CHÍNH SÁCH VỀ VIỆC LỒNG GHÉP QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG VÀO CÁC QUY TRÌNH CỦA CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI
Được thông qua tại kỳ họp lần thứ 20 Hội đồng các quốc gia thành viên của
Công ước Di sản Thế giới (UNESCO 2015)
Peter Bille Larsen
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHÍNH SÁCH
Nhận thấy rằng Công ước 1972 về Bảo về Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế
giới là một phần không thể tách rời trong sứ mệnh của UNESCO nhằm thúc đẩy phát
triển bền vững1, củng cố hoà bình và an ninh2,với mục tiêu đảm bảo sự thống nhất về
chính sách với chương trình phát triển bền vững của Liên Hợp Quốcnhư được nêu rõ
trong tài liệu “Biến đổi thế giới của chúng ta: chương trình nghị sự về phát triển bền
vững 2030”3, với các tiêu chuẩn nhân đạo quốc tế hiện hành và các hiệp định đa
phương về môi trường, các quốc gia thành viên cần “đảm bảo sự cân bằng hợp lý và
công bằng giữa bảo tồn, bền vững và phát triển sao cho các Di sản Thế giới có thể
được bảo vệ thông qua các hoạt động phù hợp, đóng góp vào phát triển kinh tế và xã
hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng”4.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhân khẩu học, bất bình đẳng gia tăng, các
nguồn lực ngày càng khan hiếm và các mối đe dọa đối với di sản ngày càng hiện hữu,
càng cần thiết phải cân nhắc những mục tiêu bảo tồn, bao gồm cả những mục tiêu của
Công ước Di sản Thế giới, trong khuôn khổ lớn hơn của các giá trị và nhu cầu kinh tế,
xã hội và môi trường chứa đựng trong khái niệm phát triển bền vững.
Bằng cách xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho các thế hệ hiện
tại và tương lai những di sản văn hoá và thiên nhiên có Giá trị Nổi bật Toàn cầu không
thể thay thế được, Công ước Di sản Thế giới góp phần quan trọng vào sự phát triển
bền vững và sự phồn vinh của con người.5 Đồng thời, việc tăng cường ba khía cạnh
của phát triển bền vững bao gồm sự bền vững của môi trường, phát triển kinh tế toàn
1
Danh sách các thuật ngữ chính được cung cấp trong phần Phụ lục.
Đây là hai mục tiêu tổng thể của UNESCO được nêu rõ trong Chiến lược Trung hạn của tổ chức (C4), có thể
thúc đẩy những mô hình sáng tạo của phát triển bền vững thông qua hơn 1000 di sản
đã được công nhận trên toàn thế giới. Hơn nữa, sự ra đời của chính sách là cần thiết vì
cuối cùng, nếu lĩnh vực di sản không đi theo hướng phát triển bền vững và khai thác
những lợi ích di sản và xã hội có thể mang lại cho nhau thì chính lĩnh vực này sẽ trở
thành nạn nhân, chứ không phải là chất xúc tác cho những thay đổi lớn hơn.
2. NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHUNG
Các quốc gia thành viên cần công nhận, bằng các cách phù hợp, rằng những
chiến lược bảo tồn và quản lý Di sản Thế giới được kết hợp với quan điểm phát triển
bền vững không chỉ bảo tồn các Giá trị Nổi bật Toàn cầu mà còn hướng đến sự phồn
vinh của các thế hệ hôm nay và mai sau.
Những chiến lược này phải dựa trên những nguyên tắc tổng thể dưới đây, phù
hợp với Hiến chương của Liên Hợp Quốc và Chương trình nghị sự 2030, đặc biệt là
theo đoạn 10-12:7
6
Khung phát triển bền vững và các khía cạnh được sử dụng từ Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc về
phát triển bền vững.
7
Những nguyên tắc này bắt nguồn từ Báo cáo của Tổ công tác Liên Hợp Quốc “Hiện thực hóa một tương lai
chúng ta mong muốn cho mọi người”.
2
- Quyền Con người8- Các quyền con người được nêu trong Hiến chương Liên
Hợp Quốc và một loạt các văn kiện về nhân quyền đã được phê chuẩn một cách rộng
rãi phản ánh những giá trị căn bản làm nền tảng cho nhân phẩm, hoà bình và phát triển
bền vững. Do đó, trong quá trình thực hiện Công ước Di sản Thế giới, cần tôn trọng,
bảo vệ và thúc đẩy các quyền môi trường, xã hội, kinh tế, và văn hoá.
