Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người việt nam tại tỉnh salavan (lào) từ năm 1986 đến năm 2015 - Pdf 46

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––

SINGAMPHAI PHIMPHAPHONE

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ, VĂN HÓA
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƢỜI VIỆT NAM
TẠI TỈNH SALAVAN (LÀO)
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

THÁI NGUYÊN - 2016

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
–––––––––––––––––––––

SINGAMPHAI PHIMPHAPHONE

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ, VĂN HÓA
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƢỜI VIỆT NAM
TẠI TỈNH SALAVAN (LÀO)
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM

Nam của khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã chỉ
bảo tận tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Salavan, Sở Lao
động và phúc lợi xã hội, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Ngoại giao, Công an quản
lý người nước ngoài, Công an quản lý điều tra dân số tỉnh Salavan, Hội người
Việt tại tỉnh Salavan, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Pakse và các đơn vị liên
quan khác đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt để tác giả hoàn thành luận văn.
Trong thời gian đi thực tế, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các già làng, trưởng bản và những người cung cấp thông tin là
người Lào và người Việt ở nhiều làng, bản của tỉnh Salavan. Tác giả trân thành
cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Cao
đẳng sư phạm Salavan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác
giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày…….tháng…… năm 2016
Tác giả luận văn

Singamphai Phimphaphone

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ii
ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


MỤC LỤC
Lời cam đoan ..................................................................................................... i
Lời cảm ơn ....................................................................................................... ii
Mục lục ........................................................................................................... iii
Danh mục các chữ viết tắt ................................................................................ iv

Tiểu kết chương 2 ........................................................................................... 49
Chƣơng 3: ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƢỜI VIỆT NAM Ở TỈNH
SALAVAN (1986-2015) ............................................................................... 51
3.1. Văn hóa vật chất ...................................................................................... 52
3.1.1. Ăn uống ................................................................................................ 52
3.1.2. Trang phục ............................................................................................ 58
3.1.3. Nhà ở .................................................................................................... 59
3.1.4. Phương tiện đi lại, vận chuyển .............................................................. 61
3.2. Văn hóa tinh thần ..................................................................................... 62
3.2.1. Ngôn ngữ và giáo dục ........................................................................... 62
3.2.2. Tín ngưỡng, tôn giáo ............................................................................. 65
3.2.3. Phong tục tập quán ................................................................................ 69
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................... 80
KẾT LUẬN ................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –iv
ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết là

Đọc là

CHDCNH

Công hòa Dân chủ Nhân dân


Trang

TTĐT

Thông tin điện tử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –iv
ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê dân số các dân tộc tại tỉnh Salavan năm 1995 ................. 11
Bảng 1.2: Thống kê Việt Kiều đã đăng ký hộ khẩu ở tỉnh Salavan năm 2015 ....... 25
Bảng 1.3: Thống kê người Việt Nam nhập cảnh tại tỉnh Salavan từ năm 20072015 ................................................................................................ 28
Bảng 1.4: Thống kê quê quán người Việt Nam cư trú tạm thời tại huyện
Laungam, tỉnh Salavan năm 2015 ................................................... 29
Bảng 2.1: Thống kê cơ cấu nghề nghiệp của người Việt Nam cư trú tạm
thời tại tỉnh Salavan năm 2015 ........................................................ 35
Bảng 2.2: Thống kê người Việt Nam làm nông nghiệp tại 4 nông trường ở
huyện Laungam năm 2015 .............................................................. 36
Bảng 2.3: Thống kê một số cửa hàng buôn bán lớn ở tỉnh Salavan năm 2015 ...... 40
Bảng 2.4: Thống kê một số cửa hàng buôn bán trung bình ở tỉnh Salavan
năm 2015 ........................................................................................ 41
Bảng 2.5: Thống kê cửa hàng buôn bán của người Việt Nam ở tỉnh
Salavan (năm 2015) ...................................................................... 42
Bảng 2.6: Thống kê các dịch vụ của người Việt Nam tại tỉnh Salavan (năm
2015)............................................................................................... 43

