Chế định án treo theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƢƠNG BÍCH NGỌC

CHẾ ĐỊNH ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Đình Nhã

HÀ NỘI, 2016


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn

Dƣơng Bích Ngọc



BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự

HSST

: Hình sự sơ thẩm

HSPT

: Hình sự phúc thẩm

HĐTP

: Hội đồng Thẩm phán

NQ

: Nghị quyết

QH

: Quốc hội

TANDTC

: Tòa án nhân dân tối cao

TTLT

việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội
an toàn, lành mạnh, đồng thời góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở
tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện tinh
thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình
phạt để răn đe, giáo dục, cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương
thiện, có ích cho xã hội, qua đó bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm
chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật. Các tội phạm ngày càng phức tạp và đa dạng,
khác nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, do vậy để đấu tranh có hiệu
quả với các tội phạm, Nhà nước cũng đã quy định một hệ thống hình phạt rất phong
phú, đa dạng, nghiêm khắc và mang tính phân hoá cao để áp dụng đối với từng tội
phạm, từng người phạm tội. Ngoài việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
nhất là hình phạt nhằm trừng trị các hành vi phạm tội, thì luật hình sự còn có các
chế định đặc thù thể hiện tính nhân đạo nhằm cải tạo những người trót lầm lỡ mà
nhất thời phạm tội. Một trong những biện pháp tác động hình sự có ý nghĩa rất lớn
và được áp dụng hiệu quả trong thực tiễn là chế định án treo.
Chế định án treo là một biểu hiện rõ nét sự kết hợp hài hoà giữa phương
châm trừng trị với khoan hồng, thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của
Nhà nước ta, có tác dụng giáo dục, khuyến khích người phạm tội tự lao động, cải
tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trải qua một lịch sử phát

1


triển khá dài, quy định về án treo có nhiều thay đổi, nhiều văn bản hướng dẫn do
Tòa án ban hành nên việc áp dụng pháp luật về án treo cũng không ổn định, vẫn còn
nhiều vấn đề chưa thống nhất trong quan điểm, quan niệm về án treo, nhiều quy

quốc Việt Nam XHCN, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được
tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, việc cho bị cáo hưởng án treo đúng pháp luật
là việc thực hiện đúng quyền tư pháp, bảo vệ được công lý, quyền con người, quyền
công dân mà Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã
quy định.
Để góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung và chế định án
treo nói riêng, phát huy một cách có hiệu quả tác dụng của án treo trong đấu tranh
phòng, chống tội phạm, thì việc nghiên cứu một cách sâu rộng và toàn diện về chế
định án treo cũng như việc áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn thành phố Hà Nội là
cần thiết, đem lại một cách hiểu đúng đắn, toàn diện, thống nhất về án treo và áp
dụng án treo. Bên cạnh đó đánh giá những ưu điểm Tòa án nhân dân Hà Nội làm
được để học tập, nhân rộng trong cả nước đồng thời chỉ ra những hạn chế, thiếu sót
để rút kinh nghiệm và đề xuất phương hướng hoàn thiện, các giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng án treo trên thực tế cũng là mục đích của việc nghiên cứu đề tài.
Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Chế định án treo theo
pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn Thạc sĩ
luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về án
treo đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, chuyên gia hình
sự và cán bộ thực tiễn. Đến nay, ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã
có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, các
phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời được thể hiện ở một số luận văn, luận
án, sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận và giáo trình, như: “Những vấn đề cơ
bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)" của Lê Văn Cảm (2005), Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội; “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999” của Đinh Văn
Quế (2000); "Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự’’ của Viện Nghiên cứu
Nhà nước và Pháp luật; "Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" (sách chuyên khảo
của tập thể nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp do Nhà xuất bản Chính trị quốc


treo, thông qua so sánh các quy định trước đây để đánh giá các quy định hiện hành,

4


trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến của cá nhân nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
việc áp dụng pháp luật về án treo tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là
nghiên cứu các tài liệu chuyên môn, các văn bản quy phạm pháp luật, các Nghị
quyết, chương trình, đề án của cơ quan Nhà nước để tìm ra những điểm hợp lý và
bất cập trong các quy định pháp luật về án treo; đánh giá số liệu cho hưởng án treo
và thực tiễn xét xử các bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội, các bản án hình sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội để chỉ ra
những vi phạm, sai lầm trong thực tiễn cho hưởng án treo và những nguyên nhân
của vi phạm, sai lầm đó; nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật, hướng dẫn
của các cơ quan có thẩm quyền, phát hiện những vấn đề chưa quy định hoặc quy
định chưa rõ ràng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng án
treo đối với người phạm tội và giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định về án treo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận
chung về án treo; phân tích và làm sáng tỏ bản chất pháp lý của án treo theo quy
định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo của Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, luận văn làm sáng tỏ các quy định
của pháp luật về án treo, nghiên cứu khái quát lịch sử hình thành và phát triển pháp
luật hình sự về án treo; đánh giá thực tiễn việc áp dụng án treo trong hoạt động xét
xử của Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2011

tội phạm. Khái quát một số vấn đề về lịch sử hình thành và phát triển án treo; phân
tích số liệu thống kê của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2011 - 2015 để
đánh giá, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành, các
sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như tìm ra các nguyên nhân,
các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật

6


hình sự về án treo. Những đề xuất, kiến nghị của luận văn góp phần cung cấp những
luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng án
treo theo Bộ luật hình sự Việt Nam.
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo lý luận, nghiên cứu, học tập và có
giá trị trong việc xây dựng pháp luật hình sự, góp phần khắc phục những khiếm
khuyết trong thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, tạo ra
cách hiểu và vận dụng đúng đắn các quy định về án treo, tạo tiền đề cho việc áp
dụng pháp luật chính xác qua đó nâng cao hiệu quả của chế định này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận và lịch sử hình thành, phát triển của án treo
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự về cho hưởng án treo tại Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về án treo.

7


Chƣơng 1


06/11/2013 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 60 của BLHS về án treo,
tại Điều 1 đã định nghĩa: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều
kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn
cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần
buộc phải chấp hành hình phạt tù”.
Theo quy định của BLHS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 tại Điều
65 thì “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội
và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù,
thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm
năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi
hành án hình sự”.
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì án treo là biện pháp miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá ba năm tù, căn
cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không
cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. [27]
Theo Phó Giáo sư – Tiến sỹ khoa học Lê Văn Cảm thì “Án treo là biện
pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối
với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những
điều kiện do pháp luật hình sự quy định”. [6]
Theo giáo trình luật hình sự Việt Nam của trường đại học luật Hà Nội thì
“... Theo BLHS hiện nay, án treo thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự Việt Nam,
có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với
sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm
tội mới trong thời gian thử thách thì buộc phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên”.
[56, tr.230]

Từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia định nghĩa: “Án treo là chế định
pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt. Án treo được hiểu là việc

1.1.2. Bản chất pháp lý của án treo.
Về bản chất pháp lý thì án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có
điều kiện. Án treo là một biện pháp tác động hình sự không buộc người bị phạt tù
phải chấp hành hình phạt tại trại giam, không buộc họ phải cách ly khỏi xã hội mà
10


họ được tự cải tạo, giáo dục ở môi trường xã hội trong một thời gian thử thách nhất
định với sự giám sát, giáo dục và giúp đỡ của các cơ quan hoặc chính quyền địa
phương cùng với gia đình người bị kết án. Án treo không phải là một hình phạt mà
là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, nó cũng không phải là hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Trong hệ thống các hình phạt quy định tại Điều 28 BLHS
1999 và Điều 32 BLHS 2015 cũng không có án treo vì vậy ta có thể khẳng định án
treo không phải là hình phạt.
Không phải người phạm tội nào cũng có thể được Toà án cho hưởng án
treo mà BLHS quy định các điều kiện để Toà án có thể xem xét cho một người bị
phạt tù được hưởng án treo là mức án tù không quá ba năm, có nhân thân tốt, có
nhiều tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù. Khi
xét xử Toà án vẫn tuyên một mức án tù (không quá ba năm) tương xứng với tính
chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân đối với người phạm tội nhưng
tuyên bố cho họ hưởng án treo.
Cùng với việc quyết định cho hưởng án treo thì Toà án cũng ấn định một
thời gian thử thách đối với người phạm tội, trong thời gian này người phạm tội phải
tuân theo những điều kiện thử thách nhất định, nếu người phạm tội cải tạo tốt mà
không phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp
hành hình phạt tù, họ được miễn chấp hành hình phạt tù. Trong trường hợp này có
thể nói bản chất pháp lý của án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có
điều kiện. Điều kiện ở đây bao gồm điều kiện để được hưởng án treo và điều kiện
không phạm tội trong thời gian thử thách của án treo. Trong đó điều kiện để được
hưởng án treo là điều kiện cần để được xem xét cho miễn chấp hành hình phạt tù

hành vi phạm tội gây ra mà còn vì sự tiến bộ và khả năng cải tạo của người phạm
tội. Án treo là chế định pháp lý tiến bộ và nhân đạo xuất phát từ chính sách hình sự
“trừng trị kết hợp với giáo dục”, là biện pháp khoan hồng của Nhà nước áp dụng đối
với người phạm tội lần đầu, tội phạm đã thực hiện là ít nghiêm trọng, người đó có
nhân thân tốt, có nơi làm việc, cư trú rõ ràng, bản án được thi hành dưới sự hỗ trợ
và tham gia của xã hội nhằm giúp người bị kết án tự cải tạo, trở thành người có ích
cho xã hội. Án treo thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta
đối với người phạm tội, đó là sự tha thứ, khoan hồng có điều kiện, thể hiện tính bao