3
cầu và việc theo đuổi các mục tiêu phát triển bền vững. Điều này bao gồm việc tôn
trọng và tham gia của tất cả các bên liên quan và bên có quyền, trong đó có các dân tộc
bản địa và cộng đồng địa phương, thiết lập các quy định và cơ chế phối hợp hiệu quả
giữa các tổ chức để đánh giá có hệ thống những ảnh hưởng của những đề xuất phát
triển đến môi trường, xã hội và kinh tế, cũng như giám sát một cách hiệu quả thông
qua việc thu thập dữ liệu liên tục theo các chỉ số được chấp nhận.
Các quốc gia thành viên cần tiếp tục nhận thức rằng, đối với nhiều Di sản Thế
giới, đạt được phát triển bền vững đòi hỏi phải hoạt động ở một quy mô lớn hơn rất
nhiều so với bản thân di sản đó và rằng, trong quá trình này, một số khía cạnh của phát
triển bền vững có thể có liên quan nhiều hơn so với những khía cạnh khác. Vì vậy, các
quốc gia thành viên cần phải tích hợp các phương pháp bảo tồn và quản lý các Di sản
Thế giới trong các quy hoạch tại địa phương của mình, đặc biệt cần cân nhắc tới tính
toàn vẹn của các hệ thống sinh thái xã hội. Trong trường hợp này, tiềm năng của các
vùng đệm (và những công cụ tương tự khác) nên được khai thác đầy đủ. Chúng cần
phải được xem không chỉ như một lớp bảo vệ bổ sung mà còn là công cụ lập kế hoạch
để tăng cường lợi ích chung cho cộng đồng địa phương và các cộng đồng khác có liên
quan và cho chính di sản đó. Thêm vào đó, chính sách này cũng cần được coi như một
hướng dẫn chung vì không phải tất cả các điều khoản đều phải được áp dụng cho tất cả
các khu Di sản Thế giới, và cần có một cơ chế để áp dụng những điều khoản này khi
phù hợp.
Việc tích hợp quan điểm phát triển bền vững vào các quy trình của Công ước Di
sản Thế giới đòi hỏi phải xây dựng năng lực phù hợp cho những người thi hành Công
ước Di sản Thế giới, các cơ quan tổ chức, cộng đồng và mạng lưới có liên quan thông
qua một phạm vi liên ngành và bao quát nhiều lĩnh vực. Với mục đích này, các quốc
gia thành viên cần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển các công cụ và hướng dẫn,
tổ chức đào tạo và giáo dục chất lượng thông qua các môi trường học tập được thiết kế
phù hợp cho từng đối tượng. Để đạt được điều này, cần cân nhắc sự tham gia đóng góp
khu Di sản Thế giới để đảm bảo sự nhất quán về chính sách và sự tương hỗ lẫn nhau
giữa chính sách với những hiệp định đa phương khác về môi trường. Điều này đòi hỏi
phải có sự tương tác có trách nhiệm với môi trường ở các di sản thiên nhiên và văn
hoá, tránh làm suy giảm hoặc suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo
chất lượng môi trường trong dài hạn và tăng cường khả năng thích ứng với thiên tai và
biến đổi khí hậu.
- Bảo vệ đa dạng sinh học, đa dạng văn hoá, các dịch vụ và lợi ích của hệ sinh
thái
9
Xem trang 2 và 3 của tài liệu “Biến đổi thế giới của chúng ta: Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền
vững”. Phần thứ 5 được nhắc đến trong tài liệu này, “hợp tác”, có thể được hiểu chính là Công ước Di sản Thế
giới, vì đây là một công cụ quốc tế quan trọng nhất cho việc hợp tác trong lĩnh vực bảo tồn di sản.
