VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
______________________________
TRẦN CÔNG TÚ
KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
______________________________
TRẦN CÔNG TÚ
KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN
KINH DOANH, THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN
TÀI SẢN ĐỂ BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI ................................................................................................................... 7
1.1. Khái quát về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương
mại ..................................................................................................................... 7
1.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án
kinh doanh, thương mại .................................................................................. 20
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐÊ BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG.... 29
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án
kinh doanh, thương mại .................................................................................. 29
2.2. Thực hiện pháp luật về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh
doanh, thương mại từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng ....................................... 43
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐÊ BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .... 60
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành
án kinh doanh, thương mại ............................................................................... 60
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án
kinh doanh, thương mại .................................................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
mình trong bản án, quyết định của Toà án.
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung
năm 2014 đã có nhiều quy định mới về kê biên tài sản nhưng vẫn còn nhiều
bất cập, có nhiều kẽ hở, quy định không rõ ràng hoặc chồng chéo, mâu thuẫn
với các quy định pháp luật về đất đai, pháp luật về nhà ở...dẫn đến quá trình
áp dụng gặp nhiều vướng mắc, dễ sai phạm. Mặc dù đã có nhiều công trình
nghiên cứu về pháp luật thi hành án dân sự nhưng vẫn chưa phản ánh toàn
diện, đầy đủ các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên
tài sản để thi hành án. Vì vậy, vấn đề kê biên tài sản cần phải có các công
trình nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng biện
pháp kê biên tài sản nói chung và kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh
doanh, thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự nói riêng.
Thực tiễn vấn đề kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh
thương mại theo pháp luật thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong giải quyết những vụ án khó,
kéo dài, án tồn đọng lâu năm, đảm bảo tình hình an ninh, chính trị xã hội
được giữ vững, các quan hệ dân sự được pháp luật bảo vệ, thể hiện tính răn đe
và nghiêm minh của pháp luật.
1
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, vấn đề áp dụng kê biên tài sản
để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại theo pháp luật thi hành án
dân sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng vẫn còn những vướng mắc, bất cập nhất
định như nhiều bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng chậm tổ chức
thi hành; việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên còn tồn tại những khó
khăn..., các nguyên nhân chủ quan và khách quan liên quan đến vấn đề này có
thể xuất phát từ những bất cập của pháp luật về kê biên tài sản hoặc do công tác
phối hợp kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại theo
nâng cao nhận thức và áp dụng hiệu quả hơn công tác kê biên tài sản để bảo
đảm thi hành án kinh doanh, thương mại trong thi hành án dân sự trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn được xác định là:
- Làm rõ các vấn đề lý luận chung về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành
án kinh doanh, thương mại như khái niệm, đặc điểm và trình tự, thủ tục áp
dụng pháp luật để kê biên tài sản bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại
trong thi hành án dân sự.
- Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật về kê biên tài
sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại trong thi hành án dân sự
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó, đi sâu phân tích những kết quả đã đạt
được và những hạn chế, tồn tại, làm rõ những nguyên nhân của thực trạng đó.
- Xây dựng quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại trong
thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về kê biên tài sản để bảo đảm
thi hành án kinh doanh, thương mại; hệ thống các quy định pháp luật liên
4
quan đến kê biên tài sản để thi hành án và thực trạng áp dụng pháp luật về vấn
đề trên tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án
kinh doanh, thương mại trong thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng giai đoạn từ năm 2014, sau khi Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ
mại trong thi hành án dân sự từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. Cung cấp một
góc nhìn mới và để tạo cơ sở sau này có thể phát triển lên các đề tài ở mức
cao hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu được chia thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về kê biên tài sản để bảo đảm
thi hành án kinh doanh, thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về kê biên tài
sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kê biên
tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN
TÀI SẢN ĐỂ BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh,
thương mại
1.1.1. Khái niệm kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh,
thương mại
1.1.1.1. Khái niệm về kê biên tài sản
Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, thì “kê”
được hiểu là viết lần lượt vào từng tên, từng thứ một [38; tr. 224], còn “biên”
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
(iii) Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có
giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
(iv) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp
giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành
viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa
các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển
đổi hình thức tổ chức của công ty.