Nam với chiều dài 80 Km, đây là tỉnh có khá đông người Việt làm ăn, sinh
sống. Trong chiến tranh, họ đã cùng sát cánh với nhân dân Lào chiến đấu giành
độc lập. Thời bình, người Việt lại góp sức mình xây dựng đất nước Lào trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 1ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


nhiều lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa và xã hội. Do sống cộng cư với người Lào,
nên người Việt có những điểm tương đồng với văn hóa Lào. Tuy nhiên, họ vẫn
có những nét văn hóa đặc trưng. Để tìm hiểu sâu sắc về cuộc sống sinh hoạt của
người Việt định cư tại Salavan, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Hoạt động
kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan (Lào) từ
năm 1986 đến năm 2015” làm luận văn thạc sĩ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về hoạt động kinh tế,
văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Salavan (Lào). Do đó, đây là
công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện đề tài, tác giả luận văn đã được tiếp cận một số tác phẩm, công trình
nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần quan trọng giúp tác
giả thực hiện đề tài như:
Về sách: có cuốn “Lịch sử tỉnh Salavan” của Phoxay Sihachak, xuất bản
năm 2000. Trong cuốn sách này, Phoxay Sihachak đã đề cập đến quá trình hình
thành và phát triển của tỉnh Salavan, tuy nhiên, trong nội dung dân cư, tác giả
không viết về người Việt cũng như quá trình sinh sống của cộng đồng người
Việt Nam tại tỉnh Salavan.
Năm 2003, trong sách “Lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam - Lào” gồm 4
tập của nhóm các tác giả Lào, do Nhà xuất bản Quốc gia Lào phát hành, nhóm
tác giả đã đề cập nội dung về mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam Lào trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 2003. Đồng thời tác phẩm
này cũng đã cung cấp cho tác giả luận văn những tư liệu về quá trình hình

Nam Á, số 2, tr. 37-43, năm 2007. Bài viết này đã tìm hiểu đến hoàn cảnh lịch
sử, nguyên nhân và các đợt di dân của người Việt Nam đến đất nước Lào.
Năm 2007, trong Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 9, tr. 47-49, có
bài viết “Đóng góp của Việt kiều trong đấu tranh giành độc lập của nhân dân
Lào giai đoạn những năm 30 của thế kỷ XX” của tác giả Nghiêm Thị Hải Yến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 3ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


Trong bài viết này, tác giả đã nói đến hoàn cảnh lịch sử của Lào, vai trò và sự
đóng góp quan trọng của Việt kiều trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân
dân Lào giai đoạn những năm 30 của thế kỷ XX.
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, năm 2007 đã dành một chuyên đề
về vấn đề người Việt ở Lào. Trước hết, phải kể đến bài viết “Cộng đồng người
Việt tại Lào sinh tồn và giữ gìn bản sắc” của Nguyễn Duy Thiệu (tr 3-18) đã tìm
hiểu đến tình trạng và sự chuyển đổi, hòa nhập văn hóa và việc bảo tồn bản sắc
văn hóa trong môi trường mới ở Lào của cộng đồng người Việt Nam.
Cũng trong Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, xuất bản năm 2007,
bài viết “Tài liệu lưu trữ thời kỳ thuộc địa Pháp liên quan đến Cộng đồng người
Việt ở Lào” của tác giả Nguyễn Hào Hùng đã đề cập về cộng đồng người Việt
ở Lào trong thời kỳ thuộc địa Pháp và các tài liệu lưu trữ thời kỳ thuộc địa
Pháp (tr. 70-77). Bài viết “Chùa của người Việt ở Lào”, tr. 57-62. của tác giả
Nguyễn Lệ Thi lại nghiên cứu về các công trình kiến trúc, những ngôi chùa
Việt, điểm khác biệt trong bài trí, kiến trúc và tín ngưỡng tôn giáo của người
Việt Nam ở Lào. Còn trong bài viết của Nguyễn Duy Thiệu và Amthilo
Latthanho về “Bước đầu tìm hiểu luật pháp và chính sách của chính phủ Lào
đối với người nước ngoài và người Việt Nam tại Lào”, tr. 63-70 lại cung cấp
thông tin về luật pháp và chính sách của chính phủ Lào đối với người nước
ngoài nói chung, người Việt nói riêng đang sinh sống và làm ăn tại nước Lào.

