, tr.18-35].
Hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam hiện đang áp dụng mô hình tố tụng
hình sự thẩm vấn (xét hỏi), thể hiện qua những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, tố tụng hình sự Việt Nam xác định vai trò chứng minh tội

bằng phương pháp điều tra, thẩm vấn. Đây là phương pháp chủ yếu được sử
dụng ở tất cả các giai đoạn tố tụng, bắt đầu là việc khởi tố vụ án hình sự. Trong
giai đoạn điều tra, điều tra viên thực hiện mọi biện pháp điều tra do pháp luật
quy định để thu thập chứng cứ. Khi hồ sơ vụ án được chuyển sang cho Viện
kiểm sát đề nghị truy tố, Viện kiểm sát tiếp tục kiểm tra hồ sơ vụ án để ra quyết
định truy tố hoặc không truy tố người phạm tội. Tại phiên toà, phương pháp
điều tra, thẩm vấn là phương pháp chủ yếu được áp dụng. Tuy nhiên, theo tinh
thần cải cách tư pháp, tranh tụng đã trở thành một nguyên tắc hiến định. Việc

9


tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội tại phiên tòa; việc ra bản án phải căn
cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa góp phần bảo đảm thủ tục tố tụng dân
chủ, quyền con người, quyền công dân được thực hiện tốt hơn.
Tố tụng hình sự Việt Nam xác định bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Tố tụng hình sự của bất kỳ hệ
thống quốc gia dân chủ nào cũng đều phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ:
vừa phải xác định cho được sự thật của vụ án, bảo đảm để công lý được thực
thi nhưng lại vừa phải làm thế nào để trên con đường đi tìm sự thật và công lý
thì quyền của tất cả những người có liên quan đều phải được tôn trọng, bảo
đảm và bảo vệ. Tư pháp là lĩnh vực gắn trực tiếp với số phận con người,
quyền về nhân thân và quyền tài sản của họ là lĩnh vực dễ xảy ra những vi
phạm quyền con người, quyền công dân. Vì vậy việc khởi tố hay không khởi
tố vụ án hình sự cần phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật,
trước hết là pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm công lý của chế độ,
quyền con người, quyền công dân. Những hành vi xâm phạm đến quyền con
người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp là vi phạm Hiến pháp, pháp
luật cần được xử lý nghiêm khắc. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam đã có
nhiều quy định mới mang tính nguyên tắc về bảo vệ quyền con người, quyền

coi tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ. Những hành vi tuy có
dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể,
thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
Tính có lỗi: Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó
gây ra, thể hiện dưới dạng cố ý và vô ý. Luật hình sự Việt Nam không chấp
nhận việc quy tội khách quan chỉ thông qua hành vi gây thiệt hại cho xã hội
mà không căn cứ vào lỗi của người thực hiện hành vi đó.

11


Tính trái pháp luật hình sự là đặc điểm pháp lý hình thức của tội phạm
thể hiện qua việc quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật hình sự, dựa theo nguyên tắc của Luật La mã: không
có luật quy định thì không quy tội. Những hành vi được coi là trái pháp luật
cũng đồng thời là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Luật
hình sự, nghĩa là bị luật hình sự cấm, bị nhà làm luật coi là tội phạm, có lỗi
trong khi thực hiện hành vi thì mới bị coi là tội phạm. Tính trái pháp luật là
căn cứ để đảm bảo quyền lợi của công dân, tránh việc xử lý tùy tiện.
Tính chịu hình phạt cũng là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm. Chỉ có
hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, không có tội phạm cũng không có
hình phạt. Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của dấu hiệu tính
nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Tính nguy hiểm cho xã hội
và tính trái pháp luật hình sự là cơ sở để cụ thể hóa tính phải chịu hình phạt.
Tuy nhiên, trong giới luật có những ý kiến khác nhau về căn cứ khởi tố
vụ án hình sự. Một số tác giả cho rằng: căn cứ để khởi tố vụ án hình sự là khi
có được những thông tin thực tế khách quan về hành vi phạm tội [32, tr.76]. Ý

có thẩm quyền khởi tố xác định có dấu hiệu tội phạm. Khi nhận được sự tố
giác hay tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải kiểm tra
nhằm xác định có dấu hiệu tội phạm hay không và có những căn cứ được khởi
tố vụ án hình sự hay không, để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án
hình sự. Những thông tin đó bao gồm:
- Thứ nhất, thông tin từ việc tố giác tội phạm. Tố giác tội phạm là
quyền và nghĩa vụ của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Mọi người
có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về
những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tố
giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội
phạm của một người nào đó hay pháp nhân nào đó với cơ quan có thẩm

13


quyền. Khái niệm tố giác được giải thích là những thông tin về hành vi có
dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ
quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết [2]. Như vậy, đặc trưng
của tố giác về tội phạm là cung cấp thông tin của cá nhân có danh tính rõ
ràng về hành vi có dấu hiệu tội phạm để các cơ quan có thẩm quyền thụ lý,
xác minh, xử lý theo pháp luật. Tố giác bao gồm hai nội dung: “tố cáo” và
“phát giác” về tội phạm. Tính chất của tố cáo là cá nhân có quyền tố cáo
hành vi của bất kỳ chủ thể nào cho rằng có dấu hiệu phạm tội mà bản thân
mình biết được, khẳng định được với các cơ quan có thẩm quyền. Còn phát
giác là việc cá nhân phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm của bất kỳ chủ
thể nào mà mình tiếp cận được thông tin không phải ở mức độ biết được,
khẳng định được trực tiếp với các cơ quan có thẩm quyền để phát hiện, xác
minh, xử lý theo pháp luật. Luật cho phép công dân có thể tố cáo về mọi tội
phạm, với bất cứ cơ quan nào mà họ thấy tiện lợi. Như vậy, việc tố giác

