Thực hành quyền công tố đối với tội giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ HỒNG PHƢƠNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI
TỘI GIẾT NGƢỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ HỒNG PHƢƠNG

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI
TỘI GIẾT NGƢỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành

: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số

: 60.38.01.04

3.1. Yêu cầu của thực hành quyền công tố đối với tội giết người từ thực tiễn tại
Tiền Giang ................................................................................................................55
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố đối với tội giết người
từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang .....................................................................................57
KẾT LUẬN ................................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................74
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

- Bộ luật hình sự

BLTTHS

- Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT

- Cơ quan điều tra

ĐTV

- Điều tra viên

KSHĐTP

- Kiểm sát hoạt động tư pháp

kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án tham nhũng, kinh tế, chức vụ và trật tự
xã hội (Phòng 2) - Viện KSND tỉnh Tiền Giang.
Bảng 2.4: Tình hình VKS phê chuẩn quyết định tố tụng về tội giết người.
Bảng 2.5: Tình hình VKS yêu cầu CQĐT khởi tố về tội giết người từ năm
2012 đến năm 2016.
Bảng 2.6: Tình hình VKS yêu cầu CQĐT khởi tố bị can trong vụ án về tội gây
rối trật tự công cộng, che giấu tội phạm... từ năm 2012 đến năm 2016.
Bảng 2.7: VKS yêu cầu CQĐT thay đổi tội danh từ tội Cố ý gây thương tích
sang tội Giết người.



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hành quyền công tố (THQCT) trong tố tụng hình sự là hoạt động quan
trọng, cơ bản của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), nhằm thực hiện một trong ba
chức năng của tố tụng hình sự: Chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội và chức năng
xét xử.
Ở Việt Nam, chức năng THQCT của VKSND đã được ghi nhận trong các nghị
quyết của Đảng. Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW, về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, theo đó: “VKS các cấp thực hiện tốt
chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp.
Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá
trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm
oan người vô tội. Nâng cao chất lượng công tố của KSV tại phiên tòa, bảo đảm
tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” [3].
Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt

giả Trần Thị Ngọc Thức. Những công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến cơ
sở lý luận của QCT, THQCT hoặc chỉ nghiên cứu THQCT ở một giai đoạn tố tụng
nhất định như giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử vụ án hình sự, chưa nghiên cứu
THQCT suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự về một tội danh cụ thể.
Đề tài “Thực hành quyền công tố đối với tội giết người theo pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang” là đề tài nghiên cứu THQCT chuyên
sâu về một tội danh và suốt quá trình giải quyết vụ án. Dạng đề tài này được một số
tác giả nghiên cứu và các công trình khoa học đã được công bố như:
- Sách chuyên khảo: Cơ sở lý luận, thực trạng của điều tra và truy tố cáctội
phạm về ma túy của Nguyễn Thị Mai Nga [10].
- Luận văn thạc sĩ: THQCT đối với tội Buôn lậu từ thực tiễn thành phố Hồ Chí
Minh của tác giả Đỗ Thị Quí [13]. Luận văn thạc sĩ: Nguyên nhân, điều kiện của tội
giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang của tác giả Trần Chí Tâm [18].
Các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai, Đỗ Thị Quí mặc dù đã
đề cập đến THQCT về tội danh cụ thể nhưng lại nghiên cứu đối với vụ án buôn lậu,
3


ma túy. Trong khi đó luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Chí Tâm nghiên cứu về tội
Giết người trên địa bàn tỉnh Tiền Giang nhưng lại đánh giá tình hình, nguyên nhân
và giải pháp phòng ngừa đối với tội giết người, phục vụ cho công tác đấu tranh
phòng ngừa tội phạm, mà không đề cập đến chức năng, nhiệm vụ, cũng như chưa đi
sâu làm rõ về mặt lý luận của VKS về THQCT đối với tội giết người trong suốt quá
trình giải quyết vụ án từ khi tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố; trong giai đoạn điều tra; truy tố và xét xử.
Như vậy, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu thực hành quyền công tố
các vụ án hình sự nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về thực trạng
thực hành quyền công tố đối với tội Giết người từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang trong
những năm vừa qua. Trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận nền tảng, cũng như
những tri thức về thực hành quyền công tố các vụ án hình sự nói chung cũng như

