Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI PHƯƠNG NAM

QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN
BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự.
Mã số: 60 38 01 04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


Cụng trỡnh c hon thnh ti: Hc vin Khoa hc Xó hi
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Vế TH KIM OANH

Phản biện 1: TS. TRN TH QUANG VINH

Phản biện 2: TS. INH TH MAI

Luận vn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm luận vn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội 13 giờ 30 ngày 10 tháng 10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Th- viện Học viện Khoa học xã hội


- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với
người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, của
TS. Đỗ Thị Phượng, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007.
- Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, của TS. Lại Văn Trình, Đại học
Luật Tp.Hồ Chí Minh năm 2011.
- Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam,
Đức và Hoa Kỳ, của TS. Lương Thị Mỹ Quỳnh, NXB Chính trị
Quốc gia năm 2013.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành
niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, của TS Trần Hưng
Bình, Học Viện Khoa học xã hội, năm 2014.
- Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên
trong tố tụng hình sự Việt Nam, của TS. Nguyễn Hữu Thế Trạch,
Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh năm 2014.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận, mang tính nguyên tắc của việc bảo đảm quyền
bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên trong tố
tụng hình sự; những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình áp
dụng pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền bào chữa cho
người chưa thành niên hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
2


- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành về bảo đảm quyền bào chữa nói chung, của người bị buộc tội là
người chưa thành niên nói riêng;

Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, cấu trúc luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền bào chữa của
người bị buộc tội là người chưa thành niên.
Chương 2: Quy định pháp luật về quyền bào chữa của người
bị buộc tội là người chưa thành niên và thực tiễn áp tại Quận Bình
Tân, Thành phố Hồ Chí Minh .
Chương 3: Giải pháp đảm bảo quyền bào chữa của người bị
buộc tội là người chưa thành niên.

4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA
NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1 Khái niệm về quyền bào chữa của người bị buộc tội là
người chưa thành niên
1.1.1 Khái niệm về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
Quyền bào chữa là một trong những chế định pháp lý quan
trọng và phức tạp, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn
cao. Từ trước đến nay, QBC đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên
cứu song xung quanh khái niệm, nội dung, bản chất chủ thể... của
quyền này còn nhiều ý kiến khác nhau. Do vậy, xác định khái niệm
QBC trên cơ sở lí luận và thực tiễn phù hợp với quy định của pháp
luật là cần thiết nhằm không ngừng phát huy dân chủ, củng cố cơ sở
pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền

buộc tội là người chưa thành niên
1.2.1 Đặc điểm quyền bào chữa của người bị buộc tội là
người chưa thành niên
Trong hoạt động TTHS, QBC là quyền quan trọng nhất của
người vi phạm pháp luật hình sự. Đây là tổng hợp các hành vi tố tụng
do người bị buộc tội thực hiện nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ
sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ
TNHS của mình trong VAHS. Thông thường sự tham gia của NBC
6


phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội. Họ có thể trực tiếp mời
hoặc ủy quyền cho người thân của mình mời NBC. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp đặc biệt luật quy định sự tham gia của NBC vào
trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội. Đó là
các trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS
năm 2003 khi những chủ thể này hoặc người đại diện hợp pháp của
họ không mời NBC thì các cơ quan THTT có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn
luật sư hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử NBC cho họ. Đó là
những trường hợp liên quan đến các bị can, bị cáo là người CTN,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc bị can, bị cáo
về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình.
Sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS là quy định
mang đầy tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam. Quy định về sự
tham gia của NBC vào trong vụ án không phụ thuộc vào ý chí của
người bị buộc tội mà là làm tăng thêm tính bảo đảm QBC cho họ.
QBC và sự tham gia của NBC không chỉ cần thiết, có ích cho người
bị buộc tội là người CTN mà còn cần thiết, có ích cho hoạt động tố
tụng của chính các cơ quan THTT. Sự đối trọng, phản biện của hoạt
động bào chữa đối với hoạt động của các cơ quan thực hiện chức

1.2.2.2 Về quyền nhờ người khác bào chữa
Quyền nhờ người khác bào chữa là hình thức giúp đỡ pháp
lý của luật sư hay những người khác theo quy định của pháp luật
nhằm hỗ trợ cho người bị buộc tội thực hiện QBC của mình khi họ
8


