ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ ÁNH NGUYỆT
ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA
CỦA CƯ DÂN ĐẢO HÀ NAM, THỊ XÃ QUẢNG YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Thái Nguyên - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ ÁNH NGUYỆT
ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA
CỦA CƯ DÂN ĐẢO HÀ NAM, THỊ XÃ QUẢNG YÊN,
TỈNH QUẢNG NINH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ THỊ THU THỦY
thể tránh khỏi. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo
cùng toàn thể các bạn để luận văn này được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thị Ánh Nguyệt
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ......................................................................................................... i
Lời cảm ơn............................................................................................................ ii
Mục lục ................................................................................................................ iii
Danh mục các bảng ............................................................................................. iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 2
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ............................... 4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................... 5
5. Đóng góp của đề tài ......................................................................................... 6
6. Bố cục của đề tài .............................................................................................. 7
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐẢO HÀ NAM THỊ XÃ QUẢNG YÊN
TỈNH QUẢNG NINH ....................................................................................... 8
1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên .................................................................. 8
1.2. Lịch sử hình thành, diên cách dựng đặt ................................................. 10
1.3. Dân cư ...................................................................................................... 13
1.4. Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân đảo Hà Nam trước năm 1986 .. 14
1.4.1. Đời sống kinh tế ......................................................................... 14
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình sở hữu ruộng đất ở xã Phong Cốc và Yên Đông năm
1956............................................................................................. 16
Bảng 2.1: Thống kê diện tích, năng suất, sản lượng lúa, bình quân đầu
người từ năm 2010 đến 2015 ..................................................... 35
Bảng 2.2: Số lượng gia cầm của đảo Hà Nam qua các năm ....................... 39
Bảng 2.3. Quy mô đàn gia súc qua các năm ............................................... 40
Bảng 2.4.Thống kê tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản ở Hà Nam
năm 2015 (tấn) ........................................................................... 47
Bảng 2.5: Hiện trạng các cơ sở lưu trú trên đảo Hà Nam năm 2015 .......... 52
iv
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THỊ XÃ QUẢNG YÊN
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & môi trường thị xã Quảng Yên)
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và thống
nhất với nhau. Những tri thức lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, sinh động
và đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc. Mỗi sự kiện, hiện tượng xảy ra trong
lịch sử đều mang tính chất địa phương bởi nó gắn với một không gian cụ thể ở
một địa phương nhất định nằm trong chỉnh thể quốc gia dân tộc. Chính vì thế,
văn hóa của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời cũng lưu giữ nhiều nét
văn hóa mang phong cách của vùng duyên hải.
Đại hội VI (1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện trên
mọi lĩnh vực, trọng tâm và trước mắt là đổi mới kinh tế. Từ đó đến nay, nhân
dân Quảng Yên nói chung và Hà Nam nói riêng đã tích cực thực hiện những
chủ trương chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, xây dựng nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, việc
lưu giữ những giá trị văn hóa cổ truyền ở vùng đảo Hà Nam đang gây ra nhiều
dư luận trái chiều. Có ý kiến cho rằng việc lưu giữ những giá trị văn hóa truyền
thống là cần thiết cho việc bảo tồn kho tàng văn hóa địa phương. Có ý kiến lại
cho rằng trong thời buổi kinh tế thị trường với xu thế hội nhập, việc lưu giữ
những phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa truyền thống là vô cùng lạc hậu
và bảo thù, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Đây thực sự là một vấn đề được
quan tâm đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Với mong muốn dựng lại bức tranh kinh tế, văn hóa của cư dân đảo Hà
Nam, tác giả quyết định chọn vấn đề "Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân
đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1986 đến 2015"
làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình. Luận văn được thực hiện qua đó góp phần
quảng bá và bảo tồn những giá trị kinh tế văn hóa đặc sắc nơi đây, đặc biệt là
phát huy những tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước thời kỳ đổi mới.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thời gian gần đây, công tác nghiên cứu lịch sử địa phương đang nhận
được nhiều sự quan tâm, đặc biệt là những vấn đề về kinh tế, xã hội.
2
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Trần Lâm Bền về "Sự hình thành
và phát triển của một số làng tại đảo Hà Nam, huyện Yên Hưng" năm 1971, tác
giả có trình bày sự ra đời của các làng xã ở đảo Hà Nam từ năm 1434 đến thế
thiệu về chùa, đình, đền, miếu, từ đường ở Yên Hưng. Tác phẩm đã giúp ích
cho tác giả trong việc nghiên cứu các yếu tố văn hóa vật chất ở khu vực đảo Hà
Nam.
