1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu hướng tất yếu trên thế giới
hiện nay, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này. Toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội, nhiều tiềm năng lớn, bên cạnh đó là
những rủi ro và khó khăn mà từng doanh nghiệp Việt Nam buộc phải đối đầu.
Trong xu hướng đó, Nhà nước đã có những quyết sách giúp cho nền kinh tế
giữ vững được sự ổn định, đồng thời có những định hướng ngành buộc phải
thay đổi để phù hợp.
Bối cảnh kinh tế từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 khởi phát
tại Mỹ và một số nước châu Âu, đến nay vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục mà
sức lan tỏa của cuộc khủng hoảng này còn kéo dài đến hiện nay với qui mô
toàn cầu. Việt Nam thuộc nhóm quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc
khủng hoảng này do nhiều lí do: nguồn đầu tư bị gián đoạn, mất thị trường
tiêu thụ, sức khỏe nền kinh tế sụt giảm đáng kể kèm theo đó là sự gia tăng
mạnh mẽ của lạm phát, kéo theo hàng loạt hệ lụy cho doanh nghiệp như: chi
phí sử dụng vốn tăng, hàng sản xuất không tiêu thụ được, không có nguyên
liệu do đối tác cung ứng ngừng hoạt động .v.v.
Xuất phát từ thực tế đó, có thể thấy rằng mỗi doanh nghiệp tại Việt
Nam cần đánh giá lại một cách sâu sắc những ảnh hưởng hiện tại của môi
trường kinh doanh thế giới, trong nước và nội bộ ngành, đồng thời phải xét
đến những thay đổi của luật pháp và quản lí Nhà nước trong bối cảnh hội
nhập mới. Trên cơ sở những đánh giá này, doanh nghiệp cần vạch ra được
định hướng phát triển cho riêng mình trong bối cảnh mới.
Với lí do đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Chiến lược phát triển cho
Công ty cổ phần dược Danapha đến năm 2015” làm đề tài luận văn của
mình.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM CHIẾN LƯỢC VÀ VAI TRÒ CỦA CHIẾN LƯỢC
1.1.1 Định nghĩa chiến lược
Khái niệm chiến lược đã xuất hiện từ lâu, nó bắt nguồn từ lãnh vực
quân sự. Xuất phát của từ Strategic – Chiến lược mà chúng ta hiện dùng phổ
biến ngày nay xuất phát từ Strategos – Hy Lạp cổ, vốn chỉ một nghệ thuật
lãnh đạo sử dụng các kĩ năng hành xử và lãnh đạo của các tướng lĩnh nhằm
đem lại ưu thế cho quân đội của mình trên chiến trường. Qua nhiều biến động
của lịch sử, với sự đóng góp của các nhà lý luận quân sự từ Đông sang Tây
như Tôn Tử, Alexander, Napoleon …, chiến lược ngày càng được phát triển
về nội dung và quan điểm phân tích. Tuy nhiên, tựu trung lại các quan điểm
được trình bày này vẫn nhắm tới một mục tiêu cơ bản và chung nhất là làm
thế nào để dẫn dắt thế trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc khai
thác các khả năng khác biệt đem lại ưu thế cho mình.
Trong thực tế kinh doanh, với sự phát triển của kinh tế hàng hóa kèm
theo xu hướng hội nhập càng ngày càng nhanh và mạnh khiến cho từng Quốc
gia, từng doanh nghiệp từ lớn tới nhỏ đều phải luôn đối mặt với những nguy
cơ và cơ hội, khiến cho môi trường kinh doanh hiện nay ngày càng khốc liệt.
Do vậy, cũng có thể so sánh môi trường kinh doanh hiện nay như một chiến
trường rộng lớn, nơi mà ở đó một doanh nghiệp, tổ chức nếu không có một
chiến lược tốt nhằm khai thác thế mạnh của mình thì sẽ không thể đứng vững
và tồn tại được.