không đủ khả năng tự mình thực hiện hoặc trong những trường hợp
pháp luật quy định bắt buộc phải có NBC nhằm bảo đảm tính khách
quan và tính hợp pháp của các hoạt động TTHS.
1.2.2.3 Về quyền được bào chữa chỉ định
Ngoài các quyền lợi giống như người thành niên phạm tội
pháp luật TTHS còn có những quy định dành riêng cho người bị
buộc tội là người CTN. Về quyền bào chữa cũng vậy, người bị buộc
tội là người CTN do chưa phát triển đầy đủ, chưa có kinh nghiệm
sống, chưa có kiến thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Cho nên
họ không thề thực hiện quyền tự bào chữa của mình một cách tốt
nhất, vì vậy pháp luật TTHS quy định ngoài quyền tự bào chữa, nếu
họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người khác bào
chữa thì sẽ được các cơ quan THTT chỉ định bào chữa.
1.3 Các bảo đảm thực hiện quyền bào chữa người bị buộc
tội là người chưa thành niên
1.3.1 Bảo đảm về mặt pháp lý
Quyền bào chữa của người bị buộc tội được ghi nhận trong
các văn bản pháp luật hiện hành một cách đầy đủ nhất. Điều 11 Bộ
luật TTHS năm 2003 đã quy định việc bảo đảm và cơ quan có trách
nhiệm trong việc bảo đảm thực hiện QBC của người bị buộc tội.
Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm
giữ; tạm giam, khởi tố điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa,
nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Điều 16 Bộ luật TTHS năm


Chương 2
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA
NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào
chữa người bị buộc tội là người chưa thành niên
2.1.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền bào
chữa người bị buộc tội là người chưa thành niên theo Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988
Trong Bộ luật TTHS này, lần đầu tiên đã có một chương
riêng “Thủ tục đặc biệt”, quy định thủ tục về những vụ án mà người
bị buộc tội là người CTN - Chương XXXI. Chính từ việc quy định
thành một chương riêng như vậy nên các thủ tục tố tụng đối với
người bị buộc tội là người CTN cũng trở nên chặt chẽ hơn khi chưa
có Bộ luật TTHS. Với mười điều luật (từ Điều 271 đến Điều 280),
Bộ luật TTHS năm 1988 đã quy định về các vấn đề như phạm vi áp
dụng, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và giám sát đối với
người CTN, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, việc
tham gia của đại diện gia đình, tổ chức xã hội và NBC trong những
vụ án mà người bị buộc tội là người CTN. về phạm vi áp dụng được
quy định cụ thể tại Điều 271 như sau: “Thủ tục tố tụng đối với
những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp
dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định
khác của Bộ Luật này không trái với những quy định của Chương
11


này”. Điểm nổi bật nhất trong Chương XXXI là quyền và lợi ích

thứ tư đã thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004. Đã
được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, và ghi nhận thêm một số
điều luật mới. Một trong những nội dung sửa đổi quan trọng liên
quan đến nguyên tắc bảo đảm QBC được quy định tại Điều 11 với
tên gọi: “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo”. Bộ luật TTHS năm 2003 một lần nữa khẳng định việc bảo
đảm QBC là một nguyên tắc cơ bản trong TTHS, đồng thời mở rộng
đối tượng được hưởng QBC cả đối với người bị tạm giữ mà không
chỉ đối với bị can, bị cáo như các quy định trước đó. Việc bổ sung
quyền này đối với người bị tạm giữ xuất phát từ quan điểm cho rằng
người bị tạm giữ được xác định là người bị tình nghi thực hiện tội
phạm đối với VAHS, do vậy họ có quyền được bào chữa.
Đối với người CTN, Bộ luật TTHS năm 2003 cũng quy định
người đại diện hợp pháp của bị cáo là người CTN có thế lựa chọn
NBC hoặc tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo. Trong trường hợp bị
can, bị cáo là người CTN hoặc người đại diện hợp pháp của họ
không lựa chọn được NBC thì CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án phải
yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử NBC cho họ
hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên
của mặt trận cử NBC cho thành viên tổ chức mình.

13


Bộ luật TTHS năm 2003 cũng ghi nhận NBC có quyền
tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can đồng thời bổ sung thêm quy
định “Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và 82
của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tổ tụng từ khỉ có
quyết định tạm giữ”.
Việc bảo đảm QBC được thực hiện suốt quá trình tố tụng từ

Bên cạnh bổ sung các nguyên tắc chung thì lần đầu tiên Bộ
luật TTHS năm 2015 tại điều 414 quy định các nguyên tắc tiến hành
tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, đây là những nguyên tắc quan
trọng trong hoạt động TTHS có sự tham gia của người CTN, mà các
cơ quan THTT, người THTT phải tuân thủ để đảm bảo vệ quyền và
lợi ích của người CTN.
Bộ luật TTHS năm 2015 quy định người bị buộc tội là
người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào
chữa, đây là một quy định nhân văn, phù hợp đặc điểm về lứa tuổi,
tâm sinh lý và sự phát triển về thể chất của người dưới 18 tuổi. Bộ
luật TTHS năm 2003 chỉ quy định người đại diện hợp pháp của
người CTN tự bào chữa hoặc lựa chọn người bào chữa cho người
CTN, thì Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định người CTN được trực
tiếp thể hiện, thực hiện quyền này.
Để đảm bảo tính đồng bộ cho thực hiện QBC của người bị
buộc tội là người dưới 18 tuổi, Bộ luật TTHS năm 2015 đồng thời
cũng quy định người THTT đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải
15


là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét
xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về
tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi; Thành
phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án phải có một Hội thẩm là giáo
viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu
biết tâm lý người dưới 18 tuổi; Phiên tòa xét xử bị cáo là người dưới
18 tuổi phải có mặt người đại diện của bị cáo, đại diện của nhà
trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, sinh hoạt.
2.2 Thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của người bị
buộc tội là người chưa thành niên trên địa bàn Quận Bình Tân