Cuốn "Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam, huyện Yên Hưng 1930
- 2010" – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội đã giới thiệu một cách hệ
thống các vấn đề lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội, truyền thống đấu tranh của
huyện Yên Hưng trong đó có các xã đảo Hà Nam. Tuy nhiên do chủ yếu nghiên
cứu về lịch sử Đảng nên các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội mới chỉ được đề
cập một cách sơ lược.
Cuốn sách "Đô thị Quảng Yên: truyền thống và định hướng phát triển"
do giáo sư Nguyễn Quang Ngọc chủ biên được Nhà xuất bản Thế Giới xuất bản
tại Hà Nội, năm 2011. Đây là tập hợp các công trình nghiên cứu công phu của
các nhà khoa học trong và ngoài nước. Những vấn đề về lịch sử, kinh tế, văn
hóa, địa chất được đề cập một cách khoa học. Trong đó, nhiều bài nghiên cứu
đã đề cập đến sự hình thành và phát triển, các vấn đề văn hóa của các xã, phường
khu vực đảo Hà Nam.
Luận án tiến sĩ: “Văn hóa vùng biển đảo Quảng Ninh”, của tác giả
Nguyễn Thị Phương Thảo có đề cập đến các lễ hội của vùng đảo Hà Nam.
Luận văn của thạc sĩ Phạm Quốc Long: “Lịch sử văn hóa xã Phong Cốc”
đã trình bày khá sâu sắc về lịch sử và văn hóa phường Phong Cốc, giúp ích rất
nhiều cho tác giả khi nghiên cứu về văn hóa vật chất và tinh thần vùng đảo Hà
Nam.
Nhìn chung, những công trình trên đây ở những khía cạnh khác nhau đã
đề cập đến kinh tế, văn hóa của của dân Hà Nam, là nguồn tài liệu quý báu cho
tác giả tiếp cận và nhiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về vấn đề kinh tế,
văn hóa của đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1986 đến
2015.
3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4
5
Nguồn tài liệu điền dã tại địa phương: bao gồm sự quan sát cảnh quan,
phỏng vấn sâu đối với các đối tượng như: chủ tịch huyện, xã, các trưởng họ,
các bô lão, những thợ thủ công truyền thống…để hiểu rõ những kinh nghiệm
mà người dân đúc kết được trong quá trình sản xuất và ý nghĩa của các tập
quán, sinh hoạt văn hóa…Tư liệu truyền miệng: ca dao, tục ngữ, kinh nghiệm
của cư dân nơi đây trong sản xuất.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất của việc nghiên cứu thuộc ngành khoa học xã hội nên luận
văn vận dụng quan điểm của phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
để đánh giá, phân tích và đưa ra các kết luận.
Về phương pháp chuyên ngành khoa học Lịch sử, tác giả chủ yếu sử
dụng hai phương pháp là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để tái hiện
quá khứ thông qua tư liệu, nhằm tìm hiểu các vấn đề về vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, lịch sử hình thành, các hoạt động kinh tế, văn hóa của đảo Hà Nam,
thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Trong quá trình nghiên cứu, tôi còn sử dụng các phương pháp khác như
phương pháp điền dã dân tộc học, chủ yếu là phương pháp quan sát xã hội và
phỏng vấn sâu. Khi thực tế tại địa phương, tác giả có dịp quan sát các hoạt động
sản xuất kinh tế, các sinh hoạt văn hóa, lễ hội của cư dân đảo Hà Nam; trực tiếp
phỏng vấn các bô lão, những người có kinh nghiệm trong sản xuất, hiểu biết
sâu rộng về văn hóa địa phương, từ đó, so sánh, đối chiếu, bóc tách những vấn
đề có thật trong lịch sử.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài giúp chúng ta tìm hiểu sâu sắc hơn về kinh tế, văn hóa đảo Hà
Nam trong lịch sử và những chuyển biến của tình hình kinh tế văn hóa đảo Hà
Nam từ khi đất nước đổi mới đến nay. Đóng góp tích cực trong việc tìm hiểu
và giảng dạy lịch sử địa phương, giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về đảo
địa hình bốn bề là nước nên Hà Nam được gọi là đảo. Đảo Hà Nam có tọa độ
địa lý 20°54′30″ Bắc và 106°49′39″ Đông. Phía Bắc giáp Sông Chanh, phía
Tây và phía Nam của đảo lần lượt giáp huyện Thuỷ Nguyên và huyện Cát
Hải của thành phố Hải Phòng, phía Đông giáp phường Hà An và thị trấn Quảng
Yên.
