Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh) - Pdf 47

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN VN THNH

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt ng-ời
trong tr-ờng hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN VN THNH

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt ng-ời
trong tr-ờng hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. PHM MNH HNG

H NI - 2017


Những vấn đề chung về bắt người trong trường hợp khẩn cấp ........ 8

1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp
khẩn cấp ............................................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp .................. 16
1.2.

Những vấn đề chung về kiểm sát việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp ......................... 18

1.2.1. Khái niệm kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người
trong trường hợp khẩn cấp .................................................................. 18
1.2.2. Đối tượng và phạm vi kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp ......................................... 24
1.3.

Vai trò và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp của
Viện kiểm sát ..................................................................................... 27

1.4.

Mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong
trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát ........................................ 28


Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI
TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VÀ THỰC TIỄN ÁP

2.3.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh và cơ cấu tổ
chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh................ 54
2.3.2. Những kết quả đạt được trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp trên địa bàn Hà Tĩnh và những
hạn chế, tồn tại .................................................................................... 57
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại............................................ 67


Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHÁC
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN
PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP ........... 72
3.1.

Hoàn thiện pháp luật ........................................................................ 72

3.1.1. Những nội dung mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về
kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp .................. 72
3.1.2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về kiểm sát việc áp dụng biện
pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp ........................................ 76
3.2.

Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả kiểm sát việc áp dụng
biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp .......................... 80

3.2.1. Tăng cường hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân
dân cấp trên ......................................................................................... 80
3.2.2. Tăng cường trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm, đạo đức
nghề nghiệp của cán bộ kiểm sát .......................................................... 82
3.2.3. Đẩy mạnh quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát .... 85
3.2.4. Nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và đổi mới chính

TTPL:

Tuân theo pháp luật

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1. Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ

oan, sai sẽ xâm phạm đến quyền tự do dân chủ của công dân và các quyền, lợi
ích hợp pháp của con người được pháp luật bảo hộ. Ngược lại, không bắt,
giam, giữ người phạm tội để những người đó vẫn tự do ngoài vòng pháp luật,
tiếp tục gây án hoặc trốn tránh... gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý vụ án
cũng là làm thiệt hại đến quyền lợi của con người, của cộng đồng, làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Trong các biện pháp ngăn chặn, thì biện pháp ngăn chặn bắt người là
biện pháp thường được áp dụng, nhưng cũng có thể làm hạn chế tới quyền tự
do của con người. Do đó, hoạt động bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong
đời sống chính trị, xã hội vì bắt người đúng hay không đúng các quy định của
pháp luật có liên quan và ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân:
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Do đó, vấn đề bắt người quy định trong
tố tụng hình sự (TTHS) luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính chặt chẽ, để có căn cứ
theo quy định của pháp luật.
Theo Hiến pháp 2013, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động của VKSND
nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công

1


dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Chính vì vậy, VKSND có vai trò quan
trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó một trong hai chức năng quan
trọng của VKS trong tố tụng hình sự là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động TTHS, đảm bảo mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
hình sự đều tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Trong hoạt động áp
dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt
người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng VKSND có nhiệm vụ quyền hạn

như Vũng Áng… tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh là khá cao so
với bình quân cả nước. Bên cạnh những ưu điểm về sự phát triển kinh tế xã
hội thì sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội đã kéo theo sự gia tăng của các
loại tội phạm trên địa bàn. Trong những năm vừa qua, lợi dụng chính sách thu
hồi đất đai của chính quyền địa phương tình trạng khiếu nại đông người, gây
rối trật tự công cộng, các tội phạm về trật tự xã hội như: ma túy, trộm cắp,
cướp giật tài sản, tệ nạn mại dâm… ngày một gia tăng. Hàng năm, Cơ quan
điều tra trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã khởi tố, điều tra và VKS đã truy tố hàng
nghìn vụ án các loại. Kết quả trên góp phần có hiệu quả vào công tác đấu
tranh, phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết vụ
án hình sự áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp bắt người
trong trường hợp khẩn cấp vẫn còn những hạn chế, bất cập thể hiện qua việc
chậm trễ trong việc chuyển giao các quyết định bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ,
hoạt động bắt khẩn cấp còn có sai sót về căn cứ, thẩm quyền, trình tự thủ tục.
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn VKS còn chưa thực sự kịp thời, sâu sát dẫn đến một số
trường hợp việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp còn
sai sót, dẫn đến ảnh hưởng về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt.