(v) Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp
thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của
pháp luật [26].
Như vậy, ta có thể hiểu án kinh doanh, thương mại là văn bản pháp lý
được Toà án có thẩm quyền, theo một trình tự tố tụng do luật định có nội
dung tuyên bố về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi hoặc quan
8
hệ pháp luật phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại mà ít nhất một
bên chủ thể trong tranh chấp có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận.
1.1.1.3. Khái niệm kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án kinh doanh,
thương mại
Kê biên tài sản đang tranh chấp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 là một biện pháp khẩn cấp tạm thời, do Toà án quyết định theo
yêu cầu của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong vụ án dân
sự, nhằm mục đích để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo
vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có và tránh gây thiệt hại không thể khắc
phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án. Từ khái niệm này cho thấy, kê biên
tài sản đang tranh chấp trong tố tụng dân sự là biện pháp mang tính chất khẩn
phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự
nguyện nhưng cần ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản... Ngoài ra, biện
pháp kê biên tài sản còn phải tuân thủ những nguyên tắc riêng như: Mọi tài
sản của người phải thi hành án đều có thể bị kê biên để thi hành án trừ những
tài sản mà pháp luật quy định không được kê biên; người phải thi hành án có
quyền thỏa thuận với người được thi hành án về tài sản được kê biên để đảm
bảo thi hành án; trong trường hợp không thỏa thuận được thì người phải thi
hành án có quyền đề nghị thứ tự kê biên tài sản và chấp hành viên phải chấp
hành để nghị đó nếu đề nghị đó không cản trở việc thi hành án. Nếu người
phải thi hành án không có đề nghị kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc
quyền sở hữu riêng của người phải thi hành án được kê biên trước; nếu người
phải thi hành án không có hoặc không đủ tài sản riêng để thi hành án thì mới
kê biên đến tài sản chung của người phải thi hành án với người khác. Trong
số những tài sản thuộc diện kê biên, thì kê biên bất động sản trước, sau khi kê
biên hết các động sản mà vẫn không đủ để thi hành án thì kê biên các động
sản. Chấp hành viên chỉ được kê biên tài sản của người phải thi hành án tương
ứng với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí liên quan. Nếu người phải thi
10
hành án chỉ có một tài sản duy nhất có giá trị lớn hơn nghĩa vụ phải thực hiện
mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc nếu phân chia sẽ làm giảm đáng
kể giá trị của tài sản thì chấp hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản đó. Nếu
tài sản của người phải thi hành án đã được cầm cố, thế chấp cho người khác
nhưng tài sản đó có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm bằng việc cầm cố,
thế chấp hoặc người phải thi hành án không còn tài sản nào khác thì chấp
hành viên vẫn có quyền kê biên tài sản này để thực hiện thi hành án. Đây là
biện pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán
tài sản thông qua một giao dịch dân sự khác.
Trong quá trình kê kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án kinh doanh
thương mại các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân không được phép can
thiệp làm ảnh hưởng đến quá trình kê biên, làm cho quá trình kê biên không
đúng với bản án, quyết định, chậm tiến hành kê biên hoặc kê biên không đúng
quy định theo pháp luật. Chỉ người có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật mới có quyền dừng việc kê biên. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất
định, quá trình kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án kinh doanh thương mại
ảnh hưởng đến trật tự, an ninh chính trị trên địa bàn của địa phương nên cần
có ý kiến của Ban chỉ đạo thi hành án. Nhưng sự phụ thuộc này cũng không
có nghĩa là các cơ quan có liên quan có quyền can thiệp, yêu cầu cơ quan thi
hành dân sự kê biên trái với pháp luật, mà chỉ có tính chất bổ trợ, tạo điều
kiện để việc kê biên có hiêu quả hơn, nhanh hơn đồng thời cũng phù hợp hơn
với tình hình an ninh, chính trị địa phương.
Thứ ba, hoạt động kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án kinh doanh
thương mại có tính chất cưỡng chế
Cưỡng chế là một tích chất cơ bản của pháp luật. Tính chất cưỡng chế
làm cho pháp luật khác với đạo đức và phong tục. Theo V.I. Lênin, thì pháp
luật sẽ không còn là gì nữa nếu không có một bộ máy có đủ sức cưỡng bức
12
người ta tuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền có cũng
như không [10, tr. 63].
