ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DALOUNNY VONGINTHA
ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HOÁ
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở TỈNH
VIÊNG CHĂN NƯỚC CHDCND LÀO
(1975 - 2017)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DALOUNNY VONGINTHA
ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HOÁ
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở TỈNH
VIÊNG CHĂN NƯỚC CHDCND LÀO
(1975 - 2017)
Ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 8.22.90.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
luận văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn tới gia đình và người thân đã luôn động viên,
khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tại Việt Nam
và tại Lào.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Người thực hiện
DALOUNNY VONGINTHA
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................... v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 4
5. Nguồn tài liệu và phạm vi nghiên cứu............................................................. 4
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 5
7. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 5
8. Cấu trúc của luận văn ...................................................................................... 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VIÊNG CHĂN VÀ QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI
3.2.2. Tôn giáo ................................................................................................... 43
3.2.3. Hôn nhân và gia đình ............................................................................... 47
3.2.4. Phong tục, tập quán ................................................................................. 53
3.2.5. Tang ma ................................................................................................... 55
KẾT LUẬN....................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 63
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết là
Đọc là
CHDCND
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
KHXH
Khoa học xã hội
QĐ
Quyết định
điểm khác nhau và do nhiều lí do khác nhau. Có thể nhận thấy rất rõ, người
Việt định cư lâu dài nhất và số lượng cũng đông nhất so với các nơi khác đó
chính là ở nước CHDCND Lào.
Lào và Việt Nam là hai nước có chung đường biên giới trên bộ, vì thế từ
rất sớm việc di cư của người Việt đến Lào diễn ra liên tục theo chiều dài của
lịch sử. Cùng với quá trình di cư, định cư của người Việt, văn hóa Việt đã có sự
giao thoa với văn hóa Lào. Người Việt cư trú chủ yếu ở các thành thị của Lào
từ đó hình thành nên cộng đồng người Việt ở Lào.
Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, người Việt ở Lào là
người bạn luôn sát cánh cùng nhân dân các bộ tộc Lào, họ đã góp phần làm nên
chiến thắng vẻ vang của dân tộc Lào, đưa nước Lào bước vào kỷ nguyên tự do,
độc lập.
Thời bình, người Việt ở Lào là cầu nối quan trọng trong quá trình vun đắp
mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước Lào - Việt Nam, mối quan hệ mà không có
quốc gia nào có được trong lịch sử ngoại giao của mình.
Viêng Chăn là một trong những tỉnh mà người Việt tập trung sinh sống
đông nhất và có con cháu trở thành nhân dân Lào mà người Lào gọi là “Việt
Kiều”. Họ là lực lượng lớn, quan trọng và góp phần không nhỏ cho quá trình
phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của tỉnh Viêng Chăn. Với mong muốn
tìm hiểu rõ về người Việt và vai trò của người Việt định cư tại tỉnh Viêng
Chăn, tác giả đã chọn chủ đề nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ: “Đời
sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở tỉnh Viêng Chăn
nước CHDCND Lào (1975 - 2017)”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đời sống kinh tế, văn hóa của người Việt Nam ở Viêng Chăn đã được
Cuốn sách “Di cư và chuyển đổi lối sống trường hợp cộng đồng người
Việt ở Lào” của Nguyễn Duy Thiệu, tác giả đã đề cập và giải thích về quá trình
di cư của người Việt.
Nghiên cứu về người Việt ở Lào, những năm gần đây có một số luận
văn đã bảo vệ thành công tại các cơ sở đào tạo Sau đại học tại Việt Nam
như: “Kinh tế, văn hóa của người Việt ở tỉnh Viêng Chăn (Lào) (19752014)” của Phongsavath Silipanya. “Hoạt động kinh tế, văn hóa của cộng
đồng người Việt Nam tại tỉnh Khăm Muộn (Lào) từ năm 1947 đến năm
2015” của Layphone Phanmahesack. “Kinh tế, văn hóa của cộng đồng người
Việt Nam tại tỉnh Luang Prabang nước CHDCND Lào (1986 - 2015)” của
Sombath Kingbouakai….Trên cơ sở khai thác tài liệu từ thư viện, từ các viện
nghiên cứu kết hợp với nguồn tư liệu điền dã tại địa bàn nghiên cứu, các tác
giả đã làm rõ về kinh tế, văn hóa của người Việt ở Lào nói chung và ở các
địa bàn như: Thủ đô Viêng Chăn; Khăm Muộn và Luang Phra Băng….