5
Các quốc gia thành viên cần đảm bảo rằng đa dạng sinh học và văn hoá, cũng
như những dịch vụ và lợi ích của hệ sinh thái đối với con người góp phần tạo nên sự
bền vững của môi trường phải được bảo vệ và tăng cường tại các Di sản Thế giới, các
vùng đệm của các di sản và những khu vực xung quanh rộng lớn hơn.10Với mục đích
này, các quốc gia thành viên cần phải:
+ Lồng ghép những quan tâm về đa dạng sinh học và văn hoá, cũng như những
dịch vụ và lợi ích của hệ sinh thái trong bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới, bao
gồm cả di sản văn hoá và hỗn hợp,
+ Tránh, và nếu không thể thì giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường
và đa dạng văn hoá trong quá trình bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới và môi
trường xung quanh chúng. Có thể đạt được điều này bằng cách thúc đẩy những công
cụ đánh giá tác động đến môi trường, văn hóa và xã hội khi tiến hành quy hoạch trong
các lĩnh vực như phát triển đô thị, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng, khai khoáng và
quanh chúng, cũng như nâng cao khả năng thích ứng về kinh tế và xã hội của các cộng
đồng địa phương và những cộng đồng chịu tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu,
thông qua các biện pháp công trình và phi công trình, bao gồm nâng cao nhận thức,
đào tạo và giáo dục trong quá trình bảo tồn các Giá trị Nổi bật Toàn cầu. Các biện
pháp công trình không được gây ảnh hưởng tiêu cực đến Giá trị Nổi bật Toàn cầu của
Di sản Thế giới;
+ Tăng cường chuẩn bị để ứng phó hiệu quả và “xây dựng lại tốt hơn” trong các
chiến lược khôi phục sau thiên tai trong hệ thống quản lý và thông lệ bảo tồn các Di
sản Thế giới.
- Phát triển xã hội cho mọi người
Điều 5 trong Công ước Di sản Thế giới đã kêu gọi các quốc gia thành viên
“thông qua một chính sách chung với mục tiêu trao cho di sản văn hoá và thiên nhiên
một chức năng trong đời sống cộng đồng”. Các quốc gia thành viên phải nhận thức
được phát triển xã hội cho mọi người là trung tâm của việc thực hiện điều khoản này
của Công ước. Các quốc gia thành viên phải nhận thức hơn nữa rằng việc tham gia đầy
đủ, tôn trọng và công bằng của các bên liên quan, trong đó có các cộng đồng địa
phương, các cộng đồng có liên quan và các dân tộc bản địa, với cam kết bình đẳng
giới, là tiền đề căn bản của phát triển xã hội cho mọi người. Nâng cao chất lượng cuộc
sống và sự phồn vinh trong và xung quanh khu vực Di sản Thế giới là rất cần thiết và
cần phải cân nhắc đến các cộng đồng người dân, cho dù họ không đến thăm quan,
không sinh sống trong hoặc gần các di sản. Phát triển cho mọi người phải được củng
cố trong các biện pháp quản trị toàn diện và dung hợp.
- Đóng góp vào sự dung hợp và công bằng
Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng việc bảo tồn và quản lý các Di sản
Thế giới phải dựa trên sự công nhận về đa dạng văn hóa, sự dung hợp và công bằng.
Với mục đích này, các quốc gia thành viên phải cam kết thực hiện các chính sách, can
thiệp và các biện pháp bảo tồn và quản lý trong và xung quanh các Di sản Thế giới để
đạt được những mục tiêu sau cho tất cả những bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa
phương:
quyền con người như một điều kiện tiên quyết để đạt được phát triển bền vững một
cách hiệu quả. Với mục đích này, các quốc gia thành viên cần:
12
Truy cập Hiến chương UNESCO tại: http://unesdoc.unesco.org/images/0022/002269/226924e.pdf#page=6 và
chiến lược về Quyền Con người của UNESCO tại: http://unesdoc.unesco.org/images/0014/001457/145734e.pdf
8
+ Đảm bảo rằng toàn bộ chu trình của các quy trình di sản từ đề cử tới quản lý
phải tương thích và ủng hộ quyền con người;
+ Thông qua phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người, thúc đẩy các
Di sản Thế giới trở thành những hình mẫu của việc áp dụng những tiêu chuẩn cao nhất
về tôn trọng và hiện thực hoá quyền con người;
+ Phát triển, thông qua sự tham gia bình đẳng của những người có liên quan,
những tiêu chuẩn và biện pháp bảo vệ phù hợp, các công cụ hướng dẫn và cơ chế hoạt
động cho các quy trình khảo sát, đề cử, quản lý, đánh giá và báo cáo tương thích với
phương pháp tiếp cận hiệu quả dựa trên cơ sở quyền con người đối với những di sản
hiện có và di sản tiềm năng;
+ Tăng cường hợp tác kỹ thuật và xây dựng năng lực để đảm bảo sử dụng hiệu
quả các phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người.
