Phân tích nguyên nhân và tình trạng bội chi ngân sách nhà nước tại việt nam, tác động bội chi ngân sách đến nền kinh tế vĩ mô - Pdf 45

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

BÀI THẢO LUẬN MÔN

Tài chính công
Đề tài:
Phân tích nguyên nhân và tình trạng bội chi ngân
sách nhà nước tại Việt Nam, tác động bội chi ngân
sách đến nền kinh tế vĩ mô

Giảng viên: Nguyễn Thị Thu Hương

Thực hiện:


Mục Lục


PHẦN 1

TỔNG QUAN BỘI CHI
NSNN

1.1 Khái niệm:
− Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước,
là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản
thu "không mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước.
1.2

Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước:
− Thâm hụt ngân sách thành hai loại:

năm 2013
(QI.2013)

GDP

GDP
State
budget
revenues and grants

683,668

A

Thu NSNN và viện trợ

167,710

1

Thu từ thuế và phí

Taxes and Fees

160,915

2

Thu về vốn


1

Chi đầu tư phát triển

Exp.
investment
development

2

Chi thường xuyên

Current
expenditures

D

Chi trả nợ gốc

Principal
payment

E

on
320

465
13,600


THU

CHI

A – Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí).

D – Chi thường xuyên.

B – Thu về vốn (bán tài sản)

E – Chi đầu tư.

C – Bù đắp thâm hụt.

F – Cho vay thuần.

Viện trợ.

(=cho vay mới – thu nợ gốc)

Lấy từ nguồn dự trữ.
Vay thuần (= Vay mới - trả nợ gốc)

− Cách tính này khác với cách tính bội chi theo thông lệ quốc tế ở chỗ là
Việt Nam tính vào chi NSNN tất cả các khoản chi trả nợ cả gốc và lãi còn
theo quy ước quốc tế chi trong cân đối ngân sách nhà nước tính chi trả lãi


vay mà không bao gồm chi trả nợ gốc tiền vay. Cách tính này cho kết quả
định lượng bội chi ở Việt Nam cao hon so với cách tính không bao gồm



PHẦN 2

THỰC TRẠNG

2.1 Tình hình bội chi ngân sách nhà nước từ năm 2000 đến nay:
− Trong thời gian qua thì tình hình bội chi ngân sách ở nước ta có
nhiều diễn biến phức tạp.

Năm

Tổng thu

Tổng chi

Bội
ngân sách

chi

GDP

2000

90.749

108.961

18.212


4,7

2004

190.928

214.176

23.248

715.307

3,3

2005

228.287

262.697

34.410

839.211

4,1

2006

279.472

4,1
4,4

5
2008

339.856

407.533

67.677
0

2009

454.786

570.686

115.9

4,99

2010

777.283

850.874

109.191

chính sách tài khóa lỏng lẻo, nói lên sự chi tiêu của chính phủ cho đầu tư
và thường xuyên vượt quá mức có thể của nền kinh tế.
− Ngày 10/1/2010, Quốc hội thông qua nghị quyết về dự toán ngân sách nhà
nước năm 2011 với mức bội chi bằng 5.3% GDP. Theo nghị quyết, tổng
thu ngân sách nhà nước là 595.000 tỷ đồng, tương đương 26.2% tổng sản
phẩm trong nước(GDP), nếu tính cả 10.000 tỷ đồng thu chuyển nguồn


năm 2010 sang năm 2011 thì tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là
605.000 tỷ đồng.
− Tổng số chi ngân sách nhà nước là 725.600 tỷ đồng, mức bội chi 120.600
tỷ đồng, tương đương 5.3% GDP. Nghị quyết cũng tán thành các nhóm
giải pháp của chính phủ về thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm
2011, trong đó tập trung thực hiện chính sách tài khóa thận trọng, kiểm
soát chặt chẽ thu, chi ngân sách, rà soát sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư, đầu
tư đồng bộ, tập trung bố trí vốn cho các dự án công trình trọng điểm, cấp
bách, hoàn thành trong năm 2011 - 2012, nhất là tại địa phương nghèo,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giảm dần tỷ trọng vồn đầu tư phát triển từ
ngân sách nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực
mà các thành phần kinh tế khác có thể tham gia.
2.2 Nguyên nhân chủ yếu của bội chi NSNN VN
− Có những thời kì mà nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, do đó mà dẫn đến tình trạng
nền kinh tế bị giảm sút trong các năm 1997-2000.Để kích cầu nền kinh tế
thì Nhà nước ta đã sử dụng nguồn ngân sách quốc gia chi cho đầu tư phát
triển.

− Chi ngân sách vẫn đảm bảo chi cho đầu tư phát triển ổn định ở mức
6,4% GDP, đảm bảo các nghĩa vụ trả nợ đến hạn.Sau cuộc khủng hoảng th
ì

và phát triển đất nước theo kịp các nước trên thế giới thì chúng ta
phải có một lượng vốn rất lớn để xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồnn
hân lực cũng như mở rộng các ngành nghề trong nước.chính vì vậy màchi
của ngân sách luôn ở mức cao, trong khi đó thì nguồn thu có hạn vàchưa t
hực sự đủ mạnh đáp ứng nhu cầu chi tiêu của đất nước cho nên ngânsách
Nhà nướcluôn ở một mức bội chi nào đó.
2.3 Bội chi NSNN ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam
2.3.1 Ảnh huởng dến tổng cầu nền kinh tế
Xuất phát từ đẳng thức kinh tế xác định tổng sản phẩm quốc nội
GDP = C + I + G + NX
Trong đó:
GDP là tổng sản phẩm quốc nội
C là tiêu dùng tư nhân
I là tổng đầu tư
G là chi tiêu chính phủ
NX là xuất khẩu ròng
Đưa thêm biến số thuế T vào đẳng thức ta có:
(GDP – C – T) + (T – G) = I
S = (GDP – C – T)
S + (T – G) = I


