Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN HUY CƯƠNG

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Cao Thị Oanh

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luật văn Thạc sỹ Luật học
“Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
thành phố Hà Nội” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
trong cùng lĩnh vực. Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ
nguồn gốc. Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Cao Thị Oanh.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.


Chương 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN QUYẾT
ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬTTRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................................................................... 32
2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của Bộ luật hình sự .............................................................................................................. 32
2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự trên địa bàn
thành phố Hà Nội ................................................................................................................ 36
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ...................................................... 58
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật
hình sự ................................................................................................................................ 58
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của
Bộ luật hình sự .................................................................................................................... 59
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………

74


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội. Hình phạt không chỉ mang
lại những hiệu quả nhất định không những trong việc trừng trị người phạm tội mà còn
có vai trò to lớn trong việc cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho
xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa,
ngăn ngừa họ phạm tội mới và đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp
phần đấu tranh phòng và chống tội phạm. Việc quyết định hình phạt sẽ thực sự phát
huy tác dụng, đúng như mong muốn của nhà làm luật một khi nó tuân thủ các nguyên
tắc quy định của BLHS, đồng thời phù hợp với thực tế điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.

Chẳng hạn, cả BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 vẫn chưa
đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của BLHS. Mặt khác, trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy những quy
phạm của chế định này còn nhiều bất cập, một số quy định chưa chặt chẽ về nội dung
và chưa thống nhất, đặc biệt trong thực tiễn đời sống xã hội và thực tiễn pháp lý đang
tồn tại vấn đề là tại sao lại quy định chỉ được quyết định hình phạt trong khung hình
phạt nhẹ hơn liền kề, trong khi các chế định khác như miễn hình phạt, miễn trách
nhiệm hình sự còn mang lại hậu quả pháp lý có lợi hơn nhiều cho người phạm tội thì
trên thực tế, cơ sở để áp dụng cũng tương tự như cơ sở khi quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của BLHS. Điều đó cho thấy những bất hợp lý, không cân đối trong luật
hình sự thực định. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về
mặt khoa học các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về quyết định
hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS và vấn đề áp dụng trong thực tiễn, đồng thời
đưa ra những giải pháp hoàn thiện các quy định của chế định này, cũng như nâng cao
hiệu quả của việc áp dụng những quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định
của BLHS không những có ý nghĩa lý luận-thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là
vấn đề mang tính cấp thiết. Đây chính là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết
định lựa chọn đề tài “Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS có liên quan mật
thiết và chặt chẽ đến chế định hình phạt và nhiều chế định khác trong luật hình sự. Ở

2


Việt Nam, quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS cũng mới chỉ được quy
định tại một điều luật riêng lẻ (Điều 47 BLHS năm 1999, Điều 54 Bộ luật Hình sự
năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017), điều đó chứng tỏ quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của BLHS vẫn chưa được các nhà lập pháp coi trọng đúng mức và nhận

BLHS (Tạp chí Pháp lý, số 7/2000 của tác giả Phan Hữu Thức)... Tuy nhiên, tất cả
những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dưới dạng là các bài viết đăng trên
tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mục trong các giáo trình, sách tham khảo
hay sách bình luận, hoặc mới chỉ xem xét vấn đề ở cấp độ một khóa luận tốt nghiệp cử
nhân luật. Có nghĩa là cho đến nay trong khoa học luật hình sự của Việt Nam chưa có
công trình nghiên cứu nào đề cập đến chế định này một cách tương đối có hệ thống, tương
đối đồng bộ và ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học có gắn với việc nghiên cứu thực tiễn
xét xử của Toà án trên một địa phương nhất định. Hơn nữa, nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn xung quanh chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS cũng đòi hỏi
cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 hiện nay chưa có hiệu
lực pháp luật (hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) nên chưa có thực tiễn áp dụng các
quy định trong hoạt động xét xử của toà án. Chính vì vậy, phạm vi xem xét của luận
văn căn cứ vào Bộ luật Hình sự hiện hành năm 1999, có đối chiếu, xem xét trong quá
trình phân tích với Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thực tiễn áp dụng quy định tại Điều 47 tại Toà án nhân dân thuộc thành phố Hà
Nội tức là ở hai cấp xét xử của Toà án nhân dân cấp quận, huyện thuộc Hà Nội và Toà
án nhân dân thành phố Hà Nội sẽ được xem xét, đánh giá trong luận văn theo giai đoạn
từ năm 2011 đến năm 2016.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên trong luận văn, tác giả tập trung vào giải quyết
những nhiệm vụ chính như sau: 1) Phân tích căn cứ quyết định hình phạt được ghi
nhận trong pháp luật hình sự thực định, một số quan điểm khác nhau về quyết định
hình phạt. 2) Phân tích các quan điểm khác nhau về khái niệm quyết định hình phạt
nhẹ hơn quy định của BLHS, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định
này để đưa ra quan điểm của mình. 3) Phân tích nội dung, điều kiện áp dụng những
trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS theo các quy định của


hội học pháp luật… trong các công trình của các nhà khoa học - luật gia ở trong và
ngoài nước. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong một số vụ án