Hiện nay,có rất nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược:
- Theo Alfred Chandler: “Chiến lược kinh doanh là sự xác định các mục tiêu
và mục đích dài hạn của doanh nghiệp, và sự chấp nhận chuỗi các hành động
5
Quản trị chiến lược là phối hợp chức năng trong tổ chức một cách tốt
nhất trên cơ sở đạt được những mục tiêu chung của tổ chức.
Quản trị chiến lược giúp cho các nhà quản trị sử dụng một cách có hiệu quả
các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và phân bổ một cách có hợp lý.
Giúp đáp ứng hài hoà nhu cầu của tổ chức thông qua lôi kéo các nhà
quản trị cao cấp vào quá trình quản trị chiến lược và tạo ra sự cộng
hưởng để đạt được những hướng đi đã định sẵn.
1.2. QUY TRÌNH XÂY DỰNG MỘT CHIẾN LƯỢC CỦA DOANH NGHIỆP
Qui trình xây dựng chiến lược
Mô hình quản trị chiến lược:
SỨ MỆNH – TẦM NHÌN – MỤC TIÊU
CỦA DOANH NGHIỆP
Phân tích bên ngoài
(các cơ hội và đe
dọa)
Lựa chọn và xây
dụng các chiến lược
Phân tích bên trong
(Tìm các nguồn lực
khả năng và năng lực
cốt lõi)
Chiến lược chức năng
đến doanh nghiệp cũng như các yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp nhằm
đánh giá được cơ hội – nguy cơ cũng như khả năng của doanh nghiệp có đủ
để đáp ứng nhu cầu của chiến lược hay không.
a. Xác định mục tiêu của doanh nghiệp
Bước tiếp theo của quá trình quản trị chiến lược là xác định sứ mệnh và
các mục tiêu chủ yếu của tổ chức. Sứ mệnh và các mục tiêu chủ yếu của tổ
chức cung cấp một bối cảnh để xây dựng các chiến lược.
Sứ mệnh trình bày lý do tồn tại của tổ chức và chỉ ra nó sẽ làm gì. Ví
dụ, sứ mệnh của một hãng hàng không quốc gia có thể là đáp ứng nhu cầu đi
lại tốc độ cao cho khách hàng với giá cả hợp lý. Tương tự, sứ mệnh của
Yahoo! có thể là “liên kết mọi người tới bất kỳ ai và bất kỳ điều gì”.
Các mục tiêu chủ yếu xác định những gì mà tổ chức hy vọng đáp ứng
trong phạm vi trung và dài hạn. Hầu hết các tổ chức theo đuổi lợi nhuận, mục
tiêu đạt được năng lực vượt trội chiếm vị trí hàng đầu. Các mục tiêu thứ nhì là
các mục tiêu mà công ty xét thấy cần thiết nếu họ muốn đạt đến năng lực vượt
trội.
Trong trường hợp xây dựng lại chiến lược hay tiếp tục xây dựng chiến
lược mới do có nhiều thay đổi của môi trường, chúng ta cần xem xét lại sứ
7
mệnh – mục tiêu của doanh nghiệp đã đặt ra có còn phù hợp hay không, và có
cần thay đổi sứ mệnh – mục tiêu hay không?
b. Phân tích môi trường
* Phân tích môi trường bên ngoài
Chính trị
Pháp luật
Kinh tế
các chỉ số kinh tế Quốc gia, các yếu tố chính trị - xã hội, các yếu tố tự
nhiên…, và sự cạnh tranh trong nội bộ ngành kinh doanh của doanh nghiệp
đang tham gia. Qua mức độ cũng như tầm cấp ảnh hưởng của các yếu tố này
đối với doanh nghiệp, ta có thể phân các yếu tố môi trường thành 2 nhóm cơ
bản như sau:
* Môi trường vĩ mô:
- Môi trường kinh tế:
Môi trường kinh tế chỉ ra bản chất và định hướng của nền kinh tế mà
doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh. Các chỉ số kinh tế của quốc gia
8
thể hiện mức độ hấp dẫn đầu tư, sự lành mạnh và sự phồn thịnh của nền kinh
tế quốc gia đó. Nhóm các chỉ số kinh tế này thể hiện qua 4 chỉ số cơ bản nhất
là : tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, tỷ suất hối đoái, tỷ lệ lạm phát.