Hà Nam là nơi có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của thị xã, nơi
có nhiều tiềm lực để phát triển kinh tế ven biển kết nối giao thương giữa Quảng
Ninh với Hải Phòng. Đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Hà Nam nằm
trong dải hành lang ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng, đây là một trong những
cửa mở ra biển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Do vị trí địa lý nằm gần
với hai thành phố Hạ Long – Hải Phòng, gần các tuyến hàng hải quốc tế Hải
Phòng, Quảng Ninh đi quốc tế, với hệ thống đường bộ thông sang khu Hà Bắc
qua cầu sông Chanh, có quốc lộ 18 đi qua khu vực thị xã…Hà Nam có nhiều
điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu thương mại với Hạ Long, Hải Phòng,
và ra quốc tế, tạo thành trục kinh tế ven biển Hải Phòng – Hà Nam – Hạ Long.
Đặc biệt, hiện nay Hà Nam còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, đền, chùa…nên
có nhiều khả năng kết hợp với khu vực Hạ Long phát triển du lịch nghỉ mát ven
biển và du lịch tâm linh.
8
Hà Nam là một vùng đảo được hình thành từ thế kỷ XV do quá trình quai
đê lấn biển mà thành, cả đảo được bao bọc bởi hệ thống đê dài 34 km, cao trình
5,5m. Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nam là: 125,9 km2 chiếm 40% diện
tích tự nhiên của thị xã. Phía trong đê địa hình tương đối bằng phẳng nhưng do
không được cung cấp nhiều bồi tích nữa nên ngày càng thấp hơn phía ngoài đê.
Đất đai phía trong đê chủ yếu được bồi tích do phù sa sông, song lại chịu ảnh
hưởng của biển nên đất chua mặn là chủ yếu, thích hợp phát triển nông nghiệp
và nuôi trồng thủy hải sản. Phía ngoài đê là vùng bãi triều lúc cạn lúc ngập, đã
và đang được khoanh bao để nuôi trồng hải sản.
nơi đây, đặc biệt là khi bão vào đúng dịp triều cường, gây vỡ đê, toàn bộ cư dân
trên đảo phải sơ tán. Trong lịch sử, Hà Nam đã phải hứng chịu nhiều trận bão
lớn, gây thiệt hại nặng nề như trận bão năm 1955, 1989.
Những điều kiện về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thủy văn cho thấy Hà
Nam là một khu đất thấp nằm ở phía nam thị xã Quảng Yên, có vị trí quan
trọng, đóng vai trò là cánh cửa mở ra biển, không gian phát triển chủ yếu các
ngành kinh tế thế mạnh là dịch vụ vận chuyển và cảng biển, công nghiệp đóng
và sửa chữa tàu thuyền, đồng thời là vùng sản xuất nông nghiệp và khai thác
thủy sản của thị xã.
1.2. Lịch sử hình thành, diên cách dựng đặt
Quảng Yên (trước năm 2011 là huyện Yên Hưng) có lịch sử lâu đời. Từ
cuối thời đại đồ đá mới, cách đây khoảng gần một vạn năm, đã có con người
sinh sống ở Yên Hưng. Những hiện vật khảo cổ tìm thấy ở di chỉ Hoàng Tân
thuộc nền văn hoá Hạ Long, đã chứng minh điều đó. Từ đầu Công nguyên, Yên
Hưng nằm ở vùng đất thuộc quận Giao Chỉ; thời Bắc thuộc gọi là quận Hải
Ninh, là châu Ninh Việt, châu Ngọc Sơn… Triều Đinh (thế kỷ X) vùng đất này
được đặt là trấn Triều Dương (Trào Dương); Triều Lý (từ thế kỷ XI) đổi là châu
Vĩnh An; triều Trần (từ thế kỷ XIII) thuộc về lộ Hải Đông; triều Lê (từ thế kỷ
XV) gọi là Yên Bang (An Bang); triều Nguyễn (từ thế kỷ XIX) lấy một phủ
Hải Đông làm trấn Yên Quảng (dời trấn lỵ đến Quỳnh Lâu - Yên Hưng, tức là
10
huyện lỵ ngày nay). Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), trấn Yên Quảng đổi là trấn
Quảng Yên; năm thứ 12 (1831) đổi thành tỉnh Quảng Yên. Tháng 2-1955, khu
Hồng Quảng (bao gồm tỉnh Quảng Yên và khu Hòn Gai) được lập, Yên Hưng
là một huyện của khu Hồng Quảng; từ tháng 10-1963, là một huyện của tỉnh
Quảng Ninh.
