TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC NGOẠI NGƯ
Môn học: Đường lối Cách Mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Giảng viên: Lê Thị Hòa
Nhóm thực hiện bài tập: Nhóm 5
NHÓM 5
I.
Danh sách thành viên
Họ và tên
II.
Lớp
Câu hỏi bài tập môn Đường lối Cách Mạng của ĐCS Việt Nam
Câu 1: Trình bày quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kì
đổi mới? Quan điểm nào là quan trọng nhất? Vì sao?
Câu 2: Tìm hiểu một vấn đề nóng trong sinh viên hiện nay mà em quan tâm?
Câu 1: Trình bày quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kì
đổi mới? Quan điểm nào là quan trọng nhất? Vì sao?
Trả lời:
Quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Đồng chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hoá
Đường lối văn hoá kháng chiến dần hình thành trong chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" ra
ngày 25/11/1945 của Ban thường vụ trung ương Đảng, trong bức thư về "Nhiệm vụ văn
hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay" của đồng chí
Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946 và tại báo cáo "Chủ nghĩa
Mác và văn hoá Việt Nam" trình bày tại Hội nghị văn hoá
toàn quốc lần thứ hai tháng 7/1948.
Trong những năm 1955 – 1986, Đảng ta liên tục có những đóng góp tích cực
cho công cuộc đổi mới và xây dựng nền văn hóa Việt Nam.
Trong văn kiện Đại hội III của Đảng (9/1960) nêu rõ đường lối xây dựng nền văn hoá có
nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Đảng xác định văn hoá - tư tưởng là một cuộc cách mạng, tiến hành đồng thời gắn bó
chặt chẽ với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) xác định "Xây dựng con người
mới, xây dựng nền văn hoá mới, tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và đường
lối chính sách của Đảng thấu suốt trong cán bộ, đảng viên và quần chúng, tiến hành đấu
tranh chống tư tưởng văn hoá phản động của chủ nghĩa thực dân và của giai cấp bóc lột".
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3/1982) chỉ rõ nền văn hoá mới là nền
văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu
sắc, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Đại hội V cũng trình
bày rất đầy đủ về khái niệm "Con người mới xã hội chủ nghĩa" và đưa ra phương châm
"Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hoá".
Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước được khởi xướng tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đảng dần đi tới những nhận thức
mới, quan điểm mới về văn hoá.
Việc coi trọng các chính sách đối với văn hoá, đối với con người thực chất là trở về tư
chính sách kinh tế – xã hội luôn bao hàm nội dung và mục tiêu văn hóa. Văn hóa có khả
năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người. Mục tiêu của sự nghiệp đổi mới là phấn
đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong đó
phải giải quyết hài hoà giữa sự phát triển kinh tế và văn hóa, đảm bảo cho đất nước phát
triển bền vững và lâu dài.
Quan điểm này chỉ rõ về chức năng, vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa đối với
sự phát triển xã hội:
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội:
Theo Unessco: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của
cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại; nó cấu thành một hệ thống các
giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc
riêng của mình.
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong
mỗi con người và trong cả cộng đồng, được truyền lại, tiếp nối và phát huy qua các thế
hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc;
đồng thời, nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên
xã hội bằng môi trường xã hội – văn hóa. Tóm lại, văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong
toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc vượt
qua mọi khó khăn để phát triển.
Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội, trở thành
động lực phát triển kinh tế – xã hội. Đó cũng là con đường xây dựng con người mới, xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy lùi tiêu cực xã hội, đẩy lùi
sự xâm nhập của tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ. Biện pháp tích cực là đẩy mạnh cuộc
vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh cuộc vận động xây
dựng gia đình văn hóa,…
Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển:
Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một dân tộc thấm sâu trong văn hóa. Sự phát
triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận cái mới, tạo ra cái mới, nhưng lại
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người
và xây dựng xã hội mới:
Việc phát triển kinh tế – xã hội cần đến nhiều nguồn lực, trong đó, tri thức của con người
là nguồn lực vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt. Các nguồn
lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ và
năng lực khai thác chúng.
