Hoàn thiện công tác an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc khmer huyện Trà Cú, tỉnh Trà - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TĂNG THỊ NHÀN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC AN SINH XÃ HỘI
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER
HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VÕ XUÂN TIẾN

Đà Nẵng - Năm 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn
trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ ràng nguồn gốc của các tài liệu.

Tác giả luận văn

TĂNG THỊ NHÀN


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

Sóc Trăng ................................................................................................ 32
1.4.2. Kinh nghiệm thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc
thiểu số Thành phố Cần Thơ................................................................... 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN SINH XÃ HỘI ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER HUYỆN TRÀ CÚ....................... 40
2.1. TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN TRÀ CÚ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÔNG TÁC AN SINH XÃ HỘI............................................................................40
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên ..................................................... 40
2.1.2. Đặc điểm xã hội ............................................................................. 43
2.1.3. Đặc điểm về điều kiện kinh tế ....................................................... 48
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN SINH XÃ HỘI CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC KHMER HUYỆN TRÀ CÚ THỜI GIAN QUA...............................50
2.2.1. Thực trạng công tác bảo hiểm xã hội............................................. 50
2.2.2. Thực trạng công tác bảo hiểm y tế................................................. 57
2.2.3. Thực trạng công tác cứu trợ xã hội................................................ 63
2.2.4. Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo....................................... 69
2.2.5. Thực trạng hoạt động ưu đãi xã hội............................................... 79
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC AN SINH XÃ HỘI CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER HUYỆN TRÀ CÚ THỜI GIAN QUA ... 82
2.3.1. Những thành công và hạn chế ....................................................... 82
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế................................................... 84
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ASXH CHO
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER HUYỆN TRÀ CÚ ............................... 86


3.1. CƠ SỞ CHO VIỆC XÂY DỰNG GIẢI PHÁP .............................................86
3.1.1. Xu hướng của chính sách an sinh xã hội hiện nay ........................ 86
3.1.2. Chiến lược phát triển KT-XH của huyện Trà Cú .......................... 86
3.1.3. Các quan điểm định hướng khi xây dựng giải pháp...................... 87
3.2. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ .............................................................................89


CTXH

Cứu trợ xã hội

ĐBDT

Đồng bào dân tộc

ĐHQGHN

Đại học quốc gia Hà Nội

ILO

Tổ chức lao động quốc tế

ISSA

Hiệp hội An sinh quốc tế

KL/TW

Kết luận/Trung ương

KT-XH

Kinh tế - xã hội

NSNN


BNN

Bệnh nghề nghiệp


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

2.1

Tình hình sử dụng đất trên địa bàn thời gian qua

42

2.2

Tình hình dân số huyện Trà Cú năm 2010,2011

44

2.3

Tình hình dân số huyện Trà Cú năm 2012,2013


Mức độ bao phủ của BHXH trên địa bàn huyện Trà Cú

52

Tình hình thu BHXH trên địa bàn huyện Trà Cú thời
gian qua

53

2.10

Số người nhận BHXH của huyện Trà Cú qua các năm

55

2.11

Tình hình chi trả BHXH trên địa bàn huyện thời gian qua

56

2.12

2.13

Thu - chi hàng năm của quỹ BHXH huyện Trà Cú thời
gian qua

57

2.18

Đối tượng cứu trợ thường xuyên huyện Trà Cú thời gian
qua

64

2.19

Kinh phí thực hiện cứu trợ thường xuyên huyện Trà Cú

65

2.20

Đối tượng thực hiện cứu trợ đột xuất huyện Trà Cú

67

2.21

Kinh phí thực hiện cứu trợ đột xuất huyện Trà Cú

68

2.22

2.23

Cơ sở hạ tầng và kinh phí CT 135 huyện Trà Cú thời


81


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề an sinh xã hội (ASXH) đang là vấn đề thu
hút sự quan tâm của toàn xã hội và luôn được đặt lên hàng đầu trong chính sách
phát triển bền vững của quốc gia. ASXH không chỉ là việc bảo đảm thực hiện
các quyền con người, hướng vào phát triển con người với những giá trị mang
tính xã hội, nhân văn và nhân đạo sâu sắc mà còn thể hiện trách nhiệm cao của
Nhà nước, của cộng đồng xã hội và của mọi công dân, đem lại hiệu quả kinh tế xã hội (KT-XH) to lớn. Thực hiện tốt chính sách ASXH, bảo đảm tiến bộ và
công bằng xã hội sẽ góp phần tăng trưởng và phát triển bền vững.
Trà Cú là một huyện nghèo có đông đồng bào dân tộc khmer của tỉnh
Trà Vinh, điều kiện KT-XH còn rất nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân
hầu hết dựa vào ngành nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
và bằng nghề đan đát tre và dệt chiếu là chính nên mức sống còn rất thấp.
Trong thời gian qua, các chính sách ASXH của Nhà nước đã được
Chính quyền địa phương nhanh chóng triển khai đến với người dân và đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc đảm bảo cuộc sống người dân
trên địa bàn.
Tuy nhiên, công tác ASXH trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập, đời sống
người dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu việc làm, đối tượng tham gia BHXH
còn thấp, chất lượng khám chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế chưa tốt…Vì
vậy, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác an sinh xã hội cho đồng bào
dân tộc khmer huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh” làm định hướng nghiên cứu
cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu

Chương 1: Các vấn đề lý luận về an sinh xã hội


3

Chương 2: Thực trạng công tác an sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc
khmer huyện Trà Cú thời gian qua
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác an sinh xã hội cho đồng bào
dân tộc khmer huyện Trà Cú.
6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng lần đầu tiên trên thế giới
trong Đạo luật về ASXH năm 1935 ở Mỹ. Đạo luật này quy định thực hiện
chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Sau đó,
thuật ngữ này lại được sử dụng trong một đạo luật của New Zealand năm
1938 và trong Hiến chương Đại Tây Dương năm 1941, trong thời gian diễn ra
Chiến tranh thế giới thứ hai. ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một
trong những quyền con người. Nội dung của nó đã được ghi nhận trong Tuyên
ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948.
Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã
thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối
thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9
bộ phận, đó là chăm sóc y tế, ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động,
trợ cấp gia đình, thai sản, mất sức lao động và tuất.
Sau đó, vấn đề này đã được nhiều nhà kinh tế học ở các nước trên thế
giới nghiên cứu một cách cơ bản, trong đó đặc biệt là các nước XHCN cũ
(như Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức), Mỹ, EU (Anh, Cộng hoà liên bang
Đức, Thụy Điển), Nhật Bản và một số nước đang phát triển khác. Trong các
viện nghiên cứu, các trường đại học ở các nước, vấn đề ASXH đã được xuất
bản thành nhiều giáo trình, nhiều sách chuyên khảo, nhiều bài báo công bố
trên các tạp chí chuyên ngành. Ở nhiều nước trên thế giới đã xây dựng những

đảm xã hội vừa là nhân tố ổn định, vừa là động lực cho phát triển KT-XH. Đề
tài đã nghiên cứu khá công phu về các bộ phận cấu thành quan trọng của bảo
đảm xã hội là BHXH, CTXH, ƯĐXH; đã đánh giá thực trạng của các bộ phận
cấu thành này, chỉ ra những thành tựu, hạn chế của nó và chỉ ra quan điểm,


5

phương hướng và giải pháp phát triển trong tương lai của hệ thống bảo đảm
xã hội ở nước ta.
Trong những năm gần đây, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về
những vấn đề có liên quan đến ASXH. Có thể nêu lên một số công trình của
các tác giả như sau: Mai Ngọc Cường, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính
sách an sinh xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2009; Hoàng Chí
Bảo(2008), Vấn đề ASXH ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận Chính trị số
2. Mai Ngọc Anh (2009), ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị
trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Hà Nội. 3. Nguyễn Văn Thắng
(2013), Nghiên cứu hiệu quả Báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh
xã hội ở Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế, Luận án tiến sĩ chuyên ngành báo
chí học, đại học quốc gia Hà Nội, Nguyễn Hữu Dũng (2010), “Hệ thống chính
sách ASXH ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển”, tạp chí Khoa
học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh số 26, TS.Phạm Hiệp (2012) Chuyển
đổi nhận thức về an sinh xã hội vì phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh
xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạp chí cộng
sản, hội thảo quốc tế về ASXH cho khu vực phi chính thức cũng đã có phiên
họp bàn về “Hệ thống ASXH Việt Nam” tạp chí viện hàn lâm khoa học xã hội
Việt Nam, kết luận số 63-KL/TW, ngày 27/5/2013 hội nghị lần thứ bảy ban
chấp hành trung ương khóa XI về một số vấn đề cải cách chính sách tiền
lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách
đến 2020, . . .

nghiệp; CTXH.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm
70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài
Gòn. Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn và đặc biệt là từ
những năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn. Mặc dù ASXH là một