Đảo Hà Nam là vùng có địa hình đồng bằng thấp được bồi đắp bởi phù
sa của hệ thống sông Thái Bình. Hà Nam trước kia là một vùng đất bãi triều âm
Tiên công đã rủ nhau cùng xuôi thuyền dọc sông Hồng, qua sông Bạch Đằng,
đến cửa biển trấn An Bang thì gặp bãi sú vẹt rừng ngập mặn. Một đêm họ lên
trú ở một gò nổi của bãi, nghe thấy tiếng ếch nhái kêu, dự đoán là có nước ngọt.
Họ cùng nhau lên trên gò và phát hiện có nguồn nước ngọt (hồ Mạch ngày nay).
Họ quyết định dừng thuyền tại đây, đi thăm quanh vùng, thấy có nơi đậu thuyền
để tránh sóng to, kênh rạch ra vào thuận lợi. Các Tiên công đã quyết định cùng
gia đình lên bãi triều này khai khẩn đất hoang, đắp đê, lập làng. Đầu tiên lập
nên làng Bồng Lưu, sau đổi thành xã Phong Lưu gồm 3 thôn: Phong Cốc, Cẩm
La, Yên Đông.
Khai canh theo kiểu thủ lĩnh có các nhóm sau:
Vào năm 1434, hai Tiên công là Hoàng Lung, Hoàng Linh (Hoàng Nông,
Hoàng Nênh) quê ở vùng Trà Lũ chiêu tập người đến phía Đông phường Bồng
Lưu quai đê lấn biển khai canh lập nên xứ Bản Động. Sau đó vào thời vua Lê
Thánh Tông 1472, xứ Bản Động đổi thành thôn Trung Bản và sáp nhập với xã
Phong Lưu.
Vào khoảng năm 1434 - 1442, ở ấp Trà Lũ, tổng Đại Hoàng, huyện Chân
Định, phủ Kiến Xương có các họ: Hoàng, Vũ, Trần, Nguyễn gốc từ Thăng Long
lánh nạn Hồ Quý Ly về sinh tụ tại Trà Lũ, lập các làng Văn Lang, Vũ Lăng,
Trà Lũ, Đại Hoàng, Tiểu Hoàng. Họ Hoàng là một họ lớn trong vùng. Cũng
vào khoảng năm Thiệu Bình, các phủ ven biển là Nam Sách, Giáp Sơn, Thái
Bình, Kiến Xương nước lên, đê ngăn bị vỡ, lúa bị ngập, dân chết đói nhiều. Các
huyện ở đầu nguồn và ven biển thuộc Nghệ An cũng bị thủy tai. Bấy giờ Tiên
công Hoàng Kim Bảng, gốc họ Hoàng, ở tổng Đại Hoàng đã cùng với người
em kết nghĩa là Đồng Đức Hấn, thấy vùng cửa sông Bạch Đằng có người kinh
12
thành xuống quai đê lập làng trù phú, bèn chiêu tập người quai đê lấn biển khai
lập thôn Vị Dương, sau thành xã Vị Dương theo phương thức khai canh có thủ
lĩnh.
hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phục vụ cho sự phát triển của đảo.
Hà Nam được hình thành từ thế kỷ XV do quá trình quai đê lấn biển mà
thành. Do vậy, quai đê lấn biển lập làng và làm thủy lợi là một thế mạnh đặc thù
của người dân nơi đây. Những kinh nghiệm xẻ đất, bó độn, cắm say để hạp long,
đắp đê, đào mương và bảo vệ đê điều là những kinh nghiệm lao động quý báu
của người dân Hà Nam nói riêng và Quảng Yên nói chung. Trong quá trình phát
triển làng xã, người dân nơi đây phải vật lộn với bão gió, triều dâng, hạn hán, lũ
lụt… nên những kinh nghiệm tích lũy vô cùng phong phú.
Cư dân Hà Nam có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất.
Vốn xuất thân chủ yếu là các cư dân có nguồn gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ
nên đa số cư dân Hà Nam vẫn làm nông nghiệp. Tuy nhiên đa số họ không
thuần nông, vừa làm ruộng, vừa đánh cá biển, nuôi thủy sản và làm các nghề
thủ công, nghề vận tải, buôn đò dọc, chạy chợ…Nghĩa là tùy thời gian nông
nhàn trong năm, hoặc do nhu cầu sinh hoạt, chi tiêu của gia đình mà phát sinh
rất nhiều nghề khác nhau.