- Tôn trọng, tham vấn ý kiến và khuyến khích sự tham gia của các dân tộc bản
địa và cộng đồng địa phương
Một trong những mục tiêu chiến lược của Công ước Di sản Thế giới là “tăng
cường vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện” (Quyết định 31COM 13B). Uỷ ban
Di sản Thế giới đặc biệt khuyến khích sự tham gia của các dân tộc bản địa và cộng
đồng địa phương trong việc ra quyết định, giám sát và đánh giá các Di sản Thế giới và
sự tôn trọng quyền của các dân tộc bản địa trong việc đề cử, quản lý và báo cáo về các
viên và các cơ quan quản lý của UNESCO phải “xây dựng các chính sách và biện pháp
thực hành nhạy cảm giới, có trách nhiệm giới và thay đổi về giới trong lĩnh vực di
sản”. Bên cạnh đó, thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái rất
quan trọng trong việc đạt được phát triển bền vững và là một trong những mục tiêu
phát triển bền vững sau 201516. Do đó, các quốc gia thành viên nên:
+ Đảm bảo tôn trọng bình đẳng giới trong toàn bộ chu kỳ của các quy trình di
sản, đặc biệt là trong quá trình chuẩn bị và trong nội dung của hồ sơ đề cử;
+ Đảm bảo các cơ hội về xã hội và kinh tế của cả nữ giới và nam giới trong và
xung quanh khu vực Di sản Thế giới;
+ Đảm bảo có sự tham vấn bình đẳng và tôn trọng, có sự tham gia đầy đủ và hiệu
quả, có cơ hội công bằng về lãnh đạo và đại diện cho cả nữ giới và nam giới trong các
hoạt động bảo tồn và quản lý các Di sản Thế giới;
+ Nếu phù hợp, đảm bảo rằng những thực hành truyền thống tại các Di sản Thế
giớicó phân biệt về giới, ví dụ trong lĩnh vực tiếp cận, tham gia hay quản lý, có sự
đồng ý hoàn toàn của tất cả các nhóm người trong cộng đồng địa phương, thông qua
các quy trình tham vấn minh bạch, có tôn trọng bình đẳng giới.
14
Xem thêm đoạn 123 của Hướng dẫn thực hiện Công ước, đặc biệt là liên quan đến quá trình đề cử.
“Ưu tiên Châu Phi” là ưu tiên toàn cầu thứ hai của UNESCO
16
Thông tin tham khảo quan trọng liên quan đến di sản được nêu trong Báo cáo “Bình đẳng giới, di sản và sáng
tạo”
do
UNESCO
xuất
bản
năm
2014
phương, bao gồm cả những người chịu thiệt thòi;
+ Tạo thu nhập khá và sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương, bao gồm cả
những người chịu thiệt thòi;
+ Cân bằng cơ chế thị trường hiệu quả và các chính sách công, tạo quan hệ đối
tác công-tư, động lực kinh tế và hợp tác liên ngành để đảm bảo chia sẻ lợi ích giữa tất
cả các bên liên quan trong và xung quanh các Di sản Thế giới.
17
Điều này đã được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (A/RES/68/223) về Văn hoá và
Phát triển bền vững (2013) cũng như Tuyên ngôn Hàng Châu vào tháng 5/2015 “Đặt văn hoá vào vị trí trung tâm
của các chính sách phát triển bền vững”. Xem thêm chú thích số 10.
18
Không phải mọi hoạt động kinh tế đều tương thích với việc bảo vệ các Giá trị Nổi bật Toàn cầu. Ví dụ, những
ngành công nghiệp khai thác liên quan đến dầu, khí đốt và khoáng sản đã tạo ra những thách thức đáng kể. Theo
Quyết định 37COM 7 (§8), Uỷ ban Di sản Thế giới đã kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên của công ước Di
sản Thế giới và những bên liên quan đến ngành công nghiệp này “tôn trọng cam kết “Không đi” bằng cách
không cho phép các hoạt động khai khoáng trong các Di sản Thế giới, và nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng các
công ty khai khoáng được đặt trong vùng lãnh thổ của các Di sản Thế giới không gây ra bất kỳ thiệt hại nào cho
các Di sản Thế giới, theo quy định tại Điều 6 của Công ước”.