đề cập tới hoạt động kinh tế văn hóa của người Việt Nam tại tỉnh Salavan,
những sắc thái đa dạng và cả những đặc trưng trong đời sống của cộng đồng
người Việt nơi đây. Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu đó đã giúp tác
giả luận văn có cơ sở và một số tư liệu cần thiết làm nền tảng, gợi mở hướng
nghiên cứu để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động kinh tế, văn hóa trong đời sống của cộng đồng người Việt
Nam tại tỉnh Salavan (Lào).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 5ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


3.2. Nhiệm vụ
- Khái quát về tỉnh Salavan (điều kiện tự nhiên, xã hội…), quá trình định
cư của người Việt Nam tại tỉnh Salavan và nguyên nhân dẫn đến người Việt
định cư ở tỉnh Salavan.
- Nghiên cứu về các hoạt động kinh tế trong đời sống của người Việt
Nam ở tỉnh Salavan.
- Các hoạt động văn hóa trong đời sống cộng đồng người Việt Nam tại
tỉnh Salavan.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Các hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt Nam .
- Phạm vi không gian: Đề tài giới hạn không gian nghiên cứu tại tỉnh
Salavan (Lào)
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2015 (từ khi Lào thực hiện
công cuộc Đổi mới, mở rộng việc hợp tác giao lưu, thúc đẩy phát triển kinh tế
với nhiều nước, đặc biệt là với Việt Nam).
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu

kinh tế văn hóa của người Việt tại tỉnh Salavan.
Để tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hóa của người Việt một cách đầy
đủ, tác giả đã sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học thông qua việc phỏng
vấn trực tiếp người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở Salavan, quan sát
nơi ở và làm việc. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng
các phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh, thống kê các số liệu để hoàn
thiện đề tài.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về kinh tế, văn hóa của
người Việt Nam ở tỉnh Salavan (Lào).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 7ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


- Luận văn là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm về mối quan
hệ giữa Việt Nam - Lào, các môn học lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Lào, lịch
sử văn hóa, tộc người...
- Luận văn là cứ liệu lịch sử khẳng định thêm về mối quan hệ đặc biệt
giữa Việt Nam - Lào trong quá khứ cũng như hiện tại.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của
luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chƣơng 1: Khái quát về tỉnh Salavan và cộng đồng người Việt Nam ở tỉnh
Salavan Chƣơng 2: Hoạt động kinh tế của người Việt Nam tại tỉnh Salavan
(1986-2015)
Chƣơng 3: Đời sống văn hóa của người Việt Nam ở tỉnh Salavan (1986-2015)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 8ĐHTN

Salavan, Khongsedone, Lakhonpheng,Toumlan và Vapi. Nhiệt độ trung bình
trong năm là 260c, nhiệt độ cao nhất 410c, nhiệt độ thấp nhất 070c. Thời tiết
nóng nhất vào tháng 3-5, thời tiết lạnh nhất tháng 12-1. Lượng mưa trung bình
1.800-2.000mm/năm. Sông Mê Công chạy qua tỉnh Salavan ở huyện Lakhonpheng
và Khongsedone có chiều dài 95 km bao gồm nhiều đảo nhỏ lớn như: đảo
Donkhut, Donphimai, Donkhiew, Donmakkeur đó là đường biên giới giữa
Salavan và tỉnh Amnatchalern của Thái Lan. Các con sông chính của tỉnh
Salavan bao gồm: Sedone, Sebangnoune, Sepone, Selanong, Sela mong,
Sepakane, Selana, Sekathet.
Trải qua nhiều biến động trong lịch sử, tỉnh Salavan cũng có sự phân chia
các đơn vị hành chính ở các giai đoạn khác nhau. Năm 1959-1963, tỉnh Salavan
gồm 6 huyện: Salavan, Laungam, Pakxong, Paksenay, Paksenok (Pakxong,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –10
ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