Vì những điểm trên, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh tới vai trò của việc xây dựng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hóa này vừa phải là nền tảng tinh
thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Mọi hoạt động kinh tế phải đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa phải
chú ý đến hiệu quả kinh tế, vừa phải chú ý đến hiệu quả xã hội và văn hóa. Đồng thời,
phải chú trọng khai thác văn hóa như một nguồn lực đặc biệt để phát triển kinh tế - xã
hội, nhất là phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa và du lịch văn
hóa… Như vậy, văn hóa không phải là kết quả thụ động của nền kinh tế mà là nguyên
nhân, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc.
Quan điểm này xác định phương hướng và đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam mà
chúng ta tập trung xây dựng trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Trình độ tiên tiến của nền
văn hóa phải thống nhất với bản sắc văn hóa dân tộc và khẳng định tầm vóc, vị thế của
văn hóa dân tộc trong giao lưu và hợp tác quốc tế.
Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu vì con
người. Tiên tiến về nội dung, hình thức biểu hiện và các phương tiện chuyển tải nội dung.
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam được vun đắp trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu
nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá
bình đẳng, sự phát triển độc lập của văn hóa các dân tộc sống trên cùng lãnh thổ Việt
Nam. Mỗi thành phần dân tộc có truyền thống và bản sắc của mình, cả cộng đồng dân tộc
Việt Nam có nền văn hóa chung nhất. Sự thống nhất bao hàm cả tính đa dạng – đa dạng
trong sự thống nhất. Không có sự đồng hóa hoặc thôn tính, kỳ thị bản sắc văn hóa của các
dân tộc.
Quan điểm này nhấn mạnh đến tư tưởng nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về đảm bảo
tính thống nhất và tính đa dạng của nền văn hóa Việt Nam hiện đại. Tính thống nhất của
nền văn hóa Việt Nam thể hiện ở sự thống nhất về truyền thống yêu nước và tinh thần đại
đoàn kết của các dân tộc anh em trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thống
nhất ở việc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với việc xây
dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa; thống nhất ở ý chí và nguyện vọng chung của cộng
đồng các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Tính thống nhất là điều kiện để đảm
bảo sự phát triển đa dạng của văn hóa các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, trên
đất nước ta có 54 dân tộc với các đặc trưng văn hóa khác nhau. Các giá trị và các đặc
trưng văn hóa đó bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, làm phong phú cho nền văn
hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất quốc gia.
Thứ tư, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo,
trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Quan điểm này xác định vai trò chủ thể xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa. Mọi
người dân Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh đều có vinh dự, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ tham gia xây dựng và
phát triển nền văn hóa nước nhà.
Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp chung của toàn dân. Giai cấp công nhân,
nông dân, trí thức là lực lượng chủ lực, nòng cốt trong xây dựng và phát triển văn hóa.
Họ là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng
và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí
thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển
văn hóa.
điểm này cũng nhấn mạnh đến tính đặc thù của việc xây dựng và phát triển văn hóa. Bảo
tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị mới
tích cực và tiến bộ, loại bỏ những yếu tố bảo thủ và lạc hậu trong nền văn hóa, làm cho
các giá trị văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành tâm lý, tập quán tiến
bộ, văn minh, nhân bản là một quá trình đầy khó khăn gian khổ, phức tạp, đòi hỏi nhiều
thời gian và cần phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng, tránh nóng vội, chủ
quan duy ý chí. Trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
hiện nay, cần phải nhận thức sâu sắc rằng, sản phẩm văn hóa là một sản phẩm hàng hóa
đặc biệt, hoàn toàn khác với sản phẩm hàng hóa thông thường khác. Đây là phương tiện
để biểu đạt đời sống tinh thần của mỗi dân tộc. Vì vậy, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội
cần có giải pháp hữu hiệu để bảo vệ và phát triển nền văn hóa của dân tộc mình, chống
nguy cơ bị đồng hóa về văn hóa.