2.2. Những công trình công trình nghiên cứu đã công bố ở Lào
Năm 2007, có một số bài báo đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội Lào như:
“Yếu tố Việt trong tiến trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa tại Lào” của
Kham Phenug Thip MounTa Li. Tác giả đã trình bày về tiếng nói, nghi lễ hôn
nhân, tín ngưỡng tôn giáo, ăn, mặc và ở của người Việt Nam tại Lào.
“Tiếp xúc giao lưu và chuyển đổi bản sắc tộc người trong nhóm hôn
nhân hỗn hợp Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào” của Xomthon Yerlobliayao.
Tác giả đã trình bày về tình trạng hôn nhân giữa người Lào và người Việt Nam,
những chuyển đổi về mặt văn hóa-xã hội trong nhóm hôn nhân hỗn hợp LàoViệt Nam.
Năm 2010, Nhà xuất bản Thủ đô Viêng Chăn đã xuất bản cuốn: “Thủ
đô Viêng Chăn 450 năm (1560-2010)” của Sôm Sạ Vát Lênh Sạ Vắt, cuốn
sách đã khái quát về lịch sử Viêng Chăn từ năm 1560 đến năm 2010. Trong
dòng chảy chung của lịch sử dân tộc, ở một số trang viết tác giả có đề cập
đến bộ phận người Việt và đóng góp của họ trong quá trình cách mạng của
Viêng Chăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
- Tài liệu lưu trữ: Là các văn bản, báo cáo được lưu trữ tại các cơ quan
chức năng tỉnh Viêng Chăn (Nước CHDCND Lào).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
- Tài liệu điền dã: Tác giả trực tiếp khai thác, thu thập qua quá trình khảo
cứu tại tỉnh Viêng Chăn.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Lĩnh vực khoa học: Kinh tế và văn hóa
- Phạm vi không gian: Tỉnh Viêng Chăn
- Phạm vi thời gian: 1975 - 2017
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử và logic là phương pháp chủ đạo, xuyên suốt trong
quá trình thẩm định, nghiên cứu đề tài gồm các phương pháp:
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê thể hiện qua một
số bảng biểu đã trình bày trong luận văn.
- Phương pháp điều tra được thực hiện triệt để trong quá trình điền dã
của tác giả tại tỉnh Viêng Chăn.
7. Đóng góp của luận văn
- Khái quát hệ thống về thực trạng kinh tế, văn hóa của người Việt sinh
sống tại tỉnh Viêng Chăn.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho cho môn học
Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử Đông Nam Á, Lịch sử Lào, Lịch sử văn hóa,
tộc người... tại Việt Nam và tại Lào.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là cứ liệu lịch sử khoa học khẳng
định quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong quá khứ và hiện tại.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội
đó, Viêng Chăn trở thành nước chư hầu của Xiêm La. Vua A Nu Vông tiến
hành khởi nghĩa chống Xiêm giành độc lập nhưng không thành công. Vua A
Nu Vông bị Xiêm khống chế, lực lượng khởi nghĩa bị tiêu diệt vào năm 1827.
Thành phố Viêng Chăn bị đốt cháy thành tro bụi .
Trải qua quá trình tranh giành quyết liệt giữa Pháp và Xiêm về vấn đề
thuộc địa, đến năm 1893 Xiêm buộc phải đồng ý kí với Pháp hiệp ước phân
chia vùng đất Lào. Viêng Chăn trở thành trung tâm của chính phủ bảo hộ của
Pháp ở xứ Lào năm 1899. Pháp tái lập xây lập thành phố, sửa chữa các chùa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Phật giáo như Pha That Luang, Haw Phra Kaew, và xây dựng nhiều tòa nhà
thuộc địa. Theo sắc lệnh được Thống đốc Paul Doumer ký vào năm 1900, tỉnh
này đã được chia thành bốn huyện ''Mương'', bao gồm Bo Li Khăn, Pat Chum,
Thu La Khôm và Viêng Chăn.