11
- Thúc đẩy đầu tư kinh tế và du lịch có chất lượng
Di sản thế giới là những điểm đến quan trọng mà nếu quản lý được tốt thì sẽ có
tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế cho mọi người tại địa phương, tăng cường tính
bền vững và khả năng ứng phó của xã hội. Phát triển những hình thức du lịch bền
vững, trong đó có du lịch dựa vào cộng đồng, gắn liền với đầu tư kinh tế toàn diện và
công bằng để đảm bảo chia sẻ lợi ích trong và xung quanh các Di sản Thế giới19. Vì lý
12
+ Phát triển các chương trình giáo dục và xây dựng năng lực dựa vào đổi mới và
tinh thần kinh doanh địa phương, đặc biệt hướng đến các cấp quy mô nhỏ, vừa và siêu
nhỏ, để thúc đẩy những lợi ích kinh tế bền vững cho cộng đồng địa phương;
+ Xác định và thúc đẩy các cơ hội đầu tư công và tư vào các dự án phát triển bền
vững giúp tăng cường các ngành văn hoá và sáng tạo địa phương và bảo tồn di sản phi
vật thể có liên quan đến Di sản Thế giới.
- Củng cố hoà bình và an ninh
Chiến tranh, xung đột dân sự và các hình thức bạo lực đang làm suy yếu quá
trình phát triển bền vững và bảo tồn di sản thiên nhiên và văn hoá của thế giới. Công
ước Di sản Thế giới là một phần không thể thiếu trong nhiệm vụ của UNESCO nhằm
xây dựng cầu nối hướng tới hoà bình và an ninh. Do đó, phận sự của các quốc gia
thành viên, phù hợp với các quy định của Công ước La Hay năm 1954 về Bảo vệ tài
sản văn hoá trong trường hợp có xung đột vũ trangvà hai Nghị định thư của Công ước
(năm 1954 và năm 1999) đối với các quốc gia đã phê chuẩn công ước này, cũng như
phù hợp với Tuyên ngôn của UNESCO về việc hủy hoại các di sản văn hóa (2003) và
luật tập quán quốc tế bảo vệ tài sản văn hoá trong trường hợp có xung đột vũ trang, là
đảm bảo việc thực hiện Công ước Di sản Thế giới nhằm hướng đến việc đạt được và
duy trì hoà bình và an ninh giữa và trong các quốc gia thành viên.
Nhắc lại Tuyên ngôn toàn cầu của UNESCO về Đa dạng Văn hoá (2001), các
quốc gia thành viên phải thừa nhận sự đa dạng văn hoá trong và xung quanh các Di
sản Thế giới, và thúc đẩy một phương pháp tiếp cận đa văn hoá trong các chiến lược
bảo tồn và quản lý.20 Các quốc gia thành viên cũng cần nhận thấy rằng hoà bình và an
ninh, trong đó bao gồm tự do khỏi xung đột, phân biệt đối xử và các hình thức bạo lực,
đòi hỏi sự tôn trọng quyền con người, các hệ hống tư pháp hiệu quả, các quy trình
chính trị toàn diện và những hệ thống phù hợp để ngăn ngừa xung đột, cũng như giải
quyết và phục hồi sau xung đột.
- Đảm bảo ngăn ngừa xung đột
+ Cân nhắc, và khi phù hợp, xác định, đề cử và quản lý các di sản văn hoá xuyên
biên giới/xuyên quốc gia và hỗ trợ tư vấn để thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia
thành viên láng giềng và các quốc gia thành viên không có cùng biên giới nhưng chia
sẻ di sản chung.
- Bảo vệ di sản trong các cuộc xung đột
Trong xung đột vũ trang, các quốc gia thành viên phải kiềm chế không sử dụng
Di sản Thế giới và môi trường ngay xung quanh các di sản cho những mục đích có khả
năng khiến chúng bị phá huỷ hoặc hư hại. Các quốc gia thành viên cũng phải tránh các
hành động phá hoại hướng tới những di sản này. Với mục đích này, các quốc gia thành
viên nên:
+ Đảm bảo, nếu phù hợp, sự tuân thủ của các lực lượng vũ trang theo các quy
định của Công ước La Hay 1954 và hai Nghị định thư của Công ước này (năm 1954 và
năm 1999),hoặc những nguyên tắc của luật tập quán quốc tế bảo vệ tài sản văn hoá
14
trong trường hợp có xung đột vũ trang khi một quốc gia thành viên tham gia vào xung
đột vũ trang;
+ Đảm bảo công tác quản lý và bảo tồn Di sản Thế giới được coi trọng trong quá
trình lập kế hoạch quân sự và trong các chương trình đào tạo về quân sự.