Trong số 5 quan điểm trên, quan điểm 2 “Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng
là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.” quan trọng hơn những quan điểm
còn lại vì:
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân
tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa đã trở thành nền tảng quan
trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm
lược, khắc phục mọi khó khăn, thử thách trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đại hội
lần thứ VII (tháng 6 năm 1991) của Đảng Cộng sản đã thông qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó Cương lĩnh đã xác định nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là
mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
Nền văn hóa tiên tiến đó chính là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, những năm gần đây, nền văn hóa dân tộc đã đạt được những
bước phát triển đáng kể: các giá trị văn hóa của hơn 50 dân tộc được kế thừa và phát
triển; giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài được mở rộng; một số nét mới trong
chuẩn mực văn hóa của con người Việt Nam từng bước được hình thành; nhiều di sản văn
hóa được giữ gìn, tôn tạo; các phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”,
“lá lành đùm lá rách” phát triển rộng khắp…, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tinh
thần lành mạnh, đa dạng của quần chúng nhân dân, góp phần tích cực vào công cuộc đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, mặt trái của cơ chế thị trường, xu
thế xâm lăng văn hóa đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ
phận quần chúng nhân dân. Công tác quản lí các lĩnh vực hoạt động văn hóa, tư tưởng
còn những biểu hiện buông lỏng, né tránh. Một số lĩnh vực: báo chí - xuất bản, văn học nghệ thuật, giáo dục - đào tạo bị khuynh hướng “thương mại hóa” chi phối, hoạt động xa
rời tôn chỉ, mục đích. Những yếu tố tiêu cực này đặt nền văn hóa Việt Nam đối mặt nguy
cơ phai nhạt bản sắc dân tộc, thoát li nền tảng hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh, từng bước bị thay thế bằng các hệ tư tưởng tư sản, hình thành quan
điểm, tư tưởng, lối sống theo kiểu phương Tây...
Và đứng trước tình hình đó, mỗi người dân Việt Nam và đặc biệt là thế hệ thanh niên, trí
thức trẻ càng phải nhận thức được vai trò của bản thân trong xây dựng và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng đã đề ra. Chúng ta
hãy cố gắng học tập, rèn luyện bản thân thật tốt để mỗi người đều trở thành một bông hoa
đẹp có ích, qua đó thể hiện được bản sắc văn hoá dân tộc trong từng lời nói, hành động.
Làm được điều đó có nghĩa là chúng ta đã góp phần xây dựng hình ảnh đất nước Việt
Nam thân thiện và đẹp đẽ trong mắt bạn bè quốc tế.
Câu 2: Tìm hiểu một vấn đề nóng trong sinh viên hiện nay mà em quan tâm?
Trả lời:
Thực trạng và nguyên nhân dẫn đến tâm lí sính bằng cấp trong sinh viên
1. Thực trạng hiện nay.
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, đại đa số học sinh lớp 12 đều hướng đến học Đại
khiến sinh viên đều phải đi học thêm để có nhiều bằng.
3. Hệ quả
Tâm lý sính bằng cấp của người Việt, cụ thể hơn là sinh viên đã dẫn đến không ít những
hệ lụy xấu, ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của xã hội. Trong đó có bốn hệ quả
nghiêm trọng sau:
Thứ nhất, việc sính bằng cấp làm mất đi giá trị thực chất của bằng cấp với những thuộc
tính cao quý của nó. Bằng cấp từ lâu đã được coi như thứ để đánh giá khả năng và năng
lực của một người bởi để có được một tấm bằng đẹp không phải dễ dàng. Từ xa xưa, để
đỗ đạt, có bằng cấp đẹp, người học phải chăm chỉ tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu chuyên
sâu. Nhưng giờ đây, để có bằng đại học là việc vô cùng dễ dàng. TS Nguyễn Tiến Luận –
Chủ tịch HĐQT Trường ĐH Nguyễn Trãi khi đánh giá về câu chuyện bằng cấp tại Việt
Nam trong những năm gần đây có chia sẻ: “Bây giờ ở Việt Nam bằng cấp đang bị xã hội
hóa, quy trình đào tạo và cấp bằng ở nhiều nơi dễ dãi, cho nên mới xảy ra thực trạng
“bằng cấp cao nhưng năng lực thấp”. Nếu bằng cấp đẹp không đi đôi với khả năng thực
tiễn của người sở hữu nó, bằng cấp cũng chỉ đơn giản là một tờ giấy vô giá trị.
