VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU THÀNH
PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO
BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU THÀNH
PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO
BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số
: 06.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
2.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế và tổ chức
thực hiện nhìn từ góc độ áp dụng pháp luật........................................................... 56
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 67
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
LHN & GĐ
: Luật hôn nhân và gia đình
TTDS
: Tố tụng dân sự
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TT
: Thông tư
MỞ ĐẦU
cập, gây khó khăn trong việc giải quyết các vụ việc về phân chia di sản thừa kế
trong thực tế. Để phù hợp với tình thực tế hiện nay, Bộ luật dân sự 2015 đã được
thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII ngày 24/11/2015 có hiệu lực ngày
01/01/2017.
Bộ luật dân sự 2015 đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi
hành các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của
Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công nhận,
bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự, xây
dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư
pháp và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy được vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự
thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách
nhiệm giữa các bên tham gia; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp
luật của Nhà nước ta.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thừa kế ở nước ta hiện nay chủ yếu tập
trung vào một số khía cạnh cụ thể trong chế định về quyền thừa kế như: thời điểm mở
thừa kế; Di chúc chung vợ chồng; Những người được hưởng di sản không phụ thuộc
vào nội dung của di chúc… Một số bài viết chỉ tập trung phân tích, bình luận một tranh
chấp cụ thể như tranh chấp về xác định chủ thể hưởng di sản theo pháp luật, người thừa
kế thế vị hoặc chủ thể không được thừa kế theo pháp luật... Những bài viết có tính chất
nghiên cứu này được đăng trong các tạp chí chuyên ngành luật như: Tạp chí Tòa án
nhân dân, Tạp chí luật học, Tạp chí dân chủ và pháp luật.
Trước đây, vấn đề thừa kế đã được nghiên cứu khái quát ở một số sách và một
số tạp chí như: “ Hỏi đáp pháp luật về quyền Thừa kế” của Luật sư Bùi Văn Thấm
biên soạn với nội dung giải đáp các vấn đề cơ bản về thừa kế hay một số tạp chí
như: “ Mối liên hệ giữa di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc với di
sản thừa kế theo di chúc’’ của Thạc sỹ Vũ Thị Lan Hương đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu pháp luật số 10 năm 2010 với nội dung chủ yếu là phân tích các quy
định trong thông tư 81 ngày 24/7/1981; Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và một số điều
và TS. Đinh Ngọc Hiện hướng dẫn khoa học;“ Bản án và bình luận bản án của”
của Đỗ Văn Đại Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh chủ biên…
3
Các bài viết trên được nhìn nhận đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau về
những vấn đề liên quan đến thừa kế. Tuy nhiên việc nghiên cứu một chế định riêng
về phân chia di sản thừa kế thì chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
chuyên sâu. Do vậy, Bộ luật dân sự 2015 vừa ban hành, đã giải quyết được một số
vướng mắc trong thực tế về vấn đề thừa kế.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
a. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ hơn về phân chia di sản thừa kế,
tìm hiểu thực tế áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế
trong hoạt động xét xử của tòa án, tìm hiểu thực tế áp dụng pháp luật về phân chia
di sản thừa kế trong các văn bản Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Bộ luật
dân sự 2015 và theo luật Công chứng 2014. Từ đó kiến nghị hoàn thiện chế định
phân chia di sản thừa kế cho phù hợp với tổng thể các quy định trong bộ luật dân sự
và đồng bộ hóa các quy định của ngành luật khác.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Làm sáng tỏ các quy định về thừa kế theo Bộ luật dân sự 2005 so với Bộ
luật dân sự 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 .
- Phân tích, so sánh mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự với các quy định của
Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai, Luật sở hữu trí tuệ, Luật công chứng…
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về thừa kế trong thực tế,
phương hướng và cách thức khắc phục. Đề xuất một số ý kiến về việc ban hành các
quy định pháp luật liên quan đến thừa kế.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
a. Cơ sở lý luận
2015 về thừa kế; Các văn bản hướng dẫn về thừa kế; Các bản án……
b. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là so sánh những điểm mới về các quy định
phân chia di sản thừa kế của Bộ luật dân sự 2015 so với Bộ luật dân sự 2005 và một
số quy định khác của pháp luật về di sản thừa kế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5
Đề tài luận văn thạc sỹ“ Phân chia di sản thừa kế theo bộ luật dân sự 2015”
là một công trình nghiên cứu toàn diện về phân chia di sản thừa kế qua thực tiễn tại
các tổ chức hành nghề công chứng.