-
Tăng trưởng kinh tế dẫn đến một sự bùng nổ về chi tiêu của khách
hàng, vì thế có thể đem lại khuynh hướng thoải mái hơn về sức ép cạnh tranh
trong một ngành. Điều này có thể cống hiến cho các doanh nghiệp cơ hội để
bành trướng hoạt động và thu được lợi nhuận cao hơn. Ngược lại, suy giảm
kinh tế sẽ dẫn đến sự giảm chi tiêu của người tiêu dùng, và do đó làm tăng
sức ép cạnh tranh. Nền kinh tế suy giảm thường gây ra các cuộc chiến tranh
giá trong các ngành bão hòa (Cung lớn hơn cầu).
-
Mức lãi suất có thể tác động đến nhu cầu về sản phẩm của công ty.
Ngoài 4 nhóm chỉ số kinh tế chính kể trên, còn có các chỉ số phụ tham
gia mô tả môi trường kinh tế như sau : GDP,GNP, xu hướng chi tiêu của
người tiêu dùng, xu hướng thất nghiệp…
Tác động của môi trường kinh tế có tính chất trực tiếp, năng động hơn
so với các yếu tố khác của môi trường vĩ mô và bao giờ cũng chứa đựng
những cơ hội và thách thức khác nhau đối với từng doanh nghiệp.
- Ảnh hưởng chính trị và chính phủ:
Các nhân tố chính trị và luật pháp cũng có tác động lớn đến mức độ của
các cơ hội và đe dọa từ môi trường. Điều chủ yếu trong phân đoạn này là cách
thức mà các doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến chính phủ, và cách thức
chính phủ ảnh hưởng đến họ. Thay đổi liên tục, phân đoạn này sẽ gây ảnh
hưởng đáng kể đến cạnh tranh.
Các doanh nghiệp phải phân tích cẩn thận các triết lý, các chính sách
liên quan mới của quản lý nhà nước. Luật chống độc quyền, luật thuế, các
ngành lựa chọn để điều chỉnh hay ưu tiên, luật laođộng, là những lĩnh vực
trong đó các chính sách quản lý Nhà nước có thể tác động đến hoạt động và
khả năng sinh lợi của ngành hay của các doanh nghiệp.
Trên phạm vi toàn cầu các công ty cũng phải đối mặt với hàng loạt các
vấn đề đáng quan tâm về chính trị pháp luật. Ví dụ các chính sách thương
mại, các rào cản bảo hộ có tính quốc gia.
Ngoài ra, các ngành đặc biệt như dược phẩm, viễn thông, và gần đây
vấn đề thực phẩm cũng được các quốc gia chú ý nhằm bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng, và an ninh,vì vậy các qui định chặt chẽ đặt ra cũng là những tác
10
động đáng kể đến hoạt động kinh doanh của các ngành và doanh nghiệp.
- Ảnh hưởng xã hội, nhân khẩu, địa lý:
Phân đoạn nhân khẩu học của môi trường vĩ mô liên quan đến dân số,
của thị trường, cách phân phối hàng hóa trên thị trường và cả sự ra đời cũng
như xóa bỏ một ngành hàng. Ví như khoảng 20 năm về trước thì một máy
truyền hình đen trắng CRT đã là một xa xỉ đối với một số gia đình, nhưng
hiện nay với công nghệ sản xuất ngày càng vượt trội đã đem tới nhiều cơ hội
hơn cho người tiêu dùng với những máy truyền hình khác biệt hẳn so với
trước đây.