- Tăng cường giải quyết xung đột
Tiềm năng vốn có của các Di sản Thế giới và của công tác bảo tồn Di sản Thế
giới trong việc đóng góp tích cực vào giải quyết xung đột và thiết lập lại hoà bình và
an ninh phải được thừa nhận và khai thác. Với mục đích này, các quốc gia thành viên
nên:
Đảm bảo rằng những cân nhắc đến bảo tồn di sản phải được đưa vào trong nội
dung đàm phán nhằm mục đích chấm dứt xung đột vũ trang và tình trạng bất ổn dân
sự.
- Góp phần tái thiết sau xung đột
Trong quá trình xung đột và khi kết thúc xung đột, các Di sản Thế giới và môi
“Xây dựng lại tốt hơn” (Build Back Better)
Nguyên tắc “Xây dựng lại tốt hơn”nói đến quá trình tái thiết của cộng đồng và tài
sản của họ theo một cách thức khiến cho họ bớt bị tổn thương khi có thảm họa và củng
cố khả năng phục hồi của họ bằng cách phòng ngừa những rủi ro thảm họa mới hoặc
giảm nhẹ những rủi ro thảm họa hiện có.
Biến đổi khí hậu:
Sự thay đổi của khí hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây
ra làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động
khí hậu tự nhiên được quan sát trong các khoảng thời gian tương đồng (UNFCCC,
Điều 1).
Nhạy cảm giao thoa văn hoá:
“Nhạy cảm giao thoa văn hoá” là một sản phẩm phụ tự nhiên của nhận thức, đề
cập tới khả năng hiểu được các tình huống, bối cảnh và hành vi bắt nguồn từ đặc điểm
văn hoá và có thể phản ứng một cách phù hợp với những tình huống, bối cảnh và hành
vi đó. Một phản ứng phù hợp đòi hỏi chủ thể không được phép có những nhận định do
các đặc điểm về văn hoá của bản thân quyết định về tình huống hoặc hành vi (ví dụ:
tốt/xấu, đúng/sai) mà chỉ có thể được hình thành qua kiến thức và nhận thức về giao
thoa văn hoá.
Nguồn:
Kwintessential.
Online:
http://www.kwintessential.co.uk/cultural-
services/articles/cross-cultural-understanding.html (truy cập ngày 09/03/2015).
Thảm họa:
Sự gián đoạn nghiêm trọng các hoạt động của cộng đồng dân cư hoặc xã hội, dẫn
đến những tổn thất và mất mát về tính mạng, tài sản, kinh tế và môi trường mà cộng
Các kỹ thuật thủ công mỹ nghệ, các kỹ năng phi vật thể, chuyên môn địa phương được
khuyến khích thông qua hoạt động đào tạo cơ bản và hỗ trợ tài chính vi mô nhằm phát
triển kinh tế địa phương một cách bền vững.
Giới:
“Giới là gì: ý nghĩa xã hội được trao cho một người phụ nữ hoặc một người đàn
ông.
Các đặc điểm xã hội – không phải những khác biệt về mặt sinh học –được sử
dụng để định nghĩa một người phụ nữ hoặc một người đàn ông.
Giới có vai trò gì: xác định ranh giới mà phụ nữ và nam giới có thể, nên là và nên
làm. Giới hình thành và quyết định hành vi, vai trò, kỳ vọng, và quyền lợi của phụ nữ
18
và nam giới; đưa ra quy tắc, chuẩn mực, thông lệ và thực tiễn” (Kế hoạch hành động
ưu tiên bình đẳng giới của UNESCO).
Bình đẳng giới:
“Bình đẳng về quyền lợi, trách nhiệm và cơ hội giữa phụ nữ và nam giới, giữa trẻ
em gái và trẻ em trai. Điều này có nghĩa là những lợi ích, nhu cầu và ưu tiên của cả
phụ nữ và nam giới đều phải được cân nhắc, phải nhận thấy được sự đa dạng của các
nhóm phụ nữ và nam giới khác nhau. Bình đẳng giới là một nguyên tắc về quyền con
người, một điều kiện tiên quyết của phát triển bền vững lấy con người làm trung tâm.
Bản thân bình đẳng giới cũng là một mục tiêu của chính nó” (Kế hoạch hành động ưu
tiên bình đẳng giới của UNESCO).