12


dung cao quý của người Việt Nam, sẵn sàng dang rộng tay dìu dắt người lầm lỗi để
giúp họ trở thành người lương thiện và có ích cho xã hội.
Áp dụng án treo còn giúp phát huy trách nhiệm của chính quyền địa phương
với cộng đồng trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời
gian thử thách, thu hút các thành viên trong xã hội tham gia vào việc cải tạo, giáo
dục người bị kết án, giúp người được hưởng án treo không bị phân biệt, xa lánh để
họ có điều kiện cải tạo, lao động và hòa nhập cộng đồng. Việc cải tạo người bị xử
phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng tác động tích cực trở lại góp phần nâng cao ý
thức trách nhiệm và ý thức pháp luật trong quần chúng nhân dân, là kênh tuyên
truyền, phổ biến pháp luật hiệu quả. Bản án dành cho người được hưởng án treo
cũng như những bất lợi khác mà họ phải gánh chịu do hành vi phạm tội của họ
mang lại là một bài học cảnh tỉnh, nhắc nhở và cảnh giác đối với những người xung
quanh để họ lấy đó làm bài học không mắc phải.
Án treo giúp hạn chế bớt chi phí chấp hành hình phạt tại trại giam, tiết kiệm
được ngân sách dùng để cải tạo phạm nhân và giảm bớt gánh nặng quá tải tại các
trại giam. Án treo là biện pháp cho phép tiết chế bớt nội dung nghiêm khắc, tạo điều
kiện hỗ trợ của xã hội và thông qua sự tác động hiệu quả của điều kiện thử thách.
Về mặt xã hội khi cho người phạm tội hưởng án treo, Nhà nước sẽ không phải giải

trong một thời kỳ dài với những khó khăn cả về mặt khách quan lẫn chủ quan,
chúng ta chưa có một BLHS hoàn chỉnh. Án treo cũng như các chế định khác của
luật hình sự được quy định chủ yếu trong các văn bản pháp luật hình sự riêng lẻ,
không có giá trị pháp lý cao, chủ yếu là các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân
dân tối cao vì lẽ đó mà chế định án treo được hiểu khác nhau và do đó, thậm chí còn
được vận dụng khác nhau.
Một trong những Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành trong thời
gian này có Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 về việc lập Toà án Quân sự ở Bắc Bộ,
Trung Bộ, Nam Bộ và quy định quyền hạn xét xử của các Toà án đó. Tại khoản 4
Điều IV của Sắc lệnh này có quy định: “Nếu có những lý do chính đáng khoan hồng
vì ít tuổi, vì biết hối quá, vì lầm lẫn, v.v..., thì Toà án có thể cho tội nhân được
hưởng án treo. Nghĩa là bản án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành; nếu trong
năm năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Toà án quân sự làm tội một
lần nữa về việc mới thì bản án đã tuyên sẽ huỷ đi, coi như là không có; nếu trong
hạn năm năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước Toà án quân sự thì bản án
14


treo sẽ đem thi hành” [10]. Tiếp đến tại Điều 10 của Sắc lệnh số 21 ngày
14/02/1946 về tổ chức các Tòa án quân sự của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa có quy định: “Khi phạt tù Tòa có thể cho tội nhân được
hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng. Bản án xử treo sẽ tạm đình
việc thi hành phạt tù. Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị
Tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi,
coi như không có. Nếu trong 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một
Tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành” [11]. Từ những quy định trích dẫn
trên có thể thấy, nội dung trong hai Sắc lệnh trên đều có quy định về án treo, nhưng
việc giải thích về án treo có sự khác nhau, cụ thể, tại Sắc lệnh số 21 án treo được
giải thích: Án treo là tạm đình việc thi hành hình phạt tù có điều kiện đối với người
được hưởng án treo, còn tại Sắc lệnh 33C thì án treo được giải thích là không thi