BLTTHS năm 2015 và chỉ ra những điểm mới, sửa đổi bổ sung đã được khắc phục
những quy định pháp luật cũ không phù hợp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ cho phép, luận văn chỉ nghiên cứu về lý luận, pháp luật THQCT và
thực tiễn công tác THQCT ở các giai đoạn giải quyết nguồn tin tội phạm; giai đoạn khởi tố,
điều tra; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với tội giết người theo quy định
BLTTHS năm 2003 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong 05 năm (từ năm 2012 đến năm
2016).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của
Đảng về nhà nước và pháp luật nói chung và tổ chức, hoạt động của VKS nhân dân
nói riêng.
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể
như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên
cứu.
6.Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề lý luận cơ bản về THQCT;
5


Trên cơ sở khảo sát thực tế, đánh giá, phân tích thực trạng công tác THQCT
đối với tội giết người ở tỉnh Tiền Giang, luận văn tìm ra các giải pháp nâng cao chất
lượng THQCT đối với các VAHS nói chung và đối với các vụ án giết người nói
riêng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
học tập và nghiên cứu liên quan đến hoạt động THQCT cũng như đối với các nhà
hoạch định chính sách pháp luật và đặc biệt là cán bộ VKSND tỉnh Tiền Giang
trong công tác thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn

Trong các tài liệu pháp lý của nước ta, hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau
về khái niệm QCT và nội dung QCT: Một số nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm
QCT dưới góc độ rất rộng, có tác giả cho rằng, mọi hoạt động kiểm sát tuân theo
pháp luật đều là THQCT, coi công tố không phải là chức năng độc lập của VKSND,
mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo
pháp luật [19, tr.85-87]. Chúng tôi cho rằng quan điểm này là chưa chính xác vì đã
đồng nhất QCT với chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật (nay là KSHĐTP) của
VKS, không phân định hai chức năng cơ bản VKS mặc dù có mối quan hệ nhau
nhưng hoàn toàn độc lập nhau đó là THQCT và KSHĐTP.
Quan điểm khác cho rằng QCT là quyền của VKS khi xuất hiện các hành vi
vi phạm pháp luật và nhu cầu bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân. QCT
7


không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà là sự cáo buộc của Nhà nước
đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm pháp luật hành
chính, vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế và luật hình sự [24, tr. 82-88]. Theo quan
điểm này việc tiếp cận QCT dưới góc độ như trên là quá rộng, xóa nhòa ranh giới
và tính đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng khác, đồng nhất QCT
với các quyền năng, nhiệm vụ khác của VKS.
Một số tác giả lại có xu hướng thu hẹp khái niệm QCT. Có quan điểm cho
rằng, QCT chỉ là việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà án, thực hiện sự buộc tội tại
phiên toà [25, tr.11]. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong
việc thực hiện QCT trong tố tụng hình sự và chỉ được thực thi ở giai đoạn xét xử, là
chưa phù hợp thực tế, bởi l trên thực tế QCT còn được thực hiện trong suốt quá
trình giải quyết vụ án hình sự, ngay từ khi Cơ quan điều tra (CQĐT) tiếp nhận tin
báo, tố giác tội phạm.
Như vậy QCT chính là sự buộc tội của nhà nước, phát sinh khi có tội phạm tức hành vi nguy hiểm xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ xảy ra. Đó là quan hệ giữa một bên là nhà nước (bên có quyền lực và đứng ra
buộc tội) và người phạm tội (là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự). QCT chỉ

đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác tin báo về tội
phạm, kiến nghị khổi tố và trong suốt qua trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự” [15].
Tuy nhiên chúng tôi thấy rằng khái niệm THQCT của tác giả Lê Hữu Thể
chưa nêu ra yếu tố chủ thể THQCT là VKS nhân dân. Trong khi đó Điều 3 Luật tổ
chức VKSND năm 2014 quy định THQCT được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố… là chưa đầy đủ. Bởi l trên thực tế
hoạt động THQCT của VKS phát sinh không chỉ từ khi giải quyết tố giác, tin báo
tội phạm và kiến nghị khởi tố mà trong các trường hợp khác như: khi người phạm
tội ra tự thú, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền điều tra (Cơ quan điều tra, Cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) trực tiếp phát hiện người
phạm tội quả tang… và ra Quyết định tạm giữ người, khi đó VKS đã tham gia
THQCT, cụ thể: xem xét tính có căn cứ của quyết định tạm giữ hoặc phê chuẩn
quyết định gia hạn tạm giữ trong trường hợp này. Điều này phù hợp với quy định
9