3


Chính vì vậy, học viên quyết định chọn đề tài “Kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng
hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn Hà Tĩnh)” làm đề tài luận
văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt
người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu đề
cập đến trong các tác phẩm của mình. Có thể kể đến như:

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn
cấp trên cơ sở thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề ra các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn
cấp và nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lý luận về biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp
và lý luận về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong
trường hợp khẩn cấp.
- Nghiên cứu về thực tiễn quy định của pháp luật về biện pháp bắt khẩn
cấp và thực tiễn quy định của pháp luật về kiểm sát việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn
cấp nói riêng.
- Nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, chỉ rõ
những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát việc áp dụng

5


biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp và nâng cao hiệu
quả hoạt động này trên thực tiễn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp

áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong
những năm vừa qua.
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật học và tài liệu thực tiễn cho cán bộ
của các cơ quan tư pháp như VKS, Cơ quan điều tra, Tòa án….
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được kết cấu thành 3 chương 10 tiểu mục.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI TRONG
TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP
1.1. Những vấn đề chung về bắt người trong trường hợp khẩn cấp
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp
khẩn cấp
Bắt người là BPNC có tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt
người nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục chặt chẽ mà pháp
luật quy định. Áp dụng biện pháp bắt người nhằm kịp thời ngăn chặn tội
phạm, ngăn ngừa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trốn tránh
pháp luật, nhằm tạo điều kiện bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án được thuận lợi. Theo quy định của Bộ luật TTHS thì bắt người là một
trong những BPNC áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người
chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi tội phạm, ngăn ngừa việc người
phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án hình sự được thuận lợi. Hậu quả của việc bắt người nhầm lẫn,
oan sai sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền hiến định của công dân, hạn chế

tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể
đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn
ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và
đúng pháp luật [3, tr. 31-32].
Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam - Khoa luật, Đại học Quốc Gia
Hà Nội thì:
Bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người bị nghi thực hiện tội phạm hoặc người phạm tội quả

9


tang hoặc người đang có lệnh truy nã nhằm kịp thời ngăn chặn tội
phạm, ngăn ngừa họ phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự [6, tr.199].
Còn theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trung tâm Đào tạo từ xa
Đại học Mở Hà Nội:
Bắt người là BPNC trong TTHS do Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với
người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc
người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng
pháp luật [28, tr.214].
Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội thì lại
quan niệm:
Bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can,
bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc
phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về
hình sự nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ

thi hành án [9, tr.12]
Hai quan niệm trên có sự tương đồng và thống nhất người có quyền áp
dụng là “cơ quan, người có thẩm quyền”. Việc quy định này đã khắc phục
được phần nào hạn chế trong những quan niệm trước đây. Tuy nhiên việc liệt
kê đối tượng bị áp dụng lại khá dài.
Từ những phân tích trên, theo tôi, có thể đưa ra khái niệm về biện pháp
bắt người trong TTHS như sau: Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố
tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng đối với những người thực hiện
hành vi có dấu hiệu của tội phạm theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình
sự quy định, nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện hành vi có dấu hiệu

11


tội phạm trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án không bị cản trở.
Nhà nước ta từ lâu đã coi bắt người là một chế định pháp lý quan trọng
không những trong TTHS mà cả trong tố tụng hành chính. Chế định bắt người
chiếm một vị trí xứng đáng trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ban
hành. Bắt không theo quy định của pháp luật: bắt nhầm (bắt oan, sai) người
vô tội sẽ gây một tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối
với cơ quan bảo vệ pháp luật. Vì vậy, khi bắt người phải thể hiện thái độ kiên
quyết đấu tranh chống tội phạm, song cũng phải thận trọng khi xem xét đánh
giá chứng cứ. Quá trình thực hiện bộ luật TTHS các cơ quan như: Bộ Công
an, VKSND tối cao, TAND tối cao, Bộ Tư pháp, đã ban hành nhiều văn bản
quy phạm pháp luật đơn ngành, liên ngành để hướng dẫn việc áp dụng BPNC
trong đó có biện pháp bắt người [13].
Quy định về biện pháp ngăn chặn bắt người và áp dụng BPNC bắt
người trong TTHS có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm:

của con người [9, tr.76].
Việc bắt người có tác động trực tiếp đến quyền tự do về thân thể của con
người bởi vậy khi áp dụng cần phải cân nhắc hết sức thận trọng khi quyết định
việc bắt. Bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu
tranh chống và ngăn ngừa tội phạm. Chính vì vậy, việc quy định những cơ sở
pháp lý cho việc áp dụng BPNC bắt người là một yêu cầu cấp thiết và quan
trọng trong TTHS Việt Nam. TS. Nguyễn Vạn Nguyên và một số tác giả khác
chia biện pháp bắt người thành bốn loại: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt
người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang
bị truy nã [14]. Nhưng theo Chương VI, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định ba
trường hợp bắt người gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong
trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.