Thứ hai, từ việc bằng cấp không còn thực sự phản ánh đúng năng lực thực sự của chủ sở
hữu dẫn đến “thừa bằng cấp, thiếu trình độ”, nạn sính bằng cấp dần phá hoại nền kinh tế,
chính trị, xã hội của đất nước.
Về kinh tế, xã hội: tình trạng thất nghiệp lên đến con số báo động của các cử nhân, thạc sĩ
ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê, Quý 1/2016 cả nước có 225.000 người có trình độ cử
nhân, thạc sĩ thất nghiệp. Nguyên nhân dễ thấy nhất là do việc sở hữu tấm bằng cử nhân,
thậm chí là bằng thạc sĩ ở Việt Nam giờ đây là điều quá dễ dàng. Tuy nhiên, bằng cấp
không đồng nghĩa với việc có trình độ. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã từng đánh
giá, năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất Châu Á do lao động chưa
qua đào tạo và thiếu kỹ năng mềm. Cụ thể, năng suất lao động của người Singapore năm
2013 cao gấp 15 lần năng suất lao động của người Việt Nam. Thậm chí, năng suất lao
động của người Việt Nam cũng chỉ bằng 1/5 so với Malaysia và 2/5 so với Thái Lan - hai
quốc gia thu nhập trung bình khác thuộc khối ASEAN. Như một vòng luẩn quẩn ở Việt
có năng lực thực sự thì sẽ làm cho nền hành chính trì trệ thêm. Họ chính là gánh nặng mà
hàng triệu người dân đang phải gánh.
Thứ ba, vấn nạn xấu này còn làm lệch hướng đào tạo, số lượng không đồng bộ với chất
lượng. Hiện nay có nhiều trường chạy theo số lượng đào tạo mà coi nhẹ chất lượng.
Trong cơ chế tự chủ tài chính nửa vời như hiện nay đã dẫn tới đa số các trường đại học
chạy theo số lượng quy mô đào tạo để có nguồn tài chính bù đắp các khoản chi thường
xuyên. Hệ quả là một số trường công đua nhau tuyển giảng viên để tăng số lượng theo
quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà coi nhẹ chất lượng giảng dạy, để từ đó có điều
kiện tuyển số lượng sinh viên mà không quan tâm tới nhu cầu của xã hội và chất lượng
đào tạo, dẫn đến lượng sinh viên tốt nghiệp trong tình trạng thiếu trình độ, kỹ năng cần
thiết. Về chương trình đào tạo Chương trình đào tạo đại học của các trường đại học
thường xây dựng chưa được công phu, chưa đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao
động, chưa xuất phát từ điều kiện thực tiễn của nền kinh tế có nhiều biến động. Thông
thường xây dựng chương trình đào tạo còn mang tính chủ quan, chưa thông qua kết quả
khảo sát, nghiên cứu của các chuyên gia và doanh nghiệp... Nhiều trường đại học sử dụng
chương trình còn sao chép của các trường khác, sau đó cắt bớt tỷ lệ % số tiết theo chủ
quan của người xây dựng. Với xu hướng chạy theo số lượng mà bỏ quên chất lượng như
này, đất nước Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu cùng với căn bệnh xã hội không đáng có
này.