tại Điều 159 BLTTHS năm 2015: VKSTHQCT từ khi cơ quan có thẩm quyền giải
quyết nguồn tin về tội phạm (chứ không phải giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố). Vì vậy tác giả luận văn cho rằng THQCT được thực hiện từ
khi Cơ quan có thẩm quyền điều tra (Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra) giải quyết nguồn tin về tội phạm là mang tính
chất toàn diện và đầy đủ nhất.
Từ những phân tích trên, đồng thời qua nghiên cứu những khái niệm về
THQCT và các quan điểm khác nhau cũng như quy định pháp luật hiện hành, tác
giả luận văn có thể đưa ra khái niệm THQCT như sau:“Thực hành quyền công tố là
hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của
Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi cơ quan có thẩm
quyền điều tra (Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra) giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố,

phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác được Hiến pháp và
pháp luật hình sự ghi nhận, bảo vệ.
Từ các phân tích nêu trên tác giả luận văn mạnh dạn đưa ra khái niệm THQCT
đối với tội giết người như sau:
“Thực hành quyền công tố đối với tội giết người là hoạt động của VKS trong
tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 93 của BLHS 1999 (Điều 123
BLHS năm 2015), xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của
người khác; được thực hiện từ khi cơ quan có thẩm quyền điều tra giải quyết nguồn
tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án; nhằm
đảm bảo không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”.
1.1.2.Đặc điểm của thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Từ khái niệm trên chúng ta có thể đưa ra những đặc điểm chung, cơ bản của
THQCT đối với tội giết người như sau:
Thứ nhất, THQCT trong đối với tội giết người chỉ do VKS tiến hành. Dưới góc độ
chức năng của chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì THQCT là chức năng mà
nhà nước chỉ giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng duy nhất là
VKS.Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác không có chức năng này.
11


Cơ sở lý luận là những nguyên lý của V.I. Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và
vai trò của VKS, về vai trò và bổn phận của ủy viên công tố; cơ sở pháp lý được
đưa ra là các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKS từ năm 1959 đến nay,
thì chức năng THQCT được giao cho cơ quan VKS [8, tr 11].
Thứ hai, hoạt động THQCT đối với tội giết người chỉ tồn tại trong lĩnh vực
TTHS, là hoạt động thực hiện quyền truy cứu TNHS đối với người phạm tội, quyết
định việc buộc tội và gỡ tội, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn... đối với
người phạm tội, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định truy tố người phạm tội ra
trước Tòa án, không có trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp.

toàn diện, khách quan khi THQCT trong vụ án giết người để không để xảy ra oan,
sai hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội; bảo vệ quyền con người. Theo đó
THQCT không chỉ là thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội.
Thứ năm, trong số các vụ án hình sự mà VKS THQCT thì tội giết người là một
trong các tội có tính chất đặt biệt nghiêm trọng với mức án cao nhất là tử hình bởi l
nó xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người khác - một
trong những quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người. Giết người là tội
phạm mà người phạm tội thường sử dụng để thực hiện các tội phạm khác (Giết
người để cướp tài sản) hoặc giết người để che giấu tội phạm khác (Hiếp dâm xong
giết người). Dưới góc độ định tội danh, hậu quả chết người do hành vi phạm tội gây
ra, ngoài định tội danh theo Điều 93 BLHS còn phải xem xét, đối chiếu so sánh với
nhiều cấu thành tội phạm khác: Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng, giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh, cố ý gây thương tích
dẫn đến chết người…Với tính chất đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp nêu trên. Vì
vậy THQCT đối với tội giết người là một trong những hoạt động đòi hỏi Kiểm sát
viên phải có kỹ năng nghiệp vụ, trình độ và tiêu chuẩn nhất định mới đáp ứng
nhiệm vụ đặt ra.
1.1.3. Đối tượng, phạm vi thực hành quyền công tố đối với tội giết người
* Đối tượng của thực hành quyền công tố đối với tội giết người
Đối tượng của THQCT không phải mọi hành vi vi phạm pháp luật mà chỉ là
hành vi xâm phạm những quan hệ xã hội quan trọng, được nhà nước bảo vệ và được
quy định trong BLHS. THQCT chỉ tác động vào những hành vi xâm phạm quan hệ
13


pháp luật hình sự và người đã thực hiện hành vi đó. Vì vậy, đối tượng của THQCT
nói chunglà tội phạm và người phạm tội.
Đối tượng của THQCT đối với tội giết người là yếu tố mà THQCT tác động
tới nhằm thực hiện mục đích truy cứu TNHS và buộc tội những người có hành vi
xâm hại tính mạng con người nhằm làm triệt tiêu quyền được sống của người khác.