7

lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều
học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này:
- Quan niệm về ASXH, GS.TS Mai Ngọc Cường cho rằng, để thấy hết
được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp
của khái niệm này.
+ Theo nghĩa rộng: “ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con
người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội”[8,tr21].
+ Theo nghĩa hẹp: “ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện
thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất
thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho
những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế,
người bị thiên tai địch hoạ”[8,tr22].
- Theo PGS.TS Nguyễn Hải Hữu thì "ASXH là một hệ thống các cơ chế,
chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên
trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về KT-XH làm cho họ có nguy
cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề
nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách
quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng
đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về BHXH, BHYT và CTXH"[17].
- Còn GS Hoàng Chí Bảo lại cho rằng: ASXH là sự an toàn của cuộc
sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát

- ASXH đảm bảo cho các đối tượng “yếu thế” nói riêng và người lao động
nói chung được chăm sóc, bảo vệ khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là tạo
cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện cần thiết để khắc phục
những rủi ro xã hội, có cơ hội để phát triển và hoà nhập vào cộng đồng.
- ASXH là công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong
cộng đồng. Nếu công tác ASXH được thực hiện tốt thì sẽ giải quyết tốt các
vấn đề xã hội.


9

- ASXH góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội. Mục tiêu cơ bản
của an sinh xã hội là tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư,
cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro
tham gia. An sinh xã hội phải thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội.
Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, an
sinh xã hội còn phải đa dạng hoá các hình thức hoạt động khác nhau đối với
các đối tượng khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
- ASXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân
tương ái giữa những con người trong xã hội. Sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau
trong cộng đồng là một trong những nhân tố để ổn định và phát triển xã hội
đồng thời nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người giúp cho xã
hội phát triển lành mạnh.
- ASXH còn đóng vai trò tích cực đối với sự ổn định tình hình chính trị
của đất nước. Điều này cũng dễ nhận ra bởi vì tình hình KT-XH của đất nước
có ổn định, có vững mạnh thì tình hình chính trị mới ổn định và vững mạnh.
Như vậy, bằng những biện pháp của mình, ASXH tạo ra “lưới chắn” an
toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong cộng
đồng khi bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều
nguyên nhân khác nhau gọi là những “rủi ro xã hội”[30].

phải chịu thấp [32].
Xã hội càng phát triển, người ta càng quan tâm đến công bằng xã hội. Công
bằng xã hội không chỉ giới hạn ở công bằng về kinh tế mà còn là công bằng
trong các lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế...
Công bằng xã hội được thể hiện trên ba phương diện chủ yếu sau: công
bằng về cơ hội phát triển (học tập, lao động, việc làm, tiếp cận các nguồn lực
và điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh...), công bằng về phân phối sản
phẩm xã hội, công bằng về quan hệ phát triển giữa các vùng miền, các nhóm,
tầng lớp xã hội, thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng chính


11

sách và những đối tượng yếu thế.
b. Phân phối lại thu nhập
Phân phối lại thu nhập là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu
nhập cơ bản đã hình thành qua phân phối lần đầu ra phạm vi rộng hơn (toàn
xã hội) nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu về nhiều mặt của xã hội và điều tiết thu
nhập giữa các tầng lớp dân cư. Nói cách khác, đây là quá trình điều chỉnh thu
nhập của các tầng lớp dân cư để bảo đảm công bằng xã hội, góp phần mở rộng
và phát triển nền sản xuất, thực hiện an sinh xã hội, cũng như tăng mức thu
nhập và tiêu dùng thực tế của nhân dân.
Phân phối lại thu nhập xã hội là sự can thiệp của Nhà nước thông qua
các quy định của pháp luật, của các chính sách để vận động, thuyết phục
những người có thu nhập cao đóng góp để cùng nhà nước giúp đỡ cộng đồng
và những người có thu nhập thấp. Phân phối lại thu nhập có thể thực hiện
bằng nhiều cách như: thông qua chính sách thuế, thông qua các chính sách an
sinh xã hội vĩ mô, hay thông qua các cuộc vận động, các phong trào hỗ trợ…
Như vậy, để giảm khoảng cách thu nhập và mức độ giàu nghèo hiện nay
và nguy cơ về bất bình đẳng trong xã hội thì một trong những giải pháp mà

không có sự nhân nhượng. Nói cách khác, không có sự gia tăng phúc lợi của
cá nhân khá giả nào có thể bù đắp lại cho xã hội về giảm phúc lợi của cá nhân
nghèo khổ. Mục tiêu xã hội này thường được gọi là tiêu chuẩn cực đại thấp
nhất, vì mục tiêu ở đây là cực đại hóa mức thỏa dụng của người có mức thỏa
dụng thấp nhất [32].
1.1.4. Các nguyên tác cơ bản của công tác an sinh xã hội
ASXH thể hiện quyền cơ bản của con người và là công cụ để xây dựng
một xã hội hài hòa, văn minh và không có sự loại trừ. ASXH có hai nguyên
tắc cơ bản là:
Thứ nhất, nhà nước quản lý hoạt động ASXH. Nhà nước có trách nhiệm
tổ chức các biện pháp bảo đảm xã hội đối với các đối tượng bị giảm hoặc mất