Hệ quả cuối cùng - cũng là hệ quả quan trọng nhất là hệ quả lên tâm lý của chính sinh
viên, học sinh. Kéo theo từ việc các trường thi nhau đào tạo lấy số lượng mà coi nhẹ chất
lượng, nhiều sinh viên với tâm lý “học chỉ để có tấm bằng” sẽ coi thường việc học tập,
xem nhẹ việc thủ đắc kiến thức chuyên môn, ngành nghề. Về thực trạng của sinh viên
hiện nay kỹ năng mềm còn hạn chế, kiến thức cơ bản chưa vững. Do vậy chất lượng của
sinh viên có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất khoảng 20% là các sinh viên tích cực,
chăm chỉ trong học tập và có thái độ nghiêm túc; Nhóm thứ 2 khoảng 30% là các sinh
viên học bình thường; Nhóm thứ 3 khoảng 50% là sinh viên học đối phó và lười học. Thế
nhưng kết quả cấp bằng của một số ngành đưa ra con số đáng kinh ngạc, khoảng 70%
trường học ở mọi bậc học phải chuyển hẳn sang dạy và học thật, thi thật theo năng lực để
hình thành và phát triển năng lực sống thực ở thế hệ trẻ, để họ có thể tránh ỷ lại vào bằng
cấp dùng chính thực lực của bản thân để tạo lập cuộc sống tốt đẹp, xây dựng cộng đồng
xã hội. Ngoài ra, việc hạn chế đầu vào và đầu ra ở các trường Đại học Cao đẳng, chỉ
tuyển những người có năng lực theo học thực sự cũng như chỉ cho phép các đối tượng đạt
được đầy đủ yêu cầu đào tạo được ra trường cũng trở nên vô cùng quan trọng. Thực hiện
được điều này sẽ giúp hệ thống giáo dục trở nên hài hòa, có sự liên thông giữa các hệ đào
tạo và giúp tận dụng được mọi nguồn lực trong xã hội, xóa bỏ tình trạng thừa thầy thiếu
thợ, cử nhân có bằng cấp sau khi ra trường thất nghiệp hàng loạt.
Thứ ba, đối với học sinh, sinh viên- các đối tượng chính của cuộc vận động tâm lý xã hội.
Để cải tạo tâm lý xã hội trong học sinh, sinh viên thì việc tổ chức các buổi tư vấn tâm lý,
hướng nghiệp là không thể thiếu. Thông qua các buổi tư vấn, hướng nghiệp như vậy thì
học sinh, sinh viên có thể tìm ra con đường phù hợp cho bản thân cũng như môi trường
phù họp nhất để phát triển. Từ đó, thay vì đổ xô vào các trường Đại học, Cao đẳng thì
một bộ phận học sinh, sinh viên có thể tham gia học nghề hoặc tham gia vào những công
việc có ích nhưng đang khan hiếm nhân lực trong xã hội. Qua đó, góp phần cải tạo xã hội
Việt Nam, giúp Việt Nam ngày càng phát triển. (Theo kết quả của một cuộc điều tra thì ở
một số nước đã phát triển thì việc tư vấn tâm lý, phân luồng nghề nghiệp được diễn ra rất
sớm. Cụ thể: ở Đức học sinh được phân luồng và định hướng nghề nghiệp từ rất sớm,
ngay cuối tiểu học và đầu cấp hai. Hay ở Pháp, có hội đồng ở từng quận, xã để hướng
nghiệp cho học sinh, được làm ngay từ lớp 7…)
Cuối cùng, để giải quyết vấn nạn bằng cấp đặc biệt là trong học sinh, sinh viên thì việc
tham gia của truyền thông và các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài là hết sức
cần thiết. Với vai trò truyền bá thông tin đến mọi nhà thì truyền thông cũng như các
phương tiện thông tin đại chúng sẽ là người bạn đồng hành không thể thiếu của cuộc vận
động thay đổi tâm lý xã hội. Truyền thông sẽ là mũi nhọn giúp đầy lùi, bài trừ, xóa bỏ
tâm lý sính bằng cấp trong mọi ngóc ngách của xã hội cũng như trong suy nghĩ của mọi
người. Sử dụng truyền thông cùng các hình thức như tuyên truyền, thông báo, tọa