13


Căn cứ vào đối tượng bị bắt, có thể chia các biện pháp bắt người thành
các loại: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp;
Bắt người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và bắt một số đối
tượng đặc biệt [9, tr.198].
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trường hợp bắt, thường
được áp dụng đối với người chưa bị khởi tố về hình sự, nhằm ngăn chặn
ngay hành vi phạm tội hoặc những hành động cản trở việc điều tra, truy tố
và xét xử của người đó.
Có thể nói rằng, trước khi BLTTHS được ban hành, thì các quy định về
biện pháp bắt nói chung và bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng đã
có những tác dụng to lớn trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm. Việc sử dụng chúng đã góp phần kịp thời ngăn chặn các tội phạm nguy
hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm và tài sản của nhân dân. Tuy nhiên, do sự phát triển của xã hội,

bách của việc ngăn chặn tội phạm. Tính chất cấp bách đó được thể hiện ở chỗ:
nếu như không tiến hành bắt ngay người có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì
người đó sẽ gây tổn thất nghiêm trọng cho Nhà nước, xã hội, xâm phạm đến
tính mạng, sức khỏe và sở hữu của công dân hoặc cản trở việc điều tra, xét
xử, trốn tránh pháp luật. Do đó, đối tượng bị bắt khẩn cấp là bất kỳ ai nếu như
người đó có đầy đủ các điều kiện thuộc vào một trong các trường hợp được
bắt khẩn cấp nêu trên.
Nói tóm lại, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trong các
BPNC được quy định trong BLTTHS. Với đặc điểm là tính khẩn cấp, do vậy
việc áp dụng biện pháp bắt này đã phát huy được tác dụng rất lớn trong công
tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, để không bỏ lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội và đảm bảo được các quyền con người,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì khi ra quyết định bắt khẩn cấp
những người có thẩm quyền cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định

15


của pháp luật về bắt khẩn cấp. Chỉ áp dụng biện pháp này khi nó thực sự cần
thiết để hạn chế việc lạm dụng bắt khẩn cấp, hạn chế tình trạng bắt oan, sai.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về bắt người trong
trường hợp khẩn cấp như sau: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một
trường hợp của biện pháp bắt người, do người có thẩm quyền áp dụng khi
có các căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc khi có người chính
mắt trông thấy và xác nhận đúng một người đã thực hiện tội phạm mà xét
cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc khi thấy có dấu vết của tội
phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
1.1.2. Đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

phải giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền điều này nhằm đáp ứng tính kịp
thời mang tính đặc thù của các biện pháp này, thì bắt người trong trường hợp
khẩn cấp chỉ có thể do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành. Điều
này nhằm đảm bảo tính hợp pháp và tính chặt chẽ của việc áp dụng biện pháp
bắt người trong trường hợp khẩn cấp. Không thể để tình trạng tùy tiện, bất kỳ
ai cũng có quyền bắt khẩn cấp được.
Thứ tư, về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp bắt người trong trường
hợp khẩn cấp cũng có những điểm đặc thù riêng so với bắt bị can, bị cáo để
tạm giam. Theo đó, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp được
tiến hành trước khi có sự phê chuẩn của VKS. Đây là sự khác biệt so với biện
pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Bởi lẽ, khi bắt bị can, bị cáo để tạm giam
thì cần phải có sự phê chuẩn của VKS trước khi tiến hành thì biện pháp bắt
người trong trường hợp khẩn cấp được tiến hành trước khi có sự phê chuẩn
trên. Bởi lẽ, đặc thù của biện pháp này là khẩn cấp, nếu phê chuẩn của VKS
thì sẽ dẫn đến tính cấp bách của biện pháp này không đạt được, người phạm
tội sẽ bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc làm cản trở hoạt động giải quyết vụ án.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status