Trong Thế chiến II, Viêng Chăn thất thủ và bị lực lượng Nhật chiếm
đóng, dưới sự chỉ huy của Tướng Sako Masanori. Ngày 9 tháng 4 năm 1945,
lính nhảy dù của Pháp trở lại giải phóng Vientiane vào ngày 24 tháng 4 năm
1945. Khi cuộc nội chiến Lào nổ ra giữa Chính phủ Hoàng gia Lào và quân đội
Pathet Lào, Viêng Chăn là vùng không ổn định. Tháng 8/1960, Kong Le nắm
giữ thủ đô và tuyên bố rằng Souvanna Phouma trở thành Thủ tướng Chính phủ.
Vào giữa tháng 12, Tướng Phoumi chiếm lại thủ đô, lật đổ chính phủ Phouma,
và đưa Boun Oum lên làm Thủ tướng Chính phủ. Giữa năm 1975, quân đội
Pathet Lào tiến về thành phố, lính Mỹ bắt đầu rút khỏi Viêng Chăn. Ngày 2
tháng 12 năm 1975, đảng Cộng sản của quân đội Pathet Lào đã chiếm Viêng
Chăn và đánh bại Vương quốc Lào, kết thúc cuộc Nội chiến. Tuy đất nước
được giải phóng nhưng những thể lực nổi dậy ở Lào vẫn tiếp tục hoạt động
trong rừng sâu (Hmong, Hoàng gia lưu vong và các phần tử cánh hữu) nhằm
Chăn có nguồn thủy sản phong phú.
Với dòng chảy và địa hình dốc của sông Mekong chảy qua Viêng Chăn,
nên thuận lợi cho Lào xây dựng hệ thống thủy điện cung cấp điện năng cho nhu
cầu sinh hoạt và sản xuất. Ở Viêng Chăn có các nhà máy thủy điện lớn như: Thủy
điện Nặm Ngứm và thủy điện Nặm Lịch ở huyện Phương.
Rừng là tài nguyên đặc trưng của Lào. Rừng chiếm phần lớn diện tích đất
phía nam của tỉnh Viêng Chăn. Ở đây, có khu Bảo tồn Đa dạng sinh học Quốc
gia Phou Khao Khouay. Phía đông là Phou Bia, đỉnh núi cao nhất của Lào.
Viêng Chăn có khí hậu nóng và ấm áp, nhiệt độ trung bình cao nhất
34,68°C, nhiệt độ thấp nhất 18,12C. Tỉnh Viêng Chăn có những đặc điểm
chung của khu vực nhiệt đới gió mùa với sự luân chuyển của hai luồng gió
ngược chiều nhau trong một năm: Gió mùa phía Bắc lạnh và khô, gió mùa phía
Nam nóng và ẩm. Hàng năm, mùa mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 dương
lịch với lượng mưa tối đa vào tháng 7 và tháng 8, cường độ mưa tháng lớn nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
có lúc đạt tới 50% lượng mưa cả năm, lượng mưa trung bình khoảng 2,668
mm/năm. Mùa khô hầu như rất ít mưa, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 dương
lịch. Thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt, nửa đầu của mùa khô thì khô rét, độ
ẩm thấp, nửa sau thì khô nóng oi ả. Toàn bộ đời sống văn hóa vất chất của tỉnh
Viêng Chăn đang chịu sự chi phối bởi nhịp điệu tuần hoàn của hai mùa, mùa
mưa và mùa khô nói trên. Với cư dân làm nông nghiệp truyền thống ở tỉnh
Viêng Chăn, mùa mưa là mùa của những hoạt động kinh tế phụ như dệt vải,
đan lát và đặc biệt là mùa của những lễ hội. Lễ cầu mùa là lễ hội quan trọng
nhất trong năm [18].