Paksenay, Paksenok thuộc tỉnh Champasak hiện nay) và Khongsedone. Năm
1976-1985 gồm 7 huyện: Salavan, Laungam, Khongsedone, Lakhonpheng,
Vapi, Toumlan. Từ năm 1986 đến nay tỉnh gồm có 8 huyện: Salavan,
Laungam, Khongsedone, Lakhonpheng, Vapi, Tạôi, Toumlan và Samuor.
Về dân cư, theo tạp chí “25 năm con đường phát triển tỉnh Salavan” xuất
bản năm 2000 đã thống kê: năm 2000 Salavan có 294.885 dân số, trong đó có
152.161 nữ, mật độ dân số 28 người/km2. Tỉnh Salavan có hơn 4.700 nhân
khẩu, 14 dân tộc gồm hai nhóm ngôn ngữ Lào - Tày và nhóm ngôn ngữ MônKhơme, mỗi dân tộc đều có tình đoàn kết truyền thống lâu
Bảng 1.1: Thống kê dân số các dân tộc tại tỉnh Salavan năm 1995
Dân tộc

STT


Pako

11 512

4,48

5

Lavên

10,149

3,95

6

Tạôi

9 183

3,58

7

Phù Thai

3 934

1,53


1,06

12

Ka Tu

1 296

0,50

13

Là nay

600

0,23

14

A Lăc

516

0,20

Nguồn: Theo sách “Lịch sử tỉnh Salavan” [tr.18-19]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –11

đất nước phát triển nhanh hơn nữa, dần hội nhập với dòng chảy chung của khu
vực và thế giới, Đại hội IV (năm 1986) của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –12
ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


đi đến một quyết định lịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cách toàn diện
trên mọi lĩnh vực của đời sống, mà trước hết là điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Nghị
quyết Đại hội chỉ rõ: “… Từng bước tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa nhằm xây dựng thành công cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội…” [46, tr. 90]. Trên cơ sở của đường lối đổi mới, nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào từ một nước kém phát triển, đã từng bước xây dựng nền kinh tế
ngày càng phát triển, cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Salavan lần thứ III đã diễn ra ngày 17 tháng 10
năm 1986 tại hội trường Ông Kẹo, trung tâm tỉnh Salavan, Trong Đại hội này
có Tổng bí thư Kaysone Phomvihane tham dự. Đại hội đã đề ra các định hướng
và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Salavan từ năm 1986-1990 đồng
thời đề ra Nghị quyết:
1. Đảm bảo vấn đề lương thực và thức ăn.
2. Ngăn chặn nạn phá rừng làm vườn.
3. Hoạt động phân chia khu kinh tế, có kế hoạch phát triển nông thôn
toàn diện và sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả.
4. Xây dựng cơ sở hạ tầng; mở rộng tuyền thông, giao thông vận tải.
5. Mở rộng thương mại và việc trao đổi hàng hóa.
6. Tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao trình độ cán bộ cho các
lĩnh vực.
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Salavan lần III, Salavan đã
xây dựng cơ sở hạ tầng: giao thông vận tải, thủy lợi, bệnh viện, các trường

diện tích dành cho việc sản xuất nông nghiệp là 100.000 ha. Trong đó, làm
ruộng 45.038 ha, diện tích trồng cây công nghiệp hơn 10.000 ha, trồng cà phê
20.042 ha [46, tr.10-11]. Các loại cây trồng có lúa, lạc, khoai lang, ngô, sắn,
dưa hấu, thuốc lá và các loại rau. Cây trồng nhiều nhất là cà phê, lạc, khoai
lang, ngô. Về cây ăn quả, có xoài, chuối, cam, mít, nhãn, sầu riêng, me... cây
công nghiệp chính được trồng là cao su và cà phê.
Ngành công nghiệp ở tỉnh Salavan chưa phát triển, ngoài nhà máy thủy điện
Selabam có công suất 5.5 MW, Seset1 (45 MW) và Seset2 [9, tr.1509-1510],
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –14
ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