Trong lĩnh vực phân phối, với sự bùng nổ của công nghệ Intenet đã làm
nên khá nhiều thay đổi trong cách thức đặt hàng, giao nhận hàng và thanh
toán tại một số quốc gia. Hiện nay, tại một số quốc gia tiên tiến thì người mua
và người bán không cần phải gặp nhau như tiền lệ hàng ngàn năm nay, mà chỉ
đơn giản là “click và click”, công nghệ internet sẽ làm tất cả.
Trong một số ngành nghề có rào cản công nghệ cao như y dược, công
nghệ sinh học, điện tử … thì môi trường công nghệ càng có ảnh hưởng rõ rệt.
Một phát minh công nghệ có thể khai sinh một doanh nghiệp và khai tử nhiều
doanh nghiệp khác.
Có thể nói rằng: trong nền kinh tế hiện đại, không có ngành sản xuất –
kinh doanh nào mà không bị ảnh hưởng đến kỹ thuật công nghệ.Với công
nghệ mới tổ chức sẽ sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ mới với chất lượng
tốt hơn thời gian sản xuất sẽ được rút ngắn, giá thành sẽ hạ hơn lúc trước.Tuy
nhiên công nghệ mới cũng có thể làm cho sản phẩm của tổ chức sẽ bị lạc hậu
trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Ảnh hưởng của tự nhiên:
Khí hậu đất đai, sông ngòi, vị trí địa lý, mức độ ô nhiễm của môi
trường….đều ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của tổ chức. Nghiên cứu
kĩ về các yếu tố môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trong trong các kế hoạch
12
đầu tư của các doanh nghiệp. Ví như tại một quốc gia khô hạn thì một doanh
hành là kinh tế thị trường có sự giám sát và quản lí của Nhà nước.
Yếu tố môi trường toàn cầu còn bị chi phối bởi các thể chế chính trị của
Quốc gia, các đặc điểm văn hóa, dẫn đến những quan điểm về giá trị khác
nhau giữa từng Quốc gia hay khu vực.
Tóm lại, các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến doanh nghiệp được tóm
lược trong bảng sau:
Bảng 1.1: Tóm lược các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến doanh nghiệp
Dân số
Nhân khẩu
Cấu trúc tuổi
học
Phân bố địa lý
Kinh tế
Tỷ lệ lạm phát
Lãi suất
Cán cân thương mại
Cán cân ngân sách
Cộng đồng dân tộc
Phân bố thu nhập
Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân
Mức tiết kiệm của doanh nghiệp
GDP
Luật chống độc quyền
Chính trị Luật thuế
Pháp luật
Các triết lý điều chỉnh
Sự khác biệt các đặc điểm văn
hóa, thể chế
14
* Môi trường vi mô:
Môi trường vi mô là môi trường ngành sản xuất – kinh doanh mà doanh
nghiệp đang tham gia. Một ngành là một nhóm các công ty cung cấp các sản
phẩm hay dịch vụ có thể thay thế chặt chẽ với nhau. Trong quá trình cạnh
tranh các công ty này có ảnh hưởng đến các công ty khác. Sự thay thế một
cách chặt chẽ có nghĩa là các sản phẩm hay dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu
khách hàng về cơ bản tương tự nhau.