Các quy tắc đạo đức, phong tục được con người tuân theo, chủ yếu nhờ vào
sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểu biết và tác động của xã hội; còn quy phạm pháp
luật được Nhà nước bảo đảm thi hành, nếu ai không chấp hành thì Nhà nước sẽ
cưỡng chế thi hành. Cưỡng chế nhà nước được áp dụng vì lợi ích của Nhà nước,
xã hội và công dân do các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền nhân danh,
đại diện cho quyền lực nhà nước áp dụng. Như vậy, cưỡng chế nhà nước mang
chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan
xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án. Quyết
định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành
án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án; yêu cầu cơ
quan công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của
pháp luật. Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt
vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý
kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người vi phạm; quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền,
tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi
hành án và các khoản phải nộp khác. Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi
thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ. Thực hiện nhiệm vụ khác theo
sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Khi thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín”. Bên cạnh đó, Điều 11 Luật
Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định trách
nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự,
chấp hành viên: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ
quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân
14
sự trong việc thi hành án; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách
nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên theo
quy định của Luật này. Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với
hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên đều bị xử lý theo
quy định của pháp luật”.
Từ những căn cứ nêu trên có thể khẳng định, chấp hành viên của cơ quan
đang cầm cố, thế chấp để bảo đảm thi hành án kinh doanh, thương mại được
quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm
2014 về kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp như sau:
(i) Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc
có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, chấp hành viên có quyền kê biên,
xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của
tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
(ii) Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, chấp hành viên phải thông
báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên,
người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại
khoản 3 Điều 47 của Luật Thi hành án dân sự.
Điều luật này thiết kế cho những khoản nghĩa vụ chưa có bản án, quyết
định của Tòa án nhưng cơ quan thi hành án dân sự xác minh được tài sản của
người phải thi hành án nhưng tài sản này đã đảm bảo cho một nghĩa vụ khác.
Những tài sản đã cầm cố, thế chấp để bảo đảm thi hành án kinh doanh thương
mại, thì thông thường không cần phải tiến hành xác minh thi hành án nữa, mà
tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật, nếu đương sự không tự nguyện
thi hành án dân sự theo Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi,
bổ sung năm 2014 về thời hạn tự nguyện thi hành án, cụ thể: Thời hạn tự
nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được
quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án;
trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại
16
tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì chấp hành viên
áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật Thi hành án dân sự.
Nếu quá thời hạn trên, thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án theo Điều 46: “Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều
qua hoạt động kê biên tài sản để thi hành án làm cho các phán quyết của Toà
án được hiện thực hoá, các mối quan hệ xã hội bị xâm hại được khôi phục,
trật tự pháp luật được bảo đảm; quyền, lợi ích hợp pháp được công nhận và
bảo vệ trên thực tế thông qua sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước; tác động
đến ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án nói riêng và của
toàn xã hội nói chung. Cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và kê biên tài
sản nói riêng góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị đất nước, đảm bảo
tính thượng tôn của pháp luật, tạo tiền đề phát triển kinh tế - xã hội.
Hoạt động thi hành án thi hành án dân sự nói riêng có một vai trò quan
trọng trong hoạt động Nhà nước. Thông qua cơ quan thi hành án dân sự,
những phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện quyền lực, ý chí
của Nhà nước được trở hành hiện thực, đảm báo tính nghiêm minh của pháp
luật, quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết thúc khi bản án, quyết định của
Tòa án được thi hành kịp thời và đầy đủ. Nếu công tác thi hành án dân sự
không được quan tâm và không có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực, tác
động đến toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, trật tự kỷ
cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước không được coi trọng, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại.
Thi hành án dân sự đạt hiệu quả sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân đối với
tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần khôi phục lại những quan hệ xã hội
mà pháp luật bảo vệ. Ngược lại, một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật mà không được thi hành trên thực tế cho thấy sự thiếu nghiêm minh
của pháp luật, làm mất niềm tin của nhân dân với hệ thống pháp luật[15; tr27].
18
Hai là, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân
Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân đặc
thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát