Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015 (LV thạc sĩ) - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

LAYPHONE PHANMAHESACK

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ, VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG
NGƢỜI VIỆT NAM TẠI TỈNH KHĂM MUỘN (LÀO)
TỪ NĂM 1947 ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. KIM NGỌC THU TRANG

THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Hoạt động kinh tế, văn hóa
của cộng đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến
năm 2015” dưới sự hướng dẫn của TS. Kim Ngọc Thu Trang là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
chưa được công bố.
Thái Nguyên, ngày ..... tháng ..... năm 2016
Tác giả luận văn


1.2.3. Thời kỳ sau Pháp thuộc ......................................................................... 16
1.2.4. Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế .......................................... 17
1.3. Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồ ng ng ười Việt Nam .......... 19
Kết luận chương 1 .......................................................................................... 23
Chƣơng 2:HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦACỘNG ĐỒNG NGƢỜI VIỆT
NAM TẠI TỈNH KHĂM MUỘN TỪ NĂM 1947 ĐẾN NĂM 2015 ........... 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –iv
ĐHTN




2.1. Nông nghiệp, thủ công nghiê ̣p , công nghiê ̣p ............................................ 24
2.1.1. Nông nghiệp ......................................................................................... 24
2.1.2. Thủ công nghiệp ................................................................................... 25
2.1.3. Công nghiệp .......................................................................................... 26
2.2. Thương mại và dịch vụ ............................................................................ 28
2.2.1. Thương mại .......................................................................................... 28
2.2.2. Dịch vụ ................................................................................................. 29
Chƣơng 3: HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƢỜI VIỆT
NAM TẠI TỈNH KHĂM MUỘN TỪ NĂM 1947 ĐẾN NĂM 2015 ........... 36
3.1. Văn hóa vật chất ...................................................................................... 36
3.1.1. Ẩm thực ................................................................................................ 36
3.1.2. Trang phục ............................................................................................ 37
3.1.3. Nhà ở .................................................................................................... 40
3.2. Văn hóa tinh thần ..................................................................................... 41
3.2.1. Giáo dục bảo tồn bản sắc ngôn ngữ Việt ............................................... 41
3.2.2. Hôn nhân và gia đình ............................................................................ 46
3.2.3. Tang ma ................................................................................................ 52

ngoài vào đầu tư tại Lào. Trong bối cảnh đó, Lào đã nhận được sự ủng hộ và
giúp đỡ từ Việt Nam. Người Việt đến Lào, làm ăn và sinh sống bằng nhiều
nghề khác nhau từ Bắc Lào đến Nam Lào. Có thể nói rằng: “Bất cứ tỉnh nào ở
Lào đều nhìn thấy bạn Việt Nam”.
Khăm Muộn là một tỉnh nằm ở Trung Lào và là nơi có khá đông người
Việt cư trú, có những gia đình người Việt đã trải qua bảy thế hệ sinh sống tại
đây. Vì thế, Lào đã trở thành tổ quốc thứ hai của họ. Trong quá trình cộng cư ở

1


Lào, người Việt đã tạo nên một cộng đồng với hoạt động kinh tế - văn hóa
mang những nét đặc trưng riêng.
Hiện nay, giới khoa học nghiên cứu về Lào chủ yếu quan tâm đến lịch sử
đấu tranh giành độc lập hoặc chú trọng đến mối quan hệ ngoại giao Việt – Lào
trong lịch sử, những nghiên cứu về hoạt động kinh tế - văn hóa của người Việt
tại Lào và giao thoa văn hóa Việt – Lào nói chung, ở tỉnh Khăm Muộn nói
riêng còn ít được quan tâm nghiên cứu. Vì vậy , việc nghiên cứu về hoạt động
kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm
1947 đến năm 2015 không chỉ làm rõ về quá trình di cư và hình thành cộng
đồng người Việt ở Khăm Muộn (Lào) mà quan trọng hơn là đi sâu nghiên cứu
về hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt tại đây, góp phần làm rõ sự giao
thoa văn hóa Việt – Lào, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm mang tính
chất tham khảo nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác Việt – Lào ngày càng
bền vững hơn.
Những vấn đề đặt ra trên đây là cơ sở để chúng tôi chọn

“Hoạt động

kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ


năm 2006 đã trin
̀ h bày mô ̣t cách khái quát về sự xuấ t hiê ̣n của người Viê ̣t ta ̣i
Thái Lan , Campuchia, Lào qua các thời kì lịch sử , những đóng góp thiế t thực
của Việt kiều trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân

tô ̣c và trong hai cuô ̣c

kháng chiến chống Pháp , chố ng Mi ̃ cứu nước . Đồng thời , tác giả còn đề cập
đến các hoạt động kinh tế và việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc .
Cuốn sách “Vai trò của cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ
Việt Nam - Lào” của tác giả Phạm Đức Thành được Nhà xuất bản Khoa học Xã
hội xuất bản năm 2008 đã trình bày về quá trình nhập cư của người Việt vào
Lào trong quá khứ và vai trò của Việt kiều với mối quan hệ Việt – Lào.
Trong cuốn “Di cư và chuyển đổi lối sống - Trường hợp cộng đồng
người Việt tại Lào” được Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 2008, tác giả
Nguyễn Duy Thiệu đã đi sâu nghiên cứu về quá trình di cư của người Việt đến
Lào trong quá khứ, sự thay đổi trong quá trình cộng cư và lối sống hòa đồng
của người Việt tại Lào. Đồng thời, nêu lên các chủ trương, đường lối chính
3


sách của chính phủ Lào đối với người Việt, từ đó, rút ra những nhận xét khái
quát của tác giả về cộng đồng người Việt tại Lào.
Đề tài cấp viện “Nghi lễ vòng đời của người Việt ở Lào và vấn đề giao
thoa văn hóa Việt Lào ” của tác giả Phạm Thị Mùi đã khái quát vài nét về người
Việt ở Lào với những thay đổi trong tôn giáo, tín ngưỡng, xã hội. Đồng thời,
trình bày tương đối đ ầy đủ và khoa học về nghi lễ vòng đời, nghi lễ liên quan
đến sinh đẻ của người Việt ở Lào, bảo lưu và hội nhập trong mối tương quan so
sánh với người Lào và người Việt ở Việt Nam.

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu người Lào, người Việt đã đạt được
nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu về lịch sử Lào, Việt. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu một cách cụ thể về hoạt động kinh tế - văn hóa của cộng đồng
người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) còn đang là khoảng trống. Vì vậy, tất cả
những công trình kể trên đều là những nguồn tư liệu qúy giá, có ý nghĩa với tác
giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà Luận văn hướng tới là hoạt động kinh tế, văn hóa
của cộng đồng người Việt tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm 2015.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học về người Việt tại Lào, trong
đó trọng tâm là tìm hiểu hoạt động kinh tế, văn hóa của người Việt tại tỉnh
Khăm Muộn. Để làm sáng tỏ nội dung Luận văn, chúng tôi tập trung đi sâu
nghiên cứu những vấn đề trọng yếu sau:
- Nguyên nhân và quá trình định cư của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn
qua các thời kì lich
̣ sử .
- Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn.

5


- Hoạt động v ăn hóa của người Việt tại tỉnh Khăm Muộn và giao thoa
văn hóa Việt - Lào thể hiện qua tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, tập quán...
- Rút ra các nhận xét, đánh giá chung về kinh tế, văn hóa của người Việt
tại tỉnh Khăm Muộn.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn về không gian là tỉnh Khăm Muộn (Lào)
- Phạm vi thời gian mà Luận văn bao quát là từ năm 1947 đến năm 2015.

- Luận văn có thể sử dụng như một công trình tham khảo, phục vụ cho
việc nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Đông Nam Á,
lịch sử Lào, lịch sử văn hóa, tộc người.
- Luận văn là cứ liệu lịch sử khẳng định quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
trong quá khứ và hiện tại.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kế t luâ ̣n , phụ lục, thư mục tài liệu tham khảo và
mục lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về tỉnh Khăm Muộn (Lào) và quá trình hình
thành cộng đồng ngƣời Việt Nam tại Khăm Muộn.
Chương 2: Hoạt động kinh tế của cộng đồng ngƣời Việt Nam tại
tỉnh Khăm Muộn từ năm 1947 đến năm 2015.
Chương 3: Hoạt động văn hóa của cộng đồng ngƣời Việt Nam tại
tỉnh Khăm Muộn từ năm 1947 đến năm 2015.