Như vậy, trải qua gần 6 thế kỷ, từ khi lập làng đến nay cư dân đảo Hà
Nam vẫn luôn bảo tồn, lưu giữ những dấu ấn văn hóa cổ truyền của người Việt
ở đồng bằng Bắc Bộ, những kinh nghiệm trong lao động sản xuất và phát huy
tích cực những kinh nghiệm quý báu ấy trong công cuộc xây dựng quê hương
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
1.4. Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân đảo Hà Nam trước năm 1986
1.4.1. Đời sống kinh tế
Hà Nam là vùng đất đồng bằng được tạo nên do quai đê lấn biển, mở
rộng các bãi bồi ven sông và bãi sú vẹt ven biển. Đầu thế kỷ XV, các nhóm dân
cư đến đây khai phá, họ chờ nước triều rút sau đó đắp những khoảnh đất cao để
ngăn mặn, chắn sóng. Những khoảnh đất này dần dần biến thành những con đê
nối liền nhau bao xung quanh Hà Nam để chắn sóng biển xâm nhập. Tiếp sau
đó là cả một quá trình dài và liên tục dân cư nơi đây dùng nước mưa “thau chua
14
15
Thêm vào đó, nạn bao chiếm ruộng đất của cường hào, địa chủ, sưu cao
thuế nặng khiến cho cuộc sống người dân trở nên cơ cực. Diện tích ruộng đất
công giảm, ruộng tư ngày càng tăng lên do việc dành một số ruộng để thờ cúng
Tiên công (Tự điền), một số dùng vào việc khuyến học, thưởng cho những
người đỗ Hương cống và Đại khoa, một số thưởng cho các cụ tuổi từ 80 trở lên
(Lão điền), một số cấp cho lý trưởng, xây dựng đình, chùa… Trước cách mạng
tháng Tám, ở xã Phong Hải bình quân đầu người chỉ có hơn hai sào ruộng để
cày cấy [7, tr.14].
Bảng 1.1: Tình hình sở hữu ruộng đất ở xã Phong Cốc và Yên Đông
năm 1956
Ruộng công
Ruộng tư
Cộng
Tỷ lệ
STT
Tên xã
1
Phong Cốc
1169m30s
phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và đạt kết quả cao. Xã Yên Hải, xã đầu
tiên trong tỉnh được chọn làm thí điểm xây dựng qui hoạch làm thuỷ lợi 2 năm
(1964-1965), góp phần thực hiện khẩu hiệu “Biến khu Hà Nam thành vựa thóc,
biển cá, rừng dừa”. Hợp tác xã cấp cao, qui mô toàn thôn Trần Phú (xã Nam
Hoà), một trong những hợp tác xã tiên tiến của tỉnh, đã có nhiều thành tích
16
trong công tác thuỷ lợi - phát động toàn dân, tự lực làm thuỷ lợi, đào được 13
mương lớn nhỏ, khoanh 4 vùng rộng trên 50 mẫu, bảo đảm đủ nước cấy 2 vụ,
đưa vòng quay của đất lên 2 lần, tự túc được lương thực, bán và nộp thuế cho
nhà nước 21 tấn.
Trong sản xuất nông nghiệp, huyện hết sức chú ý đến việc đưa tiến bộ
khoa học vào sản xuất; loại thải giống cũ thoái hoá, thay giống mới 813, Mộc
Tuyền có năng suất cao vào cây trồng; cấy chăng dây thẳng hàng, thả bèo hoa
dâu “Năm 1967, hợp tác xã Hoà Bình đã đắp 900 m3, Vị Khê đắp 3.500 m3 bờ
thửa. Vụ mùa năm 1967, khu Hà Bắc và Hà Nam đã làm được 6.917 tấn phân
trong đó Hà Nam làm đựơc 3.508 tấn. Hợp tác xã Hoà Bình, Quyết Tiến có
phong trào làm phân khá” [33, tr.85].
Ngày 20-4-1976, Ban Thường vụ Huyện uỷ họp phân vùng sản xuất nông
nghiệp trong huyện thành ba vùng, trong đó vùng 1, gồm khu Hà Nam, Điền
Công chuyên canh lúa 2 vụ, phấn đấu đạt 5 tấn thóc/ha; vụ đông trồng xen khoai
lang, rau, tích cực thả bèo dâu, nuôi lợn (nái, thịt) và cá. Ngày 5-2-1977, Ban
Thường vụ Huyện uỷ họp bổ sung cơ cấu cây trồng cho 2 khu, Khu Hà Nam,
xen canh giữa 2 vụ lúa, trồng cà chua chế biến làm sản phẩm hàng hoá [33,
tr.117].
Từ những chủ trương của huyện, cùng với nỗ lực của nhân dân, nông
nghiệp Hà Nam có thêm bước phát triển mới, các mặt hàng nông nghiệp phong
phú hơn, đáp ứng nhu cầu của cư dân trên đảo và một phần đưa sang tiêu thụ ở
các xã khác.