5


hình sự mà thực tiễn xét xử và thông tin trên mạng Internet để phân tích và đánh giá,
tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận-thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã làm rõ khái
niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của quyết định hình phạt nhẹ hơn quy
định của BLHS, nội dung và điều kiện áp dụng của những trường hợp quyết định hình
phạt nhẹ hơn quy định của BLHS trên cơ sở xem xét các quy định của pháp luật hình
sự hiện hành, đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định
này ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng chúng trong thực tiễn. Ngoài ra, ở một
chừng mực nhất định có thể khẳng định rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ
đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ đề cập đến chế định quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của BLHS có gắn với thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội, do đó nó
còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học,
cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành
Tư pháp hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba
chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của
Bộ luật hình sự.
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của pháp luật hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của Bộ luật hình sự.

hơn nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định trong điều luật về tội phạm bị xét
xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn không được quy định trong điều luật [12].

7


Những định nghĩa trên đây mới chỉ dừng lại ở việc giải thích theo nội dung điều
luật (Điều 38 khoản 3 BLHS 1985, Điều 47 BLHS 1999) mà chưa có sự phân biệt để
trả lời cho những thắc mắc đã nêu trên. Lý giải cặn kẽ vấn đề này sẽ có cơ sở để đưa ra
những tiêu chí, căn cứ giải quyết vấn đề khi nào thì quyết định hình phạt nhẹ hơn (và
phải cùng loại hình phạt), khi nào được chuyển sang một loại hình phạt khác thuộc loại
nhẹ hơn. Ví dụ bị cáo Phạm Văn A và Phạm Thị B bị xét xử về tội "Cố ý làm trái quy
định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" theo khoản 1 điều
165 BLHS năm 1999, Toà án đã tuyên phạt A 9 tháng tù, B 6 tháng tù và khẳng định
đây là áp dụng điều 47 BLHS 1999 để quyết định hình phạt dưới mức khởi điểm của
khung hình phạt. Vậy trường hợp này áp dụng điều luật và cho rằng đã quyết định hình
phạt dưới mức khởi điểm của khung hình phạt đã đúng chưa? Mức khởi điểm của
khung 1 điều 165 BLHS năm 1999 là như thế nào, hình phạt cải tạo không giam giữ
hay hình phạt tù, hoặc mức thấp nhất của mỗi loại hình phạt đều là mức khởi điểm của
khung... Cả Điều 38 khoản 3 BLHS năm 1985, Điều 47 BLHS năm 1999 cũng như các
định nghĩa nêu trên đều chưa làm rõ được vấn đề này, vì thế cần thiết phải nghiên cứu
kỹ lưỡng nhằm đưa ra định nghĩa đúng đắn, bao quát mọi trường hợp quyết định hình
phạt nhẹ hơn quy định của BLHS.
Căn cứ quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999 cho thấy quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của BLHS là việc Toà án có thể đưa ra một hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định (nhưng phải trong khung hình phạt
liền kề nhẹ hơn của điều luật nếu điều luật có từ hai khung trở lên) hoặc chuyển sang
một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, trừ trường hợp đối với người phạm tội lần đầu
là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Hiện nay có
quan điểm cho rằng khi Toà án áp dụng một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của

thể làm thay Toà án trong hoạt động xét xử. Cụ thể hoá điều này, Luật tổ chức Toà án
nhân dân năm 2014 ngay tại Điều 2 đã nhắc lại quy định này và khẳng định: "Tòa án
nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết
các việc khác theo quy định của pháp luật". Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định:
"Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự
luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Điều 30 BLHS
2015 quy định: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc
pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người,