7


Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH KHĂM MUỘN (LÀO) VÀ QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƢỜI VIỆT NAM TẠI KHĂM MUỘN
1.1. Khái quát về tỉnh Khăm Muộn
1.1.1. Lịch sử hình chính
Tỉnh Khăm Muộn hiện nay, xưa kia thuộc quốc gia Sikhottabong cổ,
quốc gia Sikhottabong xuất hiện giữa thế kỷ I trước công nguyên [26, tr.52],
nằm ở cửa sông Xê Bắng Phay cách sông Mê Kông 15km. Từ thế kỷ VI đến
VIII là thời kỳ phồn vinh của quốc gia Sikhottabong, đến thế kỷ IX - XII bị
thống trị và chịu ảnh hưởng của Ganla - Khmer cổ đại (thế kỷ VI - VIII) và
trong thời kỳ Ăng Co mở rộng quyền lực (thế kỷ IX - XIII) thống trị khoảng
hơn 300 năm.

chia tỉnh Khăm Muộn thành hai khu vực riêng biệt: khu vực miền núi và khu
vực đồng bằng, trong đó diện tích khu vực đồng bằng chiếm 46,30%, khu vực
miền núi chiếm 53,7% của diện tích tỉnh [30, tr.1].
Khăm Muộn có nhiều đỉnh núi cao, tiêu biểu là dãy núi Phu Luông (dãy
núi Trường Sơn) với độ cao trung bình là 500 - 700 so với mực nước biển,
chiều dài khoảng 1.100 km (dài nhất Lào) được coi là “Nóc nhà”,“Xương
sống” của bán đảo Đông Dương, nằm giữa ba quốc gia Lào, Việt Nam,
Campuchia với hai vùng chính là Bắc và Nam Trường Sơn.
Rừng núi Khăm Muộn cung cấp cho cư dân địa phương nhiều lâm thổ
sản quý như gỗ đinh, trai, nghiến, lát, nấm hương, mộc nhĩ … Đồng thời, còn là
nơi sinh sống của nhiều loại muông thú như hổ, báo, gấu, sơn dương, hươu, nai,
cầy hương, lợn rừng, khỉ, trăn …Theo thống kê chưa đầy đủ, ở Bắc Trường
Sơn có khoảng 115 loài thú, 416 loài chim, 87 loài bò sát – lưỡng cư, 760 loài
động vật có xương sống và khoảng 1.500 loài thực vật. Đáng chú ý là 25 loài
thú, 23 loài chim, 17 loài bò sát – lưỡng cư, 24 loài thực vật chỉ có ở Bắc
Trường Sơn. Ở Nam Trường Sơn có khoảng 3.600 thực vật, 119 loài thú, 375

9


loài chim, 172 loài bò sát – lưỡng cư. Trong đó, có 38 loài động vật, 32 loài
thực vật nguy cấp, quý hiếm có nguy cơ bị tiệt chủng [30, tr.4].
Đất ở Khăm Muộn có nhiều loại, nhưng chủ yếu là đất đỏ bazan. Ngoài
ra, còn có đất phù sa màu mỡ ven sông Mê Kông rất phù hợp cho việc sản xuất
nông nghiệp, biến nơi đây thành vựa lúa của tỉnh Khăm Muộn.
Khăm Muộn là nơi có dòng sông Mê Kông - một trong những con sông
lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan,
Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam. Ngoài sông Mê Kông , còn có
sông Xê Bắng Phay, Hín Bun và nhiều suối lớn nhỏ rất đa dạng được đổ đều
trên địa bàn tỉnh. Các sông suối có vai trò rất lớn trong đời sống của người dân,

số trung bình 22 - 23 người/km2, có 61.505 hộ gia đình. Khăm Muộn có 9 dân
tộc phân chia theo 3 nhóm ngôn ngữ như:
Nhóm ngôn ngữ Lào – Tày có dân tộc Lào, Phu Thay và Xẹc, có nhiều
trong khu vực huyện Thà khẹc, Nỏng Bốc, Hín Bún, Xê bắng Phay, Mạ Há
Xay, Xay Bua Thong và Khun Khăm.
Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me có dân tộc Mạ Kong, Nguộn, Ty và Ky.
Các dân tộc này sinh sống trong khu vực huyện Bua La Pha, Nhôm Ma Lạt, Na
kái và Xay Bua Thong.
Nhóm ngôn ngữ Mông – Miến có dân tộc Mông sinh sống tại một số làng
trong huyện Thà Khẹc.
Phân bố hành chính có 10 huyện: Thà khẹc, Nỏng Bốc, Hín Bún, Xê
Bắng Phay, Bua La Pha, Mạ Há Xay, Nhôm Ma Lạt, Na Kái, Xay Bua Thong
và Khun Khăm. Trong đó huyện có người Việt sinh sống đông nhất là huyện
Thà Khẹc [30, tr.2-3].
1.2. Quá trình ngƣời Việt đến Lào và định cƣ tại tỉnh Khăm Muộn
Quá trình nhâ ̣p cư của người Việt đến Lào là quá trình diễn ra lâu dài ,
gắ n liề n với quan hệ qua lại giữa hai nước Việt - Lào vốn được thiết lập từ xa
xưa. Từ quá khứ đến hiện tại, người Việt Nam tới Lào làm ăn, sinh sống diễn ra

11


thường xuyên. Tuy nhiên , các đợt di cư của người Việt đến Lào đươ ̣c thúc đẩ y
bởi nhiề u nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau , chủ yếu do hoàn cảnh và
tình hình trong nước tác động.
Quá trình di dân, nhập cư của người Việt đến Lào nói chung và tỉnh
Khăm Muô ̣n nói riêng có thể chia thành 4 giai đoạn:
 Thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn.
 Thời kỳ Pháp thuộc.
 Thời kỳ sau Pháp thuộc.

đi lưu vong, phiêu tán. Nạn phiêu tán trở thành hiện tượng phổ biến, thường
xuyên, nhất là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ trong ba thập niên cuối thế kỷ XIX.
Nhiều người trong số đó đã di cư sang Lào, sống tập trung ở miền Trung và
Nam Lào [18, tr.53 - 61].
Mặt khác, việc di cư của người Việt còn diễn ra trong bối cảnh xã hội rối
ren với hàng loạt các cuộc nổi dậy chống triều đình và khởi nghĩa nông dân.
Thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX là thời kỳ “rối ren thường xuyên, trên khắp
nước”. Đến thế kỷ XIX, sau khi triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng
thực dân Pháp năm 1883 thì các phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổ ra khắp
nơi, tiêu biểu là Phong trào Cần Vương. Phong trào thất bại khi vua Hàm Nghi
bị bắt, một số người ủng hộ vua Hàm Nghi chống Pháp phải chạy sang Lào
lánh nạn để tránh sự tàn sát, truy đuổi gắt gao của Pháp. Những người này sinh
sống ở khu vực Xiêng Vang thuộc tỉnh Khăm Muộn (Lào). “Làng Xiêng Vang
nằm ở trên địa phận huyện Nỏng Bốc, tỉnh Khăm Muộn, được thành lập từ năm
1882 với 5 làng: Xiêng Vang Tạy, Xiêng Vang Huội, Xiêng Vang Cáng, Xiêng
Vang Nứa và Xiêng Vang Hạt. Dân làng thường gọi làng mình là Xiêng Vang
Việt. Lúc đầu, bản chỉ có 10 gia đình người Việt di cư đến cư trú, sinh sống và
sáng lập ra làng Xiêng Vang, trong đó có thể kể đến những cư dân đầu tiên
như ông Đặng Văn Phèn, ông Phồn, ông Lực ... Đây là những người ủng hộ
phong trào Đông Du cụ Phan Bội Châu lãnh đạo , bị thực dân Pháp khủng bố

13


tàn khốc, họ đã di cư sang vùng đất này để nuôi chí cứu nước . Đến năm 1945,
số người Việt ở đây đã lên hơn 500 hộ gia đình và sau này lúc cao nhất tới 600
gia đình với số dân hơn 5.000 người (những người đó chủ yếu từ Quảng Bình
sang đây), những người Lào gốc Việt ở Xiêng Vang cùng người dân Lào đã
cùng nhau trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, cùng chịu gian khổ và tích
cực tham gia cách mạng, chống lại ách thống trị dã man của thực dân Pháp ,



Xiêng Khoảng – Phủ Diễn, Nghệ An (đường số 7); Vinh – Thà Khẹc (đường số
8), và đặc biệt là con đường số

9 nổi tiếng nối với Nam Lào từ Đông Hà

,

Quảng Trị sang Savannakhe ̣t.
Sau Thế chiế n I , từ năm 1919 trở đi, thực dân Pháp càng tích cực đẩy
mạnh việc khai mỏ như các mỏ chì ở Phong Chiêu, Bộ Neng đồ ng thời mở
rộng một số xí nghiệp nên một bộ phận người Việt bị đưa tới Lào làm phu mỏ
và làm “Cu li” công nhân để hoàn thành các công trình trong chính sách “Tích
cực khai thác thuộc địa” ở toàn cõi Đông Dương.
Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, quá trình di dân của người Việt
đến Lào tiếp tục diễn ra. Cuối năm 1945, thực dân Pháp chiếm lại một số vùng
ở Trung, Thượng Lào và các vùng đất ở Nam vĩ tuyến 16. Đến tháng 3 năm
1946, thực dân Pháp chiếm lại tỉnh Pắ c Sê ở Hạ Lào rồi lần lượt tấn công chiếm
các thành phố lớn Savannakhet, Thà Khẹc và Viêng Chăn. Tại đây, thực dân
Pháp đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của lực lượng vũ trang Lào phối hợp
với lực lương vũ trang của Việt kiều Giải phóng quân. Cuộc chiến diễn ra ác
liệt, đặc biệt ở Trung Lào với trận chiến phòng thủ Thà Khẹc vào ngày
21/3/1946. Chỉ trong vòng một ngày, hơn 3.000 dân thường cả người Lào và
Việt (trong đó phần lớn là Việt kiều) đã bị giết hại [32, tr.18]. Do so sánh lực
lượng bất lợi cho Liên quân Lào - Việt, Tổng Tư lệnh Liên quân Lào - Việt
Hoàng thân Xuphanuvông buộc phải ra lệnh vừa chiến đấu vừa rút lui qua sông
Mê Kông sang Thái Lan. Sau đó, phần lớn Việt kiều ở lại Thái hoặc tiếp tục
sang định cư ở các nước khác, còn một phần quay trở lại Lào.
Trong giai đoạn 1939 - 1942, số lượng người Việt Nam ở Lào ước tính

thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ, vì thế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và ủng
hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Đây cũng là thời kỳ ít có người Việt
di cư mới sang Lào.
Sang đến những năm 60 - 70, khi miền Bắc Việt Nam đẩy mạnh quá
trình thống nhất đất nước, việc tiếp tế cho miền Nam Việt Nam đánh Mỹ phụ
thuộc nhiều vào đường mòn Hồ Chí Minh (một phần ở Lào) với những trận
chiến khốc liệt giữa Liên quân Việt - Lào và Mỹ. Do tính khốc liệt của chiến
16


tranh Việt Nam, một số người Việt đã chạy sang Lào, khi chiến tranh kết thúc
họ ở lại làm ăn, sinh sống tại Lào.
1.2.4. Thời kỳ sau giải phóng và phát triển kinh tế
Sau năm 1975, khi Mỹ rút khỏi Đông Dương, một số người Việt Nam do
hoàn cảnh lịch sử hoặc do lo ngại chính quyền mới và những nguyên nhân về
chính trị đã tới Lào định cư.
Sau những thời kỳ chiến tranh, loạn lạc dưới chế độ thực dân Pháp và
Mỹ, khi Việt Nam tiến vào thời kỳ xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ
đổi mới, các đợt di dân của người Việt sang Lào cũng diễn ra với số lượng khá
lớn. Đầu tiên phải kể đến những người Việt theo sự điều động của Chính phủ
Việt Nam đến giúp Lào xây dựng các công trình phát triển kinh tế xã hội

, đặc

biệt là xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở như làm đường giao thông , cầu
cố ng, xây dựng các công trình thuỷ điện, nhà máy, xí nghiệp, nhà cao tầng…
Khi công trình kết thúc, một bộ phận nhỏ công nhân không về quê mà tìm
cách sinh sống tại Lào. Tiếp theo là những người “di cư tự do” đến Lào để tìm
kiếm công ăn việc làm theo mùa vụ, những người thuộc loại này đang ngày
một gia tăng cùng với quá trình phát triển kinh tế của Lào...

Thống kê 5 năm 2010 - 2015
Năm

2010-2011 2011-2012 2012-2013 2013-2014 2014-2015

Nam

540

652

613

885

1,885

Nữ

239

259

283

368

829

Tổng số

Lào ngày một đông hơn . Quá trình nhập cư diễn ra lâu dài suốt từ thời phong
kiế n nhà Nguyễn . Chính những đợt nhập cư đó đã hình thành nên cộng đồng
ngườ i Viê ̣t sinh số ng trên đấ t Lào .
1.3. Chính sách của chính phủ Lào đối với cộng đồ ng ngƣời Việt
Chính phủ Lào không có chính sách riêng đối với cộng đồng người Việt,
mà chỉ có chính sách chung đối với ngoại kiều. Điều này được thể hiện rất rõ
trong một số quy đinh
̣ . Điều 36, trang 11, Hiến pháp Lào quy định: “Những
ngoại kiều chưa có quốc tịch Lào đều được bảo vệ nhân quyền và quyền tự do
theo như Hiến pháp Lào quy định, có quyền khiếu kiện trước toà án và các cơ
quan nhà nước Lào. Mặt khác, họ phải tuân thủ luật pháp cũng như các quy
định của nhà nước Lào” [14, tr.100].
Trong điều 4 trang 3 chỉ thị số 110/97, ngày 20/2/1997 của Bộ trưởng Bộ
Nội vụ Lào về việc tổ chức quản lý người nước ngoài nêu rõ: “Những người
nước ngoài được Bộ Nội vụ đồng ý định cư và làm ăn sinh sống tự do vĩnh viễn
ở Lào thì được cấp chứng minh thư tạm thời của Cục Quản lý xuất nhập cảnh
và được Cục An ninh kiểm soát. Nếu trong 7 năm những người đó có biểu hiện
tốt thì giao cho Cục Quản lý dân số thuộc Văn phòng Quản lý người nước
19


ngoài, cho phép được nhập hộ khẩu và làm chứng minh thư ngoại kiều được
quyền cư trú ở Lào”[14, tr.101].
Nhìn chung , phầ n lớn những người Việt mới đến Lào từ sau năm

1980

đều chưa có cuộc sống ổn định và thành phần hết sức đa dạng . Khi mới nhâ ̣p cư
vào Lào, họ có giấy tờ hợp lệ như giấy thông hành hoặc hộ chiếu (trừ những
người di dân tự do và những người phạm tội ở Việt Nam, trốn chạy sang Lào).

nhất là được theo học tại các trường Đại học trong nước và nước ngoài. Về vấn
đề này, học giả Lào - Sucsavang Simana đã nhận xét: “Người Viê ̣t ở Lào hầu
hết đã trở thành công dân nước Lào một cách, tự nhiên, nghĩa là đã được nhập
quốc tịch Lào, được hưởng mọi quyền hạn công dân như người Lào, có quyền
bầu cử, quyền học hành, quyền buôn bán, quyền mua bán nhà đất, quyền mở
trường dạy và học tiếng mẹ đẻ. Có thể nói rằng, cộng đồng người Việt ở Lào
được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt của chính phủ Lào hơn hẳn cộng đồng
người Việt ở các nơi trên thế giới” [14, tr.49].
Trên thực tế, người Lào gốc Việt được khuyến khích làm các nghề thầy
giáo, bác sĩ, tham gia bộ máy chính quyền Lào ở cấp thấp và thậm chí còn được
tham gia lực lượng vũ trang Lào. Theo quy định của pháp luật, người Lào gốc
Việt có quyền lợi như người Lào. Những gia đình đã sinh sống ở Lào từ 4 đến
5 đời phần lớn đã nhập quốc tịch Lào, nếu đời bố mẹ còn mang quốc tịch Việt
Nam thì con cháu của họ đều nhập quốc tịch Lào.
Trong số những người Việt đến định cư ở Lào từ năm 1975 về trước, bên
cạnh những người đã nhập quốc tịch Lào và trở thành người Lào gốc Việt còn
có những người chưa nhập quốc tịch Lào và đ

ược gọi là Việt kiều.Việt kiều

được Chính phủ Lào cho phép định cư ở Lào với những điều kiện quy định hết
sức cụ thể. Tuy Việt kiều được cấp hộ khẩu và chứng minh thư Lào, nhưng vẫn
mang quốc tịch Việt Nam. Họ được Nhà nước Lào quản lý theo những quy
định đối với ngoại kiều. Theo Bộ Công an Lào:“Việt kiều được hoạt động đi
lại, làm ăn, buôn bán bình thường nhưng Việt kiều không được mua bán đất
đai, nhà cửa. Họ chỉ được quyền thuê đất đai, nhà cửa. Việt kiều cũng không
được Nhà nước Lào cấp giấy phép đầu tư kinh doanh nên họ phải dựa vào môn

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status