Luận văn đã giúp cho bản thân nâng cao được nhận thức, lý luận thực tiễn
đối với các vụ việc về giải quyết phân chia di sản thừa kế tại cơ quan và có thể làm
tài liệu tham khảo cho cá nhân, tổ chức muốn tìm hiểu pháp luật về phân chia di sản
thừa kế.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm ba phần: Lời mở đầu, nội dung và kết luận. Phần
nội chính được lập thành 2 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và qui định của pháp luật về di sản thừa kế và phân
chia di sản thừa kế
Chương 2 : Thực trạng áp dụng pháp luật về phân chia di sản thừa kế và
kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phân chia di sản thừa kế.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN THỪA KẾ
VÀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
chết đó để lại mà còn gồm cả những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản phát sinh do
quan hệ hợp đồng hoặc do việc gây thiệt hai mà người chết để lại ”. So với sắc lệnh
97-SL thì di sản thừa kế không những bao gồm tài sản, quyền tài sản mà còn bao
gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại.
- Thông tư số 81 của TANDTC ngày 24-7-1981 của Toà án nhân dân tối cao
quy định di sản thừa kế bao gồm:
+ Các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để thừa kế về thu nhập hợp
pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt và những công cụ sản xuất dùng
trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ.
+ Các quyền về tài sản mà người để thừa kế được hưởng theo quan hệ hợp
đồng hoặc do được bồi thường thiệt hại.
+ Các nghĩa vụ về tài sản của người để thừa kế phát sinh do quan hệ hợp
đồng, do việc gây thiệt hại hoặc do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
(Ví dụ: Một món nợ, một khoản bồi thường thiệt hại v. v...).
Theo quy định trên thực ra chỉ là cụ thể hóa quy định tại Thông tư 594 được
ban hành trước đó. Theo đó, nội dung di sản thừa kế được hiểu là bao gồm cả nghĩa
vụ về tài sản của người để lại.Tuy nhiên, có một đặc điểm dễ nhận thấy là quyền sử
dụng đất không phải là di sản thừa kế.
- Tại Điều 4 pháp lệnh thừa kế ngày 30-08-1990 quy định: "Di sản bao gồm
tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung
với người khác, quyền về tài sản do người chết để lại". Như vậy, Pháp lệnh Thừa
kế đã loại bỏ nghĩa vụ về tài sản của người để lại thừa kế ra khỏi di sản thừa kế.
Nghĩa vụ về tài sản sẽ được trừ đi khi xác định di sản, phần còn lại mới được tính là
di sản thừa kế. Thông tư 594; Thông tư 81 và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày
19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân tối cao hướng dẫn thi hành pháp
lệnh Thừa kế thì quyền sử dụng đất vẫn không phải là di sản thừa kế. Hiến Pháp
năm 1992 được ban hành thay thế Hiến pháp năm1980, đã ghi nhận công dân được
8
mà người thừa kế phải thực hiện, cụ thể: BLDS 2005 đã bổ sung cụm từ“ Trong
phạm vi di sản do người chết để lại” và “ Trừ trường hợp có thỏa thuận khác ” đây
chỉ là sự thay đổi có ý nghĩa rất lớn về mặt pháp lý.
Về nguyên tắc, nghĩa vụ của người thừa kế đối với khoản nợ do người chết
để lại nằm trong giới hạn và theo tỷ lệ di sản mà họ nhận được từ người chết, nhưng
phạm vi này có thể không tương ứng với tỷ lệ di sản, thậm chí có thể lớn hơn phần
di sản mà người thừa kế thực tế được hưởng, nếu các bên có thỏa thuận khác. Đây
là qui định vừa bảo vệ được quyền lợi chính đáng của những người thừa kế và
quyền lợi chính đáng của chủ nợ, vừa đề cao nguyên tắc tự định đoạt trong quan hệ
dân sự, khuyến khích con cháu của người chết thực hiện thay toàn bộ nghĩa vụ mà
người chết để lại, nhưng vẫn giữ được nguyên tắc “ Trả nợ không làm xấu đi tình
trạng của người thừa kế và món nợ mà người thừa kế phải gánh chịu không được
vượt quá di sản”. Mặt khác, nội dung điều luật trở nên mềm dẻo hơn, mở ra một
không gian tự do nhiều hơn để giữa nội bộ những người thừa kế với nhau và với
chủ nợ có thể tự thỏa thuận để thực hiện nghĩa vụ dân sự do người chết để lại, mà
không bị gò bó, cứng nhắc như qui định tương ứng của Luật cũ.
Xét quy định trên của pháp luật về di sản thừa kế từ trước đến nay luôn có
sự thay đổi và chưa có một văn bản nào đưa ra được khái niệm về di sản thừa kế mà
chỉ trực tiếp hoặc gián tiếp quy định về các thành phần của di sản thừa kế. Tuy
nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành, chúng ta có thể hiểu di sản thừa
kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết để lại, còn thừa
kế là việc dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những người được hưởng
thừa kế. Tại Điều 105 BLDS 2015 quy định về di sản thừa kế là các loại tài sản
không bị hạn chế về số lượng, giá trị miễn là thuộc quyền sở hữu của cá nhân như:
Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Hiện nay vấn đề di sản thừa kế được đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Thứ nhất: Vấn đề về nghĩa vụ tài sản của người chết để lại có nằm trong
phạm vi tài sản của người chết hay không ?
nhân và gia đình ngày càng nhiều. Vì vậy, các tranh chấp nói chung và các tranh
chấp liên quan đến vấn đề thừa kế nói riêng ngày càng tăng về số lượng đồng thời
mang tính chất phức tạp hơn. Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế giữa các bên
11
chủ thể là xác định di sản và phân chia di sản thừa kế đúng để đảm bảo quyền, lợi
ích của những người được hưởng thừa kế.
Trong quan hệ thừa kế nếu chỉ có một người có quyền hưởng di sản thì họ là
sở hữu duy nhất của khối di sản sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người
chết để lại và cũng chỉ có mình họ phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản đó. Vì lẽ đó
mà việc phân chia di sản thừa kế chỉ đặt ra khi có ít nhất từ hai người trở lên có
quyền thừa kế đối với khối di sản của người chết để lại.
Vậy, phân chia di sản thừa kế là tập hợp các hoạt động nhằm xác lập quyền
sở hữu đối với phần di sản cho từng người một có quyền hưởng thừa kế trong khối
di sản chung sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản. Chấm dứt tình trạng
nhiều người cùng có quyền được hưởng thừa kế từ một hoặc nhiều tài sản do người
chết để lại [1, tr.183].
1.2. Quy định của pháp luật về di sản thừa kế
1.2.1. Phân loại tài sản
Nhận thấy rằng tài sản đóng vai trò thiết yếu đối với nền kinh tế quốc dân và
đời sống xã hội. Vì vậy, pháp luật đã có những quy định để điều chỉnh, cụ thể tại Bộ
luật dân sự năm 2015 thì tài sản là một chế định quan trọng, trong đó phân loại tài
sản có ý nghĩa rất lớn về mặt pháp lý cũng như trên thực tiễn. Thông thường, theo
quy định của Bộ luật dân sự 2015, tài sản được phân loại theo một số tiêu chí sau:
Thứ nhất: Theo phương pháp liệt kê
Tại Điều 105 BLDS năm 2015 tài sản được liệt kê gồm: Tài sản bao gồm vật,
tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
Tuy nhiên, phân loại tài sản theo cách liệt kê trên hiện tại vẫn còn nhiều quan điểm
khác nhau về một số đối tượng như: Tài sản game online, khoảng không, hệ thống
Thứ tư: Căn cứ vào hình thức biểu hiện của tài sản trong quá trình sử dụng thì
tài sản được chia thành: Tài sản gốc ( vốn) và tài sản phát sinh ( hoa lợi, lợi tức).