Với S là tiết kiệm tư nhân, (T – G) là tiết kiệm chính phủ, cũng chính là
chênh lệch giữa thu ngân sách và chi ngân sách. Truờng hợp (T – G) = 0 tức
NSNN cân bằng, truờng hợp (T – G) > 0 NSNN có thặng du, truờng hợp (T –
G) < 0 NSNN bội chi.
2.3.2 Ảnh huởng lạm phát
− Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù dắp bội chi NSNN bằng cách phát
hành trái phiếu (kể cả phát hành trong nuớc và phát hành ra nuớc ngoài),
thi tất yếu chính phủ phải trả tiền nợ gốc và lãi trái phiếu trong tương lai

NSNN duợc sử dụng cho mục dích tiêu dùng tức thời thì phần lớn ảnh
huởng của nó chỉ tác dộng dến tổng cầu trong ngắn hạn (tại thời diểm bội
chi xảy ra), và trong dài hạn nó không tai ra một nguồn thu tiềm nang cho
ngân sách mà chính nó làm nặng nề hon khoản nợ công trong tuong lai.

PHẦN 3

BIỆN PHÁP CHO BỘI
CHI NSNN VIỆT NAM

3.1 Bội chi ở mức nào là an toàn?
− Trong những năm gần đây, mức bội chi ngân sách luôn ở mức khá cao
khoảng 5%, việc này sẽ ảnh hưởng không nhỏ khiến không gian tài khóa
bị thu hẹp.
− Theo điều 1 nghị quyết 32/2012/QH13 về dự toán ngân sách nhà nước
năm 2013 do Quốc hội ban hành:
− Tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 816.000 tỷ đồng (tám trăm
mười sáu nghìn tỷ đồng);
− Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 978.000 tỷ đồng (chín trăm bảy
mươi tám nghìn tỷ đồng);
− Mức bội chi ngân sách nhà nước là 162.000 tỷ đồng (một trăm sáu mươi
hai nghìn tỷ đồng), tương đương 4,8% tổng sản phẩm trong nước (GDP).
3.2 Cách thức bù đắp bội chi
− Có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà nước ,nhưng
phải sử dụng cách nào ,nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện
kinh tế ,chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia ,
bởi mỗi giải pháp bù bắp đều có những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng
đến cân đối kinh tế vĩ mô .Vì vậy,chính phủ Việt Nam cần phải tính toán
kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp bù đưa phù hợp với thực trạng hiện nay,
khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự

dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững trong
ngân sách nhà nước, đồng thời giúp nhà nước thực hiện được các chương
trình đầu tư cơ sở hạ tầng vì quốc tế nhân sinh
− Chính phủ điều chỉnh tăng mức thuế xuất, thuế nhập bằng trần tối đa theo
cam kết trong WTO của năm 2008 đối với các hàng hóa tiêu dùng không
khuyến khích nhập khẩu ( ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng mô tô,
một số mặt hàng điện tử điện lanh,…); điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu
đối với một số nhóm mặt hàng thiết thực phục vụ sản xuất để góp phần
bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với hàng hóa là tài nguyên
thiên nhiên, khoáng sản (dầu thô, than đá, quặng kim loại,…) điều chỉnh
tăng lệ phí trước bạ đối với ô tô con nguyên chiếc dưới 10 chỗ ngồi; thực
hiện biện pháp kéo dài, giãn thời hạn nộp thuế và giảm thuế đối với các
đơn vị sản xuất kinh doanh, hoạt động chế biến và xuất khẩu, tạo điều


kiện cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn do gía đầu vào tăng cao,
duy trì và tăng sản xuất xuất khẩu.
3.2.2 Giảm chi
− Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho an sinh xã hội,
tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn.


Rà soát kĩ nguồn vốn nhà nước bố trí cho các dự án, công trình thuộc
trách nhiệm đầu tư của ngân sách nhà nước.

− Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước.
− Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp
nhà nước.
− Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp.
− Vay nợ trong nước và nước ngoài để bù đắp sự thâm hụt;


− Nó là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu, có thể bù đắp các
khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế.
Nhược điểm:



Nó sẽ khiến ch gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả
năng chi tiêu cho chính phủ. Đồng thời, nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế
trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Thậm chí, nhiều khoản vay, khoản
viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị,
quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều.

3.2.5 Vay ngân hàng (in tiền)
− Chính phủ bị thâm hụt ngân sách sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù
đắp. đáp ứng nhu cầu này, tất nhiên ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in
tiền. điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ. Chính vì vậy, nó được gọi là
tiền tệ hóa thâm hụt.
Ưu điểm:



Bù đắp ngân sách nhà nước một cách nhanh chóng, không phải trả lãi,
không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần.

Nhược điểm:



Khiến cho cung tiền vượt cầu tiền dẫn đến lạm phát trở nên không kiểm

lý vi mô là phải hạn chế và trung hoà các mặt tiêu cực, dẩy mạnh mặt tích
cực nhằm hạn chế những tác dộng xấu dến các mục tiêu kinh tế vi mô.
− Để tang nguồn thu cho ngân sách nhà nuớc, cần dẩy mạnh tang truởng
kinh tế và tuỳ vào dặc diểm mỗi nuớc mà nuớc dó sẽ dua ra những chính
sách cụ thể và thích hợp.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status