13

thu nhập; ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý điều chỉnh
các hoạt động của ASXH; thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của
ASXH; tăng cường công tác thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm mọi hành vi
vi phạm pháp luật về ASXH và hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện hoạt
động ASXH trong phạm vi cả nước.
Thứ hai, thực hiện ASXH trên cơ sở bảo đảm xã hội cho mọi người bị
giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập do bị
mất việc làm, do gặp thiên tai, hoả hoạn hoặc các rủi ro khác thông qua sự
đóng góp của các bên, sự trợ giúp của xã hội, sự chia sẻ của cộng đồng cũng
như là sự bảo trợ của nhà nước.
Như vậy, ASXH không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện
mục đích xã hội vì cộng đồng, mức ASXH nhằm trợ giúp bảo đảm nhu cầu tối
thiểu cho những người thụ hưởng. Bên cạnh đó, thông qua tác động tích cực
của các chính sách chăm sóc sức khỏe, an toàn thu nhập và các dịch vụ xã hội
sẽ nâng cao năng suất lao động, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu lao động nói riêng

- BHXH được coi là cột trụ chính của hệ thống ASXH Việt Nam, cung
cấp sự trợ giúp về mặt vật chất cho những người lao động - lực lượng đóng
vai trò quan trọng nhất trong xã hội - trong những trường hợp gặp rủi ro làm
giảm hoặc mất nguồn thu nhập vì lý do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, hưu trí và chết.
a. Bản chất bảo hiểm xã hội
- BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm an toàn xã hội.
- BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
bảo hiểm, thông qua việc hình thành quỹ tiền tệ chung.
- Khi được nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật, BHXH đã trở thành
quyền cơ bản của người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế.
Đồng thời đó cũng là trách nhiệm của họ và người sử dụng lao động phải
tham gia BHXH. Vì vậy, BHXH là một chính sách xã hội quan trọng, là bộ
phận cơ bản để đảm bảo ASXH của các quốc gia.


15

b. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
Thứ nhất, nguyên tắc đóng-hưởng. Có nghĩa là người lao động với tư
cách là người tham gia đóng thì được hưởng BHXH.
Thứ hai, nguyên tắc mọi người đều có quyền tham gia BHXH và có
quyền hưởng BHXH khi có các nhu cầu bảo hiểm.
Thứ ba, nguyên tắc Nhà nước phải có trách nhiệm bảo hiểm (bảo hộ) đối
với quỹ BHXH của người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm tự
bảo hiểm cho mình.
Thứ tư, nguyên tắc số đông bù số ít. Có nghĩa là mọi người tham gia
BHXH đóng góp cho bên nhận BHXH (cơ quan BHXH) tồn tích dần thành
quỹ BHXH độc lập và tập trung dùng để chi trả trợ cấp cho những người lao
động khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động theo

mà hình thành nên quỹ BHXH. Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, do cơ
quan chức năng quản lý thống nhất theo chế độ tài chính, hạch toán độc lập và
được Nhà nước ủng hộ.
- Chế độ hưởng và thời gian hưởng bảo hiểm xã hội
Chế độ hưởng bảo hiểm xã hội gồm hai loại: chế độ bảo hiểm xã hội dài
hạn và chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn.
+ Chế độ hưởng bảo hiểm xã hội dài hạn gồm: hưu trí, mất sức, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất.
+ Chế độ hưởng bảo hiểm xã hội ngắn hạn gồm: trợ cấp ốm đau, thai
sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, hưởng trợ cấp một lần và truy lĩnh.
Thời gian hưởng trợ cấp thường ổn định và lâu dài, ví dụ: thời gian tối
đa hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động là một năm. Riêng đối với sĩ
quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân thì thời gian này tùy thuộc
vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân…
- Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội
Mức hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội chủ yếu căn cứ vào mức đóng góp


17

của người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội nhiều hay ít và mức độ rủi ro,
thương tật của người lao động, ví dụ: Mức hưởng chế độ ốm đau của người
lao động bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng
liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm
trở lên và nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba
mươi năm thì mức hưởng bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm
xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc…
1.2.2. Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một hình thức bảo hiểm do Nhà nước tổ chức thực hiện,
nhằm chăm sóc sức khỏe cho người tham gia theo quy định của pháp luật,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status