tin đại chúng các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình
phải tiến hành xem xét, xác minh tin báo đó, nếu có dấu hiệu của tội phạm thì
khởi tố vụ án hình sự để điều tra phát hiện người phạm tội. Đặc trưng của tin
báo loại này cũng giống ở tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó là tính
chất thông tin sơ bộ, ban đầu để xác định sự việc là có thật, có căn cứ sự việc;
còn hành vi đó là tội phạm hay chưa thì cần phải được cơ quan có thẩm quyền
xác minh, kết luận. Chủ thể cung cấp tin là cơ quan, thông tin đại chúng được
thành lập hợp pháp. Thông tin này chỉ ở dạng cung cấp dưới dạng thông tin
đến công chúng trong đó có cơ quan pháp luật qua hình thức thông tấn (phát
hành bằng nguồn hợp pháp như báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử) mà
không trực tiếp gửi đến cơ quan pháp luật. Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 850
cơ quan báo chí và nhiều phương tiện truyền thông khác đang phát huy tác
dụng mạnh mẽ, đi đầu trong phản ánh cuộc đấu tranh chống tội phạm trên
nhiều chuyên trang, chuyên mục. Nhiều thông tin do báo chí phản ánh là cơ

15


sở tin cậy để các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khởi tố vụ án. Trong một
số trường hợp cơ quan thông tin đại chúng đề nghị cơ quan có thẩm quyền có
ý kiến trả lời bạn đọc thì cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu phải có văn
bản trả lời cơ quan thông tin đại chúng đã đưa tin.
- Thứ tư, các cơ quan tư pháp (điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và các
cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra trực tiếp
phát hiện dấu hiệu của tội phạm trong hoạt động nghiệp vụ hoặc hoạt động
quản lý nhà nước của mình (cơ quan hải quan, kiểm lâm…). Đây là những
trường hợp các cơ quan nêu trên thông qua các hoạt động thuộc phạm vi trách
nhiệm của mình đã phát hiện dấu hiệu của tội phạm và trên cơ sở đó để ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự.
- Thứ năm, kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước.Kiến nghị khởi tố là

hành vi có thể sẽ tiếp tục thực hiện tội phạm, mặt khác nó còn tác động đến tư
tưởng của những đối tượng khác đã hoặc đang có hành vi phạm tội cũng phải
tự kiềm chế hành vi và ý đồ thực hiện tội phạm của mình. Người phạm tội có
thể tự thú trước cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan, tổ chức
khác. Các cơ quan, tổ chức tiếp nhận tự thú phải lập biên bản ghi rõ họ, tên,
tuổi nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của người tự thú, trong đó ghi cụ
thể về hành vi phạm tội, những người có thể biết được việc phạm tội, công cụ,
phương tiện phạm tội (nếu có) và những tình tiết khác cho phép khẳng định
lời khai của người tự thú là đúng. Cán bộ tiếp nhận cùng người tự thú ký tên
vào biên bản. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự
thú không phải là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thì cơ quan, tổ chức này có
trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
Các nguồn thông tin trên đây mới chỉ là những cơ sở ban đầu để cơ
quan có thẩm quyền xác minh, thẩm tra để từ đó xác định có hay không có
căn cứ để khởi tố vụ án. Nói cách khác, những nguồn thông tin đó chưa phải
là căn cứ khởi tố mà chỉ là nguồn, là cơ sở hàm chứa những thông tin cho
phép đi đến kết luận có dấu hiệu tội phạm hay không để khởi tố vụ án hình sự.
17


Có một ngoại lệ trong khởi tố vụ án hình sự, đó là trường hợp khởi tố
vụ án theo yêu cầu của người bị hại. Đây là vấn đề được trao đổi tranh luận
nhiều trong khoa học pháp lý. Như đã phân tích ở trên, với mô hình tố tụng
xét hỏi, khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước,
không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
nhất định mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định, xuất phát từ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị hại, Nhà nước quy định cho phép người bị hại lựa chọn
quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Đây là những trường hợp
mà hành vi phạm tội vừa xâm phạm trật tự xã hội, vừa xâm phạm đến thể
chất, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người bị hại. Những trường hợp này

án trong Luận văn là những quốc gia có hệ thống tư pháp đại diện cho các mô
hình tố tụng hình sự khác nhau. Việc tìm hiểu các mô hình này nhằm thấy rõ
sự tương đồng và khác biệt của chế định khởi tố vụ án hình sự nói chung, của
các quy định về căn cứ và cơ sở để khởi tố vụ án hình sự nói riêng. Trên cơ sở
đó rút ra những vấn đề có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình
tiếp tục hoàn thiện chế định khởi tố vụ án hình sư.
1.3.1. Trung Quốc
Theo pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc, khởi tố vụ án hình sự là
bước đầu tiên khi bắt đầu tiến hành hoạt động điều tra hình sự. Hoạt động
điều tra chính thức chỉ có thể được tiến hành sau khi vụ án đã được khởi tố.
Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự yêu cầu cơ quan công an hoặc Viện kiểm
sát, trong phạm vi thẩm quyền điều tra tương ứng của mình khởi tố vụ án khi
phát hiện các tình tiết tội phạm hoặc người bị tình nghi phạm tội. Như vậy
căn cứ khởi tố vụ án hình sự là khi có các tình tiết tội phạm hoặc người bị
tình nghi phạm tội.
Cơ sở để khởi tố vụ án là tin báo và tố giác của bất cứ đơn vị hay cá
nhân nào. Những đơn vị và cá nhân này sau khi phát hiện dấu hiệu tội phạm
hoặc nghi can, có quyền và nghĩa vụ báo cáo vụ án hoặc cung cấp thông tin

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status