không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, huỷ bỏ
quyết định tạm giữ, huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án và yêu cầu khởi tố vụ
án... là hoạt động THQCT của VKS và có thể thực hiện trước khi khởi tố vụ án
hình sự. Như vậy, thời điểm bắt đầu của hoạt động THQCT xuất hiện từ trước khi
khởi tố vụ án. Tiếp đó, THQCT tiếp tục được thực hiện trong giai đoạn khởi tố,
điều tra, truy tố cho đến khi vụ án được xét xử và có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên,
không phải trong mọi trường hợp, phạm vi THQCT đều kéo dài đến giai đoạn xét
xử, có những căn cứ có thể làm chấm dứt việc THQCT như: không có sự việc
phạm tội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực TNHS,
đã hết thời hiệu truy cứu TNHS, đình chỉ vụ án... dẫn đến vấn đề triệt tiêu THQCT
ở giai đoạn tố tụng sớm hơn.
Trên thực tế hoạt động THQCT của VKS phát sinh không chỉ trong trường
hợp Cơ quan điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố mà
trong các trường hợp khác, như: khi người phạm tội ra tự thú, hoặc khi cơ quan có
thẩm quyền điều tra trực tiếp phát hiện người phạm tội quả tang (đây không phải là
tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố) và ra Quyết định tạm giữ người. Việc
VKS phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, huỷ bỏ quyết định tạm giữ trong
trường hợp này cũng thuộc nội dung THQCT. Vì vậy chúng tôi cho rằng thời điểm
bắt đầu THQCT từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết nguồn
tin về tội phạm là đầy đủ nhất (không phải chỉ trong trường hợp giải quyết tố giác,
tin báo tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố).
Trên cơ sở phân tích như trên, chúng tôi cho rằng, phạm vi THQCT đối với tội
giết người bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết nguồn
tin về tội phạm và chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo,
kháng nghị, hoặc khi vụ án bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

15


1.1.4. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư


được củng cố thêm về sự chính xác và bảo đảm tính khách quan khi dựa trên kết
quả của hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật, tức là quá trình kiểm tra tính có căn
cứ và hợp pháp trong các tình tiết của vụ án để từ đó thực hiện các quyền năng
thuộc phạm vi QCT. Ngược lại, hoạt động THQCT chính là sự thể hiện quyền năng
của VKS trong tố tụng hình sự, là một trong những biện pháp để bảo đảm tính khả
thi trong hoạt động phát hiện và loại trừ vi phạm pháp luật như: khi phát hiện vi
phạm, tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, của người tiến hành tố tụng cố ý làm
sai lệch hồ sơ vụ án, bức cung, nhục hình…, VKS có thẩm quyền khởi tố, điều tra
và xử lý theo quy định pháp luật.
1.2. Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội giết
ngƣời
1.2.1. Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm và kiến nghị khởi tố tội giết người
BLTTHS năm 2003 chỉ quy định chung về chức của VKS trong kiểm sát giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tại Điều 101, 103 BLTTHS
năm 2003 và hướng dẫn tại Điều 12 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCABQP-BTC- BNN&PTNT-VKSNDTC của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài
chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, VKS nhân dân tối cao mà chưa quy
định rõ quyền năng cụ thể của VKS và cơ chế pháp lý để bảo đảm cho VKS thực
hiện tốt quyền năng đó. Chính vì vậy, Điều 12 Luật tổ chức VKS nhân dân năm
2014 và đặc biệt là tại các điều 145, 146, 147, 148, 150 BLTTHS năm 2015 đã có
nhiều sửa đổi quan trọng theo hướng quy định cụ thể hơn, chính thức ghi nhận hoạt
động THQCT trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi
tố; quy định rõ nội dung của THQCT trong giai đoạn này, cụ thể:
- Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện
pháp khác:
Theo quy định tại Điều 81, Điều 87 BLTTHS năm 2003, VKS có quyền quyết
định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, gia hạn tạm
giữ nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, bảo đảm người bị tình nghi
17

nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS nhân dân đã yêu cầu nhưng
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status