9


pháp nhân thương mại đó". Các cơ quan hành chính chỉ có thể ra quyết định xử lý vi
phạm hành chính, quyết định kỷ luật mà không bao giờ được áp dụng hình phạt với bất
cứ cá nhân nào. Tóm lại, Toà án là cơ quan duy nhất được Hiến pháp quy định chức
năng xét xử các vụ án hình sự và quyết định áp dụng hình phạt đối với một cá nhân bị
kết án.
- Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS cũng là thể hiện nguyên tắc
nhân đạo trong pháp luật hình sự. Khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định nguyên
tắc xử lý là: "Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác
đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại gây ra; Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát,
giáo dục". Các quy định tại Điều 3 nêu trên đã được quy định cụ thể thành các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 BLHS. Tinh thần của khoản 1 Điều 3 cũng
được ghi nhận tại một phần của Điều 54 BLHS. Theo quy định của BLHS, nếu người
lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì Toà án có thể áp dụng hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục. Hình

Pháp luật hình sự quy định những phạm vi chung đối với những người không giống
nhau trong thực tế, vì vậy trong những phạm vi chung đó làm thế nào để đưa ra được
một quyết định công bằng, hợp lý là nhiệm vụ rất quan trọng và đầy trách nhiệm của
những cơ quan và những người áp dụng pháp luật. Quyết định hình phạt là một trong
những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật
hình sự. Giai đoạn này chiếm một vị trí đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật hình
sự. Điều đó thể hiện trước hết ở chỗ chỉ Toà án mới có quyền quyết định hình phạt,
như phân tích ở trên theo quy định của Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự. Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước được Nhà nước giao cho Toà án, nhân danh Nhà
nước quyết định áp dụng với người phạm tội. Toà án tuyên bố áp dụng hình phạt đối
với người phạm tội, thể hiện sự lên án của nhà nước đối với họ về việc thực hiện tội
phạm là sự trừng trị người phạm tội. Quyết định hình phạt còn là một hoạt động pháp
lý tố tụng hình sự, hay nói cách khác là một dạng hoạt động của việc áp dụng pháp luật
hình sự do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành đối với người thực hiện tội
phạm theo một trật tự pháp lý nhất định. Các nguyên tắc quyết định hình phạt là một
trong những vấn đề quan trọng của chế định quyết định hình phạt, bởi vì việc quyết
định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào

11


việc nhận thức và áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn xét xử. Đây là vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn. Ý nghĩa lý luận của chúng thể hiện ở chỗ: việc làm
sáng tỏ các nguyên tắc đó góp phần vào việc nhận thức được bản chất, nội dung,
nguồn gốc, ý nghĩa của chế định quyết định hình phạt, phân biệt chúng với các căn cứ
quyết định hình phạt, đưa ra những phương án tối ưu của việc thể hiện chúng trong các
quy phạm của luật hình sự. Còn về mặt thực tiễn, các nguyên tắc đó là những tư tưởng
chỉ đạo, là kim chỉ nam cho hoạt động của Toà án khi chọn và quyết định loại và mức
hình phạt đối với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể. Các nguyên tắc quyết định hình
phạt là những tư tưởng xuất phát, tư tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình

pháp chế trong luật hình sự là việc từ bỏ áp dụng pháp luật tương tự. Chỉ có luật mới
có thể quy định tội phạm và hình phạt - điều đó có nghĩa là không thể áp dụng tương
tự về tội phạm và tương tự về hình phạt như trước năm 1985 khi chưa có BLHS.
Nhưng trong luật hình sự Việt Nam chúng ta có thể thấy một điểm nổi bật đáng chú ý,
đó là: chỉ có BLHS mới quy định tội phạm và hình phạt. Điều 8 BLHS Việt Nam quy
định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS..."
Hai là, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa: Hiến pháp năm 2013, tại Điều 2
khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân". "Nhà nước bảo đảm và
không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động
xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân" - Điều 3. Nội dung chính của nguyên
tắc nhân đạo trong luật hình sự là: - Một là, đối với người phạm tội, việc áp dụng hình
phạt, chỉ cần thiết đến mức cần và đủ cho việc đạt được mục đích cải tạo, giáo dục,
phòng ngừa. - Hai là, hình phạt và các biện pháp khác của trách nhiệm hình sự không
nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác và hạ thấp phẩm giá con người. Để thực hiện
nguyên tắc nhân đạo, BLHS Việt Nam quy định một loạt các chế định làm cơ sở pháp
lý cho sự vận dụng của các cơ quan truy tố và xét xử. Có thể liệt kê một số quy định và
chế định như sau: - Quy định áp dụng hiệu lực trở về trước đối với những điều luật quy
định xoá bỏ một tội phạm....; không áp dụng hiệu lực trở về trước đối với những điều
luật quy định một tội phạm mới... - Quy định một loạt các hình phạt nhẹ bên cạnh các
hình phạt như tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. - Quy định các tình tiết giảm nhẹ
và khả năng bổ sung của Toà án cũng như khả năng xử phạt dưới mức thấp nhất của