Phương pháp tiếp cận nhạy cảm giới, có đáp ứng về giới và thay đổi về giới:
“Nhạy cảm giới – nhận biết được sự khác nhau và bất bình đẳng giữa nữ giới và
nam giới cần được chú ý.
Có đáp ứng về giới – nội dung bên trên + nhấn mạnh chính sách và sáng kiến giải
quyết sự khác nhau trong nhu cầu, nguyện vọng, năng lực và đóng góp của nữ giới và
nam giới.
trong tất cả các lĩnh vực và trong tất cả các giai đoạn của quá trình lập kế hoạch.
3. Hợp tác phát triển góp phần phát triển năng lực của “những người có nghĩa
vụ” để đáp ứng những nghĩa vụ của họ và/hoặc “những người có quyền” đòi hỏi quyền
của họ. (Tuyên bố về hiểu biết chung về phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con
người, được Nhóm Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDG) thông qua).
Phát triển kinh tế cho tất cả mọi người:
“Phát triển bền vững liên quan đến tăng trưởng kinh tế toàn diện, công bằng và
ổn định dựa trên những mô hình sản xuất và tiêu thụ bền vững” (“Hiện thực hóa một
tương lai chúng ta mong muốn cho tất cả mọi người”, trang 29). Phát triển kinh tế toàn
diện ủng hộ một nền kinh tế lấy con người làm trung tâm. Nó giúp tạo ra tăng trưởng
kinh tế vĩ mô và sự công bằng phù hợp, được đo lường bằng việc làm, thu nhập và
phúc lợi. Phát triển kinh tế toàn diện cũng dựa vào việc sử dụng các nguồn lực của địa
phương và cạnh tranh công bằng trên thị trường toàn cầu.
Giảm nhẹ (biến đổi khí hậu):
Can thiệp của con người làm giảm thiểu những nguồn hoặc tăng cường những bể
hấp thụ khí nhà kính (Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu, 2014).
Giảm nhẹ (thảm họa):
Việc giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của những tai họa vật chất (bao gồm cả
những tai họa do con người gây nên) thông qua những hành động giảm thiểu tai họa,
phơi nhiễm và tính dễ bị tổn thương (Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu, 2014).
Các biện pháp phi công trình:
20
Bất kỳ biện pháp nào không liên quan đến xây dựng vật chất, sử dụng kiến thức,
thực tiễn hoặc thỏa thuận để làm giảm bớt rủi ro và tác động, đặc biệt là thông qua
chính sách và luật, nâng cao nhận thức của người dân, đào tạo và giáo dục.
Hoà bình:
Không có chiến tranh hoặc xung đột ở một quốc gia, một nhóm các quốc gia,
hoặc trên thế giới; một trạng thái của sự hoà hợp lẫn nhau giữa con người và dân tộc,
thể: ví dụ, trật tự và an ninh công cộng; sự an toàn hoặc không phải chịu nguy hiểm
hoặc rủi ro; khuyến cáo để bảo vệ chống lại tội phạm, tấn công, phá hoại hoặc gián
điệp, không phải chịu sự chăm sóc, lo lắng, hay nghi ngờ; tự tin có cơ sở, không phải
lo lắng về tài chính hoặc mong muốn.
Hoà nhập xã hội:
Hoà nhập xã hội là những quá trình và kết quả cải thiện những điều kiện để con
người tham gia vào xã hội. Người ta có thể bị loại trừ ra khỏi một loạt các quá trình
phát triển, cơ hội và lợi ích do đặc điểm giới, dân tộc, di cư, hay tình trạng tị nạn, tôn
giáo của mình…
Hoà nhập xã hội thừa nhận và giải quyết những trường hợp bất lợi này với mục
tiêu tăng cường sự phồn vinh và thịnh vượng chung.
Các biện pháp công trình:
Bất kỳ hoạt động xây dựng nào nhằm mục đích giảm bớt hoặc tránh tác động có
thể xảy ra của các hiểm họa và tăng cường khả năng phục hồi từ những hiểm họa này.
Tính bền vững:
Thuật ngữ này được sử dụng theo nhiều cách khác nhau trong lĩnh vực di sản và
những ngành khác, đôi khi không đủ ý để diễn đạt ý nghĩa đích thực. Ban đầu, thuật
ngữ này được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực khoa học môi trường. Nó vượt xa khái
niệm về khả năng tồn tại và sinh sống trong các điều kiện giới hạn và miêu tả ý tưởng
về các mối liên kết giữa kinh tế, xã hội và môi trường và sự phân phối công bằng về
nguồn lực và cơ hội.