Các ngành rất khác nhau về các đặc tính kinh tế, các tình thế cạnh tranh,
và triển vọng thu lợi nhuận trong tương lai. Các đặc tính kinh tế của ngành biến
đổi bởi một số các nhân tố như: qui mô và tốc độ tăng trưởng thị trường, tốc độ
thay đổi công nghệ, ranh giới địa lý của thị trường (địa phương hay toàn cầu),
số lượng, qui mô của những người mua và bán, mức độ tác động của tính kinh
tế về qui mô đến sản phẩm của người bán, các kiểu kênh phân phối…Các lực
lượng cạnh tranh có thể vừa phải, dữ dội, thậm chí là tàn khốc trong các ngành
khác nhau. Hơn nữa, các ngành cũng khác nhau rất lớn về các tiêu điểm cạnh
tranh, có thể là giá, là chất lượng, cải tiến hay rất nhiều các đặc tính hiệu năng
khác. Do vậy, diện mạo kinh tế của ngành và các điều kiện cạnh tranh hiện tại
cũng như dự kiến tương lai là cơ sở để tiên liệu lợi nhuận tương lai là thấp,
trung bình hay tuyệt vời. Phân tích ngành và cạnh tranh là một bộ các quan
niệm và kỹ thuật để làm sáng tỏ các vấn đề then chốt về:
Các đặc tính kinh tế nổi bật của ngành.
4. Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng (đang dự định xâm nhập ngành)
5. Đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành
- Đối thủ cạnh tranh tiềm tàng:
Nhóm đối thủ này là các doanh nghiệp-tổ chức hiện không tham gia
trong ngành, nhưng ảnh hưởng cũng như tiềmnăng sức mạnh của họ có thể
gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp trong ngành.
Sức mạnh của doanh nghiệp trong ngành nhằm đối phó với nhóm đối
thủ này là tạo điều kiện gia nhập ngành (rào cản nhập cuộc) là đáng kể. Rào
cản này thường thực hiện bằng biện pháp: Sự trung thành nhãn hiệu; Lợi thế
chi phí tuyệt đối; và tính kinh tế của qui mô. Khi một doanh nghiệp trong
ngành có được sự trung thành về nhãn hiệu hay đạt được một qui mô đủ lớn
sẽ làm cho các đối thủ tiềm tàng phải “e ngại” khi muốn gia nhập ngành.
Ngoài ra, chúng ta còn cần phải xét tới : chi phí chuyển đổi, qui định của
chính phủ và sự trả đũa.
- Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành:
Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành luôn là một trong những cạnh
tranh gay gắt và thường thấy nhất. Các đối thủ trong ngành thường tập trung
cạnh tranh theo hướng giá bán thấp nhất, dẫn đến sự thiệt hại chung cho các
đối thủ và cả chính bản thân doanh nghiệp. Một cách khôn ngoan hơn, một số
16
doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án chất lượng, sự cải tiến và đáp ứng khách
hàng như là một lợi thế cạnh tranh bên cạnh yếu tố giá thấp. Nếu nhìn nhận
một cách tổng quan thì cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành là một hàm số
bao gồm 3 biến số : cấu trúc cạnh tranh ngành, các điều kiện nhu cầu, rào cản
rời khỏi ngành.
- Năng lực thương lượng của người mua:
Năng lực thương lượng của người mua thể hiện qua cách họ yêu cầu
chúng ta cần đi vào phân tích các chỉ số của doanh nghiệp dựa trên việc trả lời
các câu hỏi sau:
a) Chiến lược hiện tại của doanh nghiệp có tác dụng tốt không?
b) Những điểm mạnh và yếu nguồn lực cũng như cơ hội và nguy cơ
của doanh nghiệp? (Phân tích SWOT)
c) Lợi thế cạnh tranh, các nguồn lực và năng lực cốt lõi của doanh
nghiệp?
d) Chuỗi giá trị và sự sáng tạo giá trị?
e) Doanh nghiệp mạnh hơn hay yếu hơn so với đối thủ cạnh tranh
chính?
f) Vấn đề chiến lược đáng để lãnh đạo lưu ý?
* Chiến lược hiện tại của doanh nghiệp:
Chiến lược của một doanh nghiệp phải thể hiện rõ được động cơ hay lí
do của hành động, các hành động chiến lược và các đánh giá hiệu quả của
chiến lược. Nói cách khác, mỗi doanh nghiệp cần phải xác định rõ Sứ Mệnh
của mình, từ đó kết hợp với Tầm Nhìn của lãnh đạo và từ đó là cơ sở của các
Chiến lược chung nhất của doanh nghiệp. Chiến lược chung này sẽ dẫn đường
cho các chiến lược chức năng khác như : chiến lược kinh doanh, chiến lược
marketing, chiến lược tài chính …
Chiến lược hiện tại của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ số sau :
- Xu hướng trong doanh số và thị phần
18
- Tăng – giảm hay duy trì khách hàng
- Xu hướng trong lợi nhuận ròng
- Xu hướng trong tỷ suất lợi nhuận
- Sức mạnh tài chính và đánh giá tín nhiệm chung
- Xu hướng của giá chứng khoán và giá trị cổ đông
Kết luận liên quan tới tình huống kinh
doanh tổng quát của công ty:
Trên thang điểm từ “yếu đến mức báo động”
đến “đặc biệt mạnh” thì sự hấp dẫn của công
ty đạt mức nào?
Những mặt hấp dẫn và không hấp dẫn của thực
trạng công ty?
Xác định điểm mạnh
nguồn lực và năng lực
cạnh tranh
Xác định điểm yếu
nguồn lực và thiếu hụt
Ma trận SWOT
Sử dụng điểm mạnh và năng lực của công
ty
Làm phù hợp nhất những cơ hội của thị
trường với những điểm mạnh và năng lực
của công ty
Điều chỉnh những yếu kém và sai sót làm
suy yếu sự tận dụng những cơ hội của thị
trường hoặc dễ bị ảnh hưởng bởi sự đe doạ
của thị trường
Sử dụng những điểm mạnh của công ty để
làm suy yếu sự ảnh hưởng của những đe
doạ quan trọng bên ngoài
Sơ đồ 1.3: Kết quả của phân tích SWOT
Doanh nghiệp luôn hướng tới mục tiêu là
độ lệch giữa V và C phải cao hơn đối thủ
Sơ đồ 1.4 : Mô hình tỷ suất lợi nhuận
Từ mô hình tỉ suất lợi nhuận, ta rút ra:
Thứ nhất, công ty sẽ cố gắng tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng,làm
cho họ có được sự thỏa mãn vượt trên cả mong đợi của chính họ. Các nỗ lực
của công ty làm cho sản phẩm hấp dẫn hơn nhờ sự vượt trội về thiết kế, tính
năng, chất lượng và điều gì đó tương tự để chính khách hàng cảm nhận được
một giá trị lớn hơn (V lớn hơn) và họ sẵn lòng trả giá P cao hơn.
Thứ hai, công ty có thể cố nâng cao hiệu quả các hoạt động của mình
để giảm chi phí (C). Hệ quả là biên lợi nhuận tăng lên, hướng đến một lợi thế
cạnh tranh. Nói một cách khác, khái niệm về sự sáng tạo giá trị là hạt nhân
của lợi thế cạnh tranh.
Michael Porter đã chỉ ra rằng chi phí thấp và sự khác biệt là hai chiến
lược căn bản để tạo giá trị và giành lợi thế cạnh tranh trong một ngành. Theo
Porter, lợi thế cạnh tranh (theo đó là lợi nhuận cao hơn) đến với các công ty
nào có thể tạo ra giá trị vượt trội. Và cách thức để tạo ra giá trị vượt trội là
hướng đến việc giảm thấp chi phí kinh doanh và/hoặc tạo khác biệt sản phẩm
vì thế khách hàng đánh giá nó cao hơn và sẵn lòng trả một mức giá tăng
thêm.
21
Vậy, qua phân tích mô hình tỷ suất lợi nhuận, ta có thể rút ra 4 nhân tố
cơ bản tạo ra lợi thế cạnh tranh là:
- Chất lượng vượt trội
- Hiệu quả vượt trội
công ty, bởi vì các báo cáo này không quan tâm đến các các nguồn vô hình.
Do đó, nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh của công ty nói chung không được
phản ánh đầy đủ trong các báo cáo tài chính. Giá trị của các nguồn hữu hình
cũng bị hạn chế bởi chúng rất khó để vận dụng- thông thường một doanh
22
nghiệp không thể tạo thêm các hoạt động kinh doanh và giá trị tăng thêm từ
nguồn hữu hình.
Bảng 1.3: Các nguồn lực vô hình
NGUỒN LỰC VÔ HÌNH
Kiến thức
Nhân sự
Tin cậy
Các khả năng quản trị
Thói quen tổ chức
Các nguồn sáng Các ý tưởng
kiến
Khả năng khoa học
Khả năng cải tiến
Các nguồn danh Danh tiếng với khách hàng
tiếng
Nhãn hiệu
Các nhận thức về độ bền, chất lượng, độ tin cậy của sản phẩm
và vô hình nhưng không phải tất cả các nguồn lực này đều độc đáo và đáng
giá. Đồng thời, để mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp so với đối thủ
thì ngoài nguồn lực độc đáo và đáng giá, doanh nghiệp cần phải có đủ khả
năng vận dụng nguồn lực đó – hay doanh nghiệp phải có khả năng tiềm tàng.
Khi doanh nghiệp có được nguồn lực và khả năng tiềm tàng, và vận
dụng được năng lực và khả năng này vào chiến lược giúp tăng khả năng cạnh
tranh – đây sẽ là năng lực cốt lõi của doanh nghiệp. Năng lực cốt lõi giúp cho
doanh nghiệp có được tính cạnh tranh và khả năng khác biệt so với đối thủ,
hay nói hoa mỹ hơn thì năng lực cốt lõi như một “món đồ trang sức quí phái
sang trọng” của doanh nghiệp. Để xây dựng được chiến lược cạnh tranh bền
vững và luôn gia tăng được giá trị của hàng hóa – dịch vụ, nhất thiết doanh
nghiệp phải xây dựng được cho mình một vài năng lực cốt lõi để làm hạt nhân
cho mọi hoạt động của mình.
Để xây dựng hay đưa ra được một tiêu chuẩn đánh giá năng lực cốt lõi
của doanh nghiệp, ta sử dụng 2 công cụ sau:
-
Bộ bốn tiêu chuẩn cụ thể của lợi thế cạnh tranh bền vững (Nhằm xác
định các nguồn lực và khả năng có tiềm năng trở thành các năng lực cốt
24
lõi hay không?)
- Phân tích chuỗi giá trị.
Bốn tiêu chuẩn để đánh giá nguồn lực và khả năng có lợi thế cạnh tranh
bền vững:
-
Đáng giá,
Hiếm – Độc
Khó bắt
thay thế
đáo
x
x
x
chước
x
x
x
Hiện có Mới
Năng lực cốt lõi
Bảng 1. 5 : Ma trận năng lực cốt lõi
Hàng đầu cộng 10
Các cơ hội to lớn
Điền vào chỗ trống
Bước 1: Xác định các năng lực cốt lõi của doanh nghiệp đã có hoặc cần
tạo dựng
Bước 2: Xác định các thị trường có sản phẩm của doanh nghiệp
Bước 3: Đưa năng lực cốt lõi và và thị trường sản phẩm vào bảng Ma
trận năng lực cốt lõi thông qua việc trả lời các câu hỏi sau:
Doanh nghiệp cần phải xây dựng những năng lực cốt lõi nào để bảo vệ
và mở rộng thị phần hiện tại?
Hàng đầu cộng 10: Doanh nghiệp sẽ cần phải xây dựng năng lực cốt
lõi nào để bảo vệ và mở rộng thị phần trong thị trường hiện nay? Chú ý
những phối hợp gì năng lực mới có thể thay thế hoặc làm lỗi thời các năng