Salavan có một số nhà máy chế biến gỗ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài
sang tỉnh để hợp tác với nhà đầu tư Lào. Đó cũng là một trong những nguyên
nhân cho người nước ngoài sang Salavan để làm việc và định cư ở đây. Bên
cạnh đó, Salavan có nhà máy sản xuất bột ngô - khoai lang mới được xây dựng
5 năm trước. Các nhà máy này không chỉ sản xuất bột ngô - khoai lang mà còn
mua, bán ngô và khoai lang, điều này đã thúc đẩy ngành nông nghiệp ở tỉnh
Salavan ngày càng phát triển.
Về thủ công nghiệp, tỉnh Salavan có nhiều làng bản làm nghề thủ công,
sản phẩm tiêu biểu là đồ dùng trong gia đình như: đan làn, dệt chiếu, đan lẵng,
đan nong, đan liễn (típ xôi) để dùng trong nhà và bán ngoài chợ. Một nghề thủ
công nổi tiếng của tỉnh Salavan là nghề chạm gỗ, đồ khảm trai rất đẹp thu hút
nhiều khách du lịch tại Salavan mua làm kỉ niệm. Trong số các làng nghề, tiêu
biểu là Huội Hún, đây là làng văn hóa của tỉnh với sản phẩm thủ công nổi tiếng
là vải do phụ nữ dân tộc Katu - dân tộc chủ yếu sống ở làng dệt. Các sản phẩm
đặc sắc của Huội Hún thu hút nhiều khách nước ngoài đến vừa du lịch vừa tìm
hiểu văn hóa của dân tộc Katu ở bản Huội Hún mua về làm quà.

anh em gắn bó kéo sơn từ lâu đời. Hai dân tộc Việt - Lào cùng chung dải
Trường Sơn hùng vĩ, cùng uống dòng nước sông Cửu Long. Trong lịch sử của
mình, hai dân tộc Việt - Lào luôn thủy chung son sắt, kề vai sát cánh bên nhau
để đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do cho quốc gia của
mình và nước bạn láng giềng. Nói về tình hữu nghị giữa Việt Nam - Lào Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua
Việt - Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”
Chủ tịch Xuphanuvong của Lào cũng đã khẳng định tình hữu nghị giữa
Việt Nam-Lào:“Cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn đại dương, đẹp hơn
trăng rằm và thơm hơn mọi loại hoa thơm” [9, tr.9].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –16
ĐHTN

http://www.ltc.tnu.edu.vn


Sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, từ năm 1976 đến
năm1985, tỉnh Salavan đã kết bạn với các tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng của
Việt Nam. Hai bên thường tổ chức đoàn đại biểu thăm hỏi, trao đổi bài học
kinh nghiệm và giao lưu văn hóa lẫn nhau.
Từ năm 1993 đến năm 1997, tỉnh Salavan đã tiếp tục tăng cường mối
quan hệ hữu nghị và mối quan hệ đoàn kết đặc biệt với các tỉnh của Việt Nam
như: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam. Cùng
với việc thăm hỏi, trao đổi bài học kinh nghiệm lẫn nhau, hai bên đã kí kết bản
ghi nhớ với các nội dung thỏa thuận hợp tác trong bảo vệ biên giới và hợp tác
kinh tế. Sau kí kết, hai bên đã thực hiện dự án xây dựng đường, dự án phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status