Tài sản gốc được hiểu là khi được sử dụng để khai thác công dụng mang lại những
lợi ích vật chất nhất định
Hoa lợi và lợi tức được quy định tại Điều 109 BLDS 2015. Theo đó, hoa lợi là sản
vật tự nhiên mà tài sản mang lại. Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác
tài sản.
Trên đây là một sô số tiêu chí để phân loại tài sản, ngoài ra trên thực tế còn nhiều
cách phân loại tài sản khác nhau như: Tài sản cố định và tài sản lưu động; Tài sản
hữu hình và tài sản vô hình
1.2.2. Xác định di sản thừa kế
Thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước ghi nhận và bảo
hộ quyền sở hữu của cá nhân. Từ đó cá nhân có được các quyền năng trong sở hữu
là quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng. Lúc còn sống
một người có quyền sở hữu đối với những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, khi
họ chết thì có quyền để lại tài sản đó cho người khác còn sống. Thực hiện việc để
lại di sản là chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt thông qua một hành vi pháp lý.
Căn cứ theo Điều 612, BLDS 2015 xác định:“ Di sản bao gồm tài sản riêng của
người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác ”. Tài
13
sản riêng của người chết được hiểu là phần tài sản mà về phương diện pháp lý
không bị chi phối hay phải chịu một ràng buộc nào với các chủ thể khác trong việc
chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt [ 8, tr.99].
- Tài sản riêng của người chết : Là phần tài sản không bị chi phối về mặt
pháp lý, không phải chịu sự ràng buộc với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu,
sử dụng và quyền định đoạt. Tài sản riêng được quy định tại điều Điều 612, BLDS
2015 xác định: “ Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của
người chết trong tài sản chung với người khác ”, Như vậy để xác định tài sản của
tôn trọng quyền sở hữu tài sản của vợ, chồng. Mặt khác tạo điều kiện cho mỗi bên
được hoàn toàn chủ động, độc lập thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép đối
với chủ sở hữu.
- Tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác
Là phần tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng hoặc nằm trong
khối tài sản thuộc sở hữu chung theo phần với nhiều người khác, tuỳ theo cách
thức và căn cứ xác lập nên các hình thức sở hữu đó.
+ Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng:
Tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra từ thu nhập lao
động, sản xuất, kinh doanh và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn
nhân mà vợ chồng được thừa kế chung; Tặng, cho chung và những tài sản khác
được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có
được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Những tài sản này là tài sản
thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, nếu bên nào chết trước thì bên kia yêu
cầu chia di sản thừa kế thì tài sản chung này được chia đôi một nửa thuộc sở hữu
của người chết, một nửa thuộc sở hữu của người sống.
+ Tài sản thuộc sở hữu chung theo phần:
Sở hữu chung theo phần cho phép xác định phần quyền của mỗi chủ sở hữu
như phần vốn góp trong công ty, phần vốn góp để kinh doanh, phần tài sản được
cho chung, được thừa kế chung của nhiều người. Khi người này chết thì những tài
sản này trở thành di sản thừa kế.
15
Ngoài ra còn có các quyền về tài sản mà người chết để lại giá trị được bằng
tiền như quyền bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm hợp đồng, quyền được
hưởng lợi từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng đất.
Các quyền khác không phải là di sản thừa kế như: Tiền trợ cấp thương tật;
tiền tuất; tiền cấp dưỡng; tiền lương hưu mà nhà nước trả cho người lao động có
vậy, tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu
17
chung của những người thừa kế, những người thừa kế trở thành chủ sở hữu chung
những tài sản của người chết để lại sẽ phân chia những tài sản đó căn cứ theo di
chúc hoặc theo pháp luật. Việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại
phải xác định được người thực hiện nghĩa vụ thanh toán; Người thanh toán di sản;
Giới hạn của việc thanh toán; Thứ tự ưu tiên thanh toán;
Điều 658 BLDS 2015 quy định thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản
và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế trong đó cần lưu ý:
+ Về chi phí mai táng cho người chết và chi phí bảo quản trông coi di sản:
Những chi phí này không được coi là nợ của người chết để lại mà là những khoản
liên quan đến di sản được phát sinh sau thời điểm mở thừa kế. Mặc dù đây không
phải là nợ của người chết nhưng khi thanh toán sẽ được lấy từ di sản của người chết
để lại. bao gồm: Chi phí lễ tang; Chi phí quản lý di sản; Chi phí kiểm kê tài sản; Chi
phí thuê để lấy tài sản từ người khác.