2.2.3.1 Hạn chế từ phía người bào chữa
Đối với luật sư chỉ định, vẫn còn xảy ra tình trạng do nhận
thức việc bào chữa là theo yêu cầu của cơ quan THTT nên không có
thái độ tích cực, không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án...Khi bào chữa
cho người bị buộc tôi là CTN, người bào chữa đôi khi còn hình thức,
qua loa. Chưa coi trọng việc việc bào chữa chỉ định và còn thiếu tinh
thần trách nhiệm trong việc bào chữa, làm theo kiểu nghĩa vụ, phát
biểu chung chung,
2.2.3.2 Hạn chế về ý thức trách nhiệm của cơ quan THTT,
người THTT
Khi áp dụng những quy định của Bộ luật TTHS về khởi tố,
điều tra, truy tố và xét xử đối với những vụ án mà người bị buộc tội

17


là người CTN, chưa có cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách để
giải quyết những vụ án do người CTN thực hiện,.
Đôi khi về ý thức trách nhiệm các cơ quan THTT, người
THTT còn chưa tích cực giải thích cho họ biết mình có quyền bào
chữa, nhờ người khác bào chữa và được bào chữa chỉ định theo quy
định pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người bị
buộc tội là người CTN.
2.2.3.3 Hạn chế bất cập về cơ sở vật chất, về trình tự thủ
tục phiên tòa xét xử người bị buộc tội là người CTN
Việc xét xử được tiến hành ở phòng xử án chính thức dành
chung cho cả người thành niên và người CTN. Về cơ sở vật chất để
tiến hành hoạt động điều tra, phúc cung lấy lời khai: cụ thể là phòng
hỏi cung. Hiện nay, bị can là người CTN vẫn bị hỏi cung, phúc
cung tại những nơi lấy cung của người thành niên.

đảm bảo mục đích xử lý người CTN phạm tội.
2.2.4.2 Nguyên nhân do quy định pháp luật chưa cụ thể,
chưa có hướng dẫn kịp thời
Tuy Bộ luật TTHS năm 2003 có một chương độc lập về thủ
tục tố tụng đối với người CTN, nhưng lại chưa có văn bản pháp luật
nào quy định về đội ngũ những người THTT chuyên trách các hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đối với những vụ
án do người CTN thực hiện. Điều đó cho thấy, hiện nay những người

19


THTT đang phải kiêm nhiệm giải quyết cả các vụ án do người thành
niên thực hiện.
Tòa án chuyên trách chỉ mới thành lập ở một số toà cấp tỉnh
như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội. Chưa thành lập các toà án
chuyên trách về người CTN ở cấp quận/huyện.
2.2.4.3 Nguyên nhân từ phía người bị buộc tội là người CTN
và đại diện hợp pháp của họ
Về nhận thức người bị buộc tội là người CTN thiếu hiểu biết
về pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng. Trình độ học
vấn của người bị buộc tội là người CTN thấp, thậm chí là không biết
chữ, thiếu những kênh thông tin về pháp luật nên không thể thực
hiện hoặc không thực hiện hiệu quả bào chữa của minh.
Kết luận chương 2
Chương 3
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ
BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
3.1 Yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc

thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung
một cách cơ bản toàn diện các bất cập vướng mắc, tồn tại của Bộ
luật TTHS năm 2003 sau hơn 12 năm thi hành. Thể chế hóa các nghị
quyết của Đảng về CCTP, Hiến pháp năm 2013 cũng như hoàn thiện
21


các quy định về trình tự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử các vụ án
người CTN, kể cả về các mặt các quyền và nghĩa vụ tố tụng và
người tham gia tố tụng nhằm tăng cường bảo đảm QBC của người bị
buộc tội là người CTN và để từ đó tạo điều kiện cho việc giải quyết
vụ án người CTN một cách đúng đắn, khách quan toàn diện và có
hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm là
người CTN.
3.2.2 Các giải pháp khác

3.2.2.1 Nâng cao trình độ, năng lực của người tham gia tố
tụng hình sự
Điều 415 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: người THTT
đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo
hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến
người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học
giáo dục đối với người dưới 18 tuổi. Do đó, cần tăng cường công tác
đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ của những người làm
công tác THTT.
3.2.2.2 Tăng cường đội ngũ luật sư, người bào chữa
Xây dựng đội ngũ những người làm công tác bào chữa thực
sự có năng lực, không chỉ thỏa mãn các điều kiện về tiêu chuẩn pháp
luật mà cái chính ở đây là phải đáp ứng được những yêu cầu của
thực tiễn tố tụng.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status