có điều kiện là không chính xác. Đồng thời với sự mâu thuẫn trong hướng dẫn ở
Thông tư này, việc không quy định các hình thức tổ chức quản lý, theo dõi, giám sát
người được hưởng án treo, người được hưởng án treo không bị hạn chế quyền lợi
gì, thời gian thử thách mà họ phải mang án tích tối đa cũng chỉ là 5 năm và đây là
một khiếm khuyết cơ bản trong Thông tư, tạo ra tâm lý coi án treo là án nhẹ nhất,
kéo theo tâm lý “chạy chọt” để được hưởng án treo không xác đáng.
Ngày 02/10/1974 Toà án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 19/TATC
hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm hình sự, trong đó có hướng dẫn về án treo.
Văn bản này lại cho rằng án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Cụ thể
là “…án treo phải được xem là hình thức xử lý nhẹ hơn án tù giam. Như vậy,
chuyển án tù treo sang án tù giam dù thời gian ngắn hơn cũng là tăng nặng hình
phạt. Ngược lại chuyển án tù giam sang tù treo, dù thời hạn dài hơn cũng là giảm
nhẹ hình phạt”. Quan điểm này thể hiện sự nhận thức không đúng đắn và đầy đủ về
án treo, mới chỉ thấy được hình thức bề ngoài mà chưa thấy được bản chất bên
trong cũng như giá trị pháp lý thực sự của án treo.
1.2.2. Án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1985 đến trước
năm 1999
Ngày 27/06/1985, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta, có hiệu lực thi hành từ
01/01/1986 đánh dấu một bước trưởng thành trong quá trình hoàn thiện và xây dựng

16


hệ thống pháp luật Việt Nam. Chế định án treo được quy định tại Điều 44 Bộ luật
hình sự năm 1985 với nội dung:
1) Khi xử phạt tù không quá 5 năm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội
và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì
Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
2) Tòa án giao người bị án treo cho cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội

Cũng như các văn bản pháp luật trước đây quy định về án treo, thì trong
BLHS án treo vẫn được coi là một chế định quan trọng thể hiện một cách đầy đủ
nhất nguyên tắc “trừng trị kết hợp với khoan hồng” và “nguyên tắc nhân đạo xã hội
chủ nghĩa” trong pháp luật hình sự của Nhà nước ta.
1.2.3. Án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1999 đến nay
Cùng với sự đổi mới của đất nước, sự hòa nhập với khu vực và thế giới, hệ
thống pháp luật của nước ta nói chung và luật hình sự nói riêng đã bộc lộ những
khuyết điểm cần phải sửa đổi. BLHS 1985 đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung và từng
bước đã thể hiện sự phù hợp, song nhu cầu sửa đổi, bổ sung toàn diện BLHS vẫn
cấp thiết. Chính vì vậy, ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X đã thông qua BLHS của
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2000. Ở BLHS này án treo được quy định tại Điều 60 và tuy vẫn giữ nguyên
5 khoản như ở Điều 44 BLHS năm 1985 nhưng đã được sửa đổi, bổ sung nhằm đảm
bảo chính xác hơn về mặt ngữ nghĩa. Điều 60 BLHS năm 1999 quy định về án treo
như sau:
1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội
và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì
Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó
thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối
hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục
người đó.
3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt
tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo
quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

18





kiện. Về điều kiện thử thách cũng nghiêm khắc hơn, trong thời gian thử thách nếu
phạm tội mới thì Tòa án quyết định buộc họ phải chấp hành hình phạt của bản án
trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới, trong khi BLHS 1985 quy định
người bị kết án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách nhưng do vô ý và không
bị phạt tù thì không buộc phải chấp hành hình phạt của bản án mới.
Thực tế trong thời gian qua cho thấy, do BLHS 1999 chưa quy định chế tài
đối với người được hưởng án treo vi phạm các nghĩa vụ trong thời gian thử thách,
dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, giám sát, giáo dục người bị áp dụng án
treo, nhất là đối với đối tượng tự ý bỏ đi khỏi nơi cư trú, không khai báo với chính
quyền địa phương hoặc không làm bản kiểm điểm theo định kỳ. Khi hết thời hạn
thử thách, mặc dù người được hưởng án treo vi phạm các nghĩa vụ trong thời gian
thử thách nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn buộc phải cấp giấy chứng nhận đã
chấp hành xong thời gian thử thách cho họ, gây bức xúc cho chính quyền địa
phương, người được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục; không thể hiện được tính
nghiêm minh của pháp luật và không đề cao được tác dụng giáo dục riêng và phòng
ngừa chung của án treo.
Chính vì vậy, trong điều kiện chúng ta đang tiếp tục hoàn thiện BLHS, chế
định án treo cũng cần có những nghiên cứu, sửa đổi phù hợp với diễn biến của tình
hình tội phạm trong thời kỳ đổi mới thống nhất với quan điểm của Đảng ta trong Văn
kiện Đại hội Đảng VI: “chúng ta quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không chỉ bằng
đạo lý” và nguyên tắc pháp chế được ghi nhận trong khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm
2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã
hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Bộ luật hình sự 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
thông qua ngày 27/11/2015 cơ bản vẫn giữ nguyên quy định án treo như BLHS
1999. Tuy nhiên án treo là một trong số các điều được bổ sung mới, giúp cho việc
quản lý những người thi hành án treo được chặt chẽ hơn. Điều 65 BLHS 2015 quy
định về án treo là tiếp tục kế thừa chế định này của truyền thống lập pháp Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status