+ Về nghĩa vụ tài sản do người chết để lại: Là nghĩa vụ phát sinh khi người
chết còn sống. Các nghĩa vụ này được ưu tiên thanh toán trước và sau. Về nguyên
tắc thì tất cả các nghĩa vụ này đều phải được thanh toán. Ngoài ra Điều 658 BLDS
2015 có sự thay đổi về thứ tự so với Điều 683 BLDS 2005 cụ thể như:
- Khoản 9 điều 683 BLDS 2005 quy định về “Chi phí cho việc bảo quản di
sản” được đưa lên khoản 3 Điều 658 BLDS 2015, điều đó thể hiện các nhà làm luật
đã coi trọng các khoản chi phí cho việc bảo quản, duy trì và bảo đảm toàn vẹn cho
di sản; bảo đảm phần di sản mà từng người được hưởng.
- Khoản 7 điều 683 BLDS 2005 quy định về “Tiền phạt” được đưa xuống
khoản 9 Điều 658 BLDS 2015 và đứng sau “Khoản 8” là các khoản nợ khác đối với
cá nhân, pháp nhân. Ta thấy sự thay đổi này là hợp lý vì khi thanh toán tài sản phải
thanh toán từng nghĩa vụ một, nghĩa vụ tiếp theo chỉ được thanh toán khi nghĩa vụ
trước đó đã được thanh toán.
dẫn đến việc xác định di sản chưa đồng nhất.
Ví dụ: Ông A có vợ là bà B có 2 con là C, D ( đều đã thành niên) . Trước khi
chết, ông A có để lại di chúc hợp pháp. Theo di chúc, C được hưởng 80 triệu đồng ;
D được hưởng 80 triệu đồng; 40 triệu còn lại để làm chi phí mai tang sau khi ông A
chết. Truất quyền hưởng di sản của bà B. Di sản được xác định là 200 triệu đồng.
19
Nếu bà B yêu cầu tòa án bảo vệ quyền hưởng di sản thừa kế của mình thì tình huống
trên được giải quyết như sau
+ Chia theo di chúc: 40 triệu đồng dùng làm chi phí mai táng; C=D=160: 2 =
80 triệu đồng, vậy C được hưởng 80 triệu đồng; D được hưởng 80 triệu đồng.
+ Chia theo pháp luật: Vì bà B là người được hưởng di sản thừa kế không
phụ thuộc vào nội dung di chúc nên được xác định kỷ phần là: ( 180:3) x 2/3= 40
triệu đồng. Số tiền này được trừ từ phần di sản của C và D.
Từ cách tính như trên ta có công thức sau:
Trong đó, tổng di sản là toàn bộ di sản người chết để lại, không liên quan đến
việc định đoạt trong di chúc. Tổng người thừa kế theo luật là toàn bộ những người
thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản( Không tính những người bị tước bỏ,
bị từ chối, người chết trước, chết cùng thời điểm với người để lại di sản mà bản thân
họ không có người thừa kế thế vị). 2/3 suất thừa kế của một người thừa kế theo luật
được hiểu là nếu chia theo luật thì người này chỉ được hưởng 2/3 của một suất theo
luật đó ( một suất theo luật là chia để xác định là bao nhiêu sau đó nhân với 2/3 chứ
không phải là chia theo luật để ai hưởng)[ 6, Tr.51].
- Phần di sản dành cho di tặng
Căn cứ theo khoản 1 Điều 646 BLDS 2015 quy định:“ Di tặng là việc
người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải
được ghi rõ trong di chúc ”. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di
sản để tặng cho người khác, phần di tặng này có hiệu lực cùng với di chúc khi