Thuật ngữ này ít phổ biến hơn khi được dùng để ám chỉ khả năng kéo dài hoặc
tiếp tục trong một thời gian dài, với những từ đồng nghĩa như “duy trì” và “đứng
vững”. Trong trường hợp này, thuật ngữ “bền vững”’ thường được sử dụng trong mối
liên hệ với tính lâu dài của các hệ thống và quy trình.
Phát triển bền vững:
“Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại
mà không tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (định
nghĩa của Uỷ Ban Brundtland và được các bên đồng thuận tại Hội nghị Liên Hợp
Quốc về môi trường và phát triển – Rio 1992). Trong những năm qua đã có nhiều cách
Nghiên cứu về phương diện địa mạo, chúng ta có thể hình dung lát cắt trắc diện
của vùng bắc miền Trung và Quảng Bình nói riêng là một phức hợp núi nhấp nhô, cao
ở cực tây và thấp dần về phía đông trước khi tiếp xúc với vùng cát nội đồng ven biển.
Lát cắt này biểu thị sự hiện diện của một mặt dốc không đều, trong đó phần làm nên
những tiểu vùng sinh thái được ngăn cách bởi tầng tầng lớp lớp phức hệ núi chạy theo
hướng tây bắc - đông nam và nhất là những loại núi đá vôi có vách dựng đứng ở phía
tây Quảng Bình, đã tạo nên những rào chắn tự nhiên khó vượt qua theo chiều Bắc
Nam. Con đường giao thông thuận lợi trong buổi đầu khi con người chưa đủ sức tác
động vào tự nhiên để phục vụ ý đồ của mình chính là hệ thủy lộ theo hướng đông - tây,
tạo nên do sườn dốc phía đông Trường Sơn. Ðó cũng chính là những gợi ý của tạo hóa
cho con người sống thành từng nhóm biệt lập hay nảy sinh ý tưởng cát cứ và cũng là
tiền đề cho sự phân chia thành những tiểu vùng dân cư vừa có mối liện hệ tương đối,
lại vừa khu biệt trong điều kiện địa hình karst.
1. Quá trình tộc người của nhóm cư dân ngôn ngữ Việt – Mường
Nếu nhìn trên bản đồ phân bố các tộc người ở Việt Nam, chúng ta có thể hình
dung một vệt cư trú khá liên tục của những tộc người (trừ người Việt) trong “gia đình”
ngôn ngữ Việt - Mường, trải dài từ Hòa Bình cho đến Thanh Hóa với người Mường
(xen cư với các nhóm Thái và Mon - Kh’mer): miền Tây Nghệ An với sự hiện diện
của các nhóm Ðan Lai - Ly Hà, Tày Poọng, Thổ.. ở huyện Tương Dương; phía Tây Hà
Tĩnh và Quảng Bình là địa bàn cư trú của các nhóm Sách, Mày, Rục, A rem, Mã Liềng
mà trong danh mục thống kê nhà nước, chúng ta thường gọi là Chứt ở Tuyên Hóa,
Minh Hóa, Bố Trạch, Hương Khê...
21
- Luận dẫn từ công trình của Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) – Nguyễn Khắc Thái và nhóm nghiên cứu (2006),
Hoa trên đá núi – Chân dung các dân tộc thiểu số miền Tây Quảng Bình. Nxb Thống kê, hà Nội.
24
“Người Chứt ở Bình Trị Thiên”. Huế: Thông tin Dân tộc, số 2; Phan Hữu Dật (1994), “Trở lại tên gọi một số dân
tộc nước ta”. Hà Nội: Tạp chí Dân tộc học, số 1; Nguyễn Văn Mạnh (1996), “Người Chứt ở Việt Nam”. Huế:
Nxb. Thuận Hóa v.v…
23
- Những trung tâm văn hóa thường có hai đặc điểm khá đặc trưng đó là lực thu hút và sức lan tỏa. Chính vì
thế, điểm lan tỏa xa nhất, trong điều kiện không có tác nhân giao lưu, thường ngưng đọng và bảo lưu nét truyền
thống theo hiện tượng “hóa thạch vùng biên”. Trong lúc, ở điểm trung tâm do lực hút của mình, hiện tượng giao
lưu văn hóa trở nên phổ biến và các yếu tố truyền thống rất dễ phai nhạt.
25