13


chế tài của Điều luật và khả năng chuyển sang một loại hình phạt khác nhẹ hơn. - Các
chế định án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt...



vi chưa phải đã đạt được sự thống nhất trong mọi lúc, mọi nơi. - Mức độ các chế tài
của điều luật: Một chế tài hình sự chỉ được coi là công bằng khi nó phù hợp với mức
độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Đồng thời, chế tài đó lại tương xứng trong mối
so sánh với các chế tài đối với các tội khác. Chẳng hạn chế tài đối với tội giết người và
tội hiếp dâm. Chế tài cũng chỉ được coi là công bằng khi nó có khả năng cho phép cơ
quan áp dụng nó có thể tính đến được các điều kiện phạm tội cụ thể trong thực tế. Mức độ của việc quyết định hình phạt: Một hình phạt chỉ được coi là công bằng khi nó
xác định được sự tương xứng giữa loại và mức hình phạt với mức độ nghiêm trọng của
hành vi, với nhân thân người phạm tội và với tất cả những tình tiết khách quan và chủ
quan liên quan đến trường hợp phạm tội này.
Một bảo đảm pháp lý quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng trong
luật hình sự Việt Nam là việc quy định các chế tài lựa chọn và các chế tài xác định
tương đối; quy định khả năng quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã
quy định hoặc khả năng chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, các khả
năng miễn trách nhiệm hình sự...Đây là những căn cứ cho sự tuỳ nghi của Toà án. Sự
tuỳ nghi này là cần thiết để có được một bản án xác đáng, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật. Tuy nhiên yếu tố tuỳ nghi quá rộng thì sẽ dẫn đến làm lệch độ yếu tố cơ bản
của trách nhiệm hình sự là hành vi, và vì vậy các nguyên tắc khác mà trước hết là
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa bị vi phạm. Chính vì thế, cần bảo đảm sự công
bằng trên cơ sở pháp chế theo hướng tăng cường phân hoá trách nhiệm hình sự, phân
loại tội phạm, quy định rõ ràng và đầy đủ các cơ sở của việc áp dụng những yếu tố
thuộc về quá trình quyết định hình phạt.
1.2.2. Các căn cứ quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự
Điều 45 BLHS năm 1999 quy định: khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào
các quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách
nhiệm hình sự. Trên cơ sở phân tích nội dung Điều 45 BLHS năm 1999 có thể rút ra
kết luận: khi quyết định hình phạt, Toà án phải tuân theo các căn cứ sau:
- Căn cứ vào các quy định của BLHS;

quan trực tiếp đến việc quyết định một hình phạt cụ thể đối với một bị cáo cụ thể. Các
quy định của BLHS là căn cứ cơ bản nhất của việc quyết định hình phạt, đó cũng là
đòi hỏi quan trọng của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa khi quyết định hình phạt.
Ba là, khi quyết định hình phạt, Toà án phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

16


được thể hiện ở tổng thể của hai khái niệm "tính chất" và "mức độ" nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, trước hết được quyết
định bởi ý nghĩa, tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan hệ xã hội do tội
phạm đó xâm hại - khách thể bị xâm hại. Bên cạnh khách thể bị xâm hại, tính chất
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm còn phụ thuộc vào các dấu hiệu khác về mặt khách
quan, về mặt chủ quan, các dấu hiệu đặc trưng cho chủ thể. Như vậy, tính chất nguy
hiểm cho xã hội là thuộc tính khách quan của một loại tội phạm nhất định, được xác
định bởi tổng thể các dấu hiệu thuộc cấu thành tội phạm, trong đó quan trọng nhất là ý
nghĩa, tính chất, tầm quan trọng và giá trị của những quan hệ xã hội bị hành vi phạm
tội xâm hại, tức là khách thể của tội phạm. Những tội phạm giống nhau về tính chất
nguy hiểm cho xã hội có thể khác nhau về mức độ nguy hiểm cho xã hội. Mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu của
cấu thành tội phạm và đó cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm. Nếu tính chất
của tội phạm thể hiện ở dạng mức độ về chất, thì mức độ nguy hiểm của nó được thể
hiện ở dạng mức độ về lượng nhất định của cùng một chất - tính chất nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm. Điều đó có nghĩa là khái niệm "tính chất" và "mức độ" nguy
hiểm cho xã hội của tội phạm không tách rời nhau, chúng tồn tại cùng nhau, bổ sung
cho nhau và xâm nhập vào nhau. Khi quyết định hình phạt, Toà án phải chỉ ra trong
bản án những tình tiết cụ thể chứng minh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm cụ thể mà Toà án dựa vào đó và cùng với các tình tiết khác để chọn loại
và mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo.

hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, thì chúng không
được coi là dấu hiệu tăng nặng. Nhưng điều đó không có nghĩa mức độ nghiêm trọng
của hậu quả đã xảy ra, trong trường hợp nó được coi là dấu hiệu định tội, không được
tính đến khi quyết định hình phạt. Khi quyết định hình phạt cần phải lưu ý, trong
những điều kiện khác giống nhau, hậu quả gây ra càng nghiêm trọng, thì mức độ hình
phạt được quyết định càng phải nghiêm khắc. Ví dụ: trong những điều kiện khác giống
nhau, đối với người tham ô 10 triệu đồng cần phải quyết định hình phạt ít nghiêm khắc
hơn người tham ô 50 triệu đồng, mặc dù trong hai trường hợp đó hành vi phạm tội của
họ đều được định tội danh theo khoản 1 Điều 278 BLHS. Các hậu quả không được luật
quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng đối với
việc quyết định hình phạt. Hậu quả do tội phạm gây ra bao gồm cả những thiệt hại về
vật chất lẫn những thiệt hại về các mặt khác. Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do tội
phạm gây ra ảnh hưởng đến mức độ nghiêm khắc của hình phạt được quyết định. Các

18


tình tiết như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, phương pháp, phương tiện thực hiện tội
phạm, trong những trường hợp không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu
thành tội phạm, có ý nghĩa quan trọng đối với việc cá thể hoá hình phạt. Khi cân nhắc
các tình tiết đó để quyết định hình phạt, Toà án cần lưu ý rằng không phải trong mọi
trường hợp các tình tiết đó đều có ý nghĩa, mức độ giống nhau đối với việc lựa chọn
loại và mức hình phạt mà còn tuỳ thuộc vào từng vụ án cụ thể, vào các điều kiện cụ thể
khác. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan có ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội, có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt. Trước hết,
các hình thức, các loại và mức độ của lỗi có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và việc quyết định
hình phạt.
Phân tích các quy định của BLHS nước ta cho thấy trong những trường hợp gây
ra hậu quả giống nhau, thông thường, các tội phạm được thực hiện do cố ý được nhà

cho việc quyết định một hình phạt công bằng, hợp lý đối với bị cáo. Để có căn cứ đầy
đủ cho việc quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng, hợp lý phù hợp với tội
phạm đã thực hiện, tạo điều kiện cho việc đạt được các mục đích của hình phạt, theo
luật, ngoài việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã
thực hiện, Toà án còn phải cân nhắc nhân thân người phạm tội. Đây là một trong
những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hoá hình phạt được thể hiện rõ trong
luật hình sự nước ta, được thực tiễn xét xử khẳng định và ghi nhận. Việc áp dụng đúng
quy định này có ý nghĩa cải tạo, giáo dục và phòng ngừa rất lớn. Ở dạng khái quát
nhất, có thể hiểu nhân thân đó là một khái niệm nhiều mặt, bao gồm những đặc điểm,
đặc tính khác nhau thể hiện bản chất xã hội, thể hiện tính cá biệt và tính không lặp lại
của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm.
Những đặc điểm, đặc tính đó mang tính chất chính trị - xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh lý.
Luật quy định, khi quyết định hình phạt, Toà án phải cân nhắc nhân thân người phạm
tội, tức là cân nhắc những đặc điểm, đặc tính nói trên, làm cơ sở cho việc xác định và
đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của người đó. Những đặc điểm, đặc tính hoặc
là đã được chỉ rõ trong luật (ở Điều 46 và 48 của BLHS) hoặc là ở dạng luật cho phép
Toà án cân nhắc trong trường hợp những đặc điểm, đặc tính ấy không được chỉ ra
trong luật, nhưng chúng có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt và mức độ ảnh
hưởng của mỗi đặc điểm, đặc tính ấy tuỳ thuộc vào việc nó được biểu hiện cụ thể như
thế nào trong từng vụ án cụ thể. Những đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm
tội được Toà án nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá dưới hai khía cạnh: khía cạnh pháp

20


luật hình sự và khía cạnh tội phạm học. Việc nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá nhân thân
ở khía cạnh pháp luật hình sự là nhằm làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa trực tiếp
đối với việc quyết định hình phạt. Đó là những tình tiết như: tái phạm, tái phạm nguy
hiểm, phạm tội nhiều lần, có án tích hay không có án tích, động cơ, mục đích của tội
phạm, phạm tội vì người khác đe dọa, cưỡng bức hoặc chi phối về mặt vật chất, công tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status