1.1.3. Dân cư và tộc người sinh sống ở tỉnh Viêng Chăn
Trong lịch sử phát triển, dân số Viêng Chăn có thay đổi trong từng giai
10-06
10-07
10-08
10-09
10-10
10-11
Tên huyện
Mương Phôn Hông
Mương Thụ La Khôm
Mương Kẹo U Đôm
Mương Ka Sỉ
Mương Văng Viêng
Mương Phương
Mương Xạ Ná Kham
Mương Mẹd
Mương Hín Hợp
Mương Viêng Khăm
Mương Mừn
Số làng
59
42
26
51
63
43
34
33
43
1.2. Quá trình người Việt Nam đến Lào và định cư tại tỉnh Viêng Chăn
Quá trình nhập cư của người Việt đến Lào là quá trình diễn ra lâu dài,
gắn liền với quan hệ qua lại giữa hai nước Việt - Lào vốn được thiết lập từ xa
xưa. Từ quá khứ đến hiện tại, người Việt Nam tới Lào làm ăn, sinh sống diễn ra
thường xuyên. Tuy nhiên, các đợt di cư của người Việt đến Lào được thúc đẩy
bởi nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau, chủ yếu do hoàn cảnh và
tình hình trong nước tác động [1]
Di cư của người Việt Nam đến Lào theo các đợt khác nhau. Lào và Việt
Nam có đường biên giới chung, lại có nét tương đồng trong lịch sử thời cận hiện đại nên quá trình di dân, nhập cư của người Việt đến Lào nói chung và
tỉnh Viêng Chăn nói riêng cũng có thể chia thành 3 giai đoạn:
- Thời kỳ phong kiến.
- Thời kỳ thuộc địa của Pháp, Mỹ
- Thời kỳ sau giải phóng và phát triển đất nước.
1.2.1. Thời kỳ phong kiến
Quá trình di dân của người Việt đến Lào bắt đầu diễn ra mạnh mẽ từ thời
phong kiến nhà Nguyễn. Người Việt Nam sang Lào để tránh bị đàn áp vì chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
sách “Bình Tây, sát Đạo” và “Đói kém, thiên tai, sưu cao thế nặng” của chính
quyền nhà Nguyễn. Đây có thể coi như giai đoạn đầu tiên của quá trình di dân
lâu dài, tạo thành các cộng đồng người Việt ở Lào.
Chính sách của triều Nguyễn lên đến đỉnh điểm của sự hà khắc vào thời
vua Tự Đức (1823 - 1883). Các đạo dụ cấm đạo Thiên chúa ban hành vào các
năm 1848, 1851 và tháng 7 năm 1857 với quy định nghiêm khắc như buộc đá
vào cổ rồi ném xuống biển những người giảng đạo, thích chữ vào mặt rồi đầy
đi nơi rừng sâu nước độc, phanh thây những người không chịu bỏ đạo hoặc
chứa chấp giáo sỹ nước ngoài... đã dẫn đến cả một phong trào cấm đạo, giết
Người Việt di cư sang Lào đã lâu và nơi họ lựa chọn định cư thường là
những nơi giao thông thuận tiện. Thời thuộc Pháp, ngôi làng đầu tiên của người
Việt trên đất Lào là Bản Xiêng Vang, thành lập năm 1892, ngay bên bờ sông
Mê Kông phía nam Thakhek. Làng này do Đặng Văn Phèng từ Quảng Bình
trốn sang Lào sinh sống vì bị truy nã sau khi tham gia phong trào chống Pháp
của Phan Bội Châu.
Năm 1912 chính phủ Liên bang Đông Dương ghi nhận có 3.400 người
Việt trên lãnh thổ Lào. Sang thập niên 20 của thế kỷ XX, sau khi hoàn tất ba
con đường xa lộ vượt Trường Sơn nối Lào và Việt Nam thì việc di cư sang Lào
dễ dàng hơn nên tính đến năm 1925 thì số lượng người Việt là 14.000 người và
tăng lên 22.600 người vào năm 1932 [13; tr.27].
Thực dân Pháp lúc bấy giờ chủ trương đưa người Việt sang Lào để phục
vụ trong guồng máy cai trị làm công chức, và giữ những chức vụ thấp vào
đầu thế kỷ 20. Ngoài ra người Việt còn làm thợ máy, thợ mộc. Các ngạch công
chức thấp tại Lào có đến 54% là người Việt [13; tr.27].
Như vậy, ta nhận thấy rõ rằng quá trình di cư của người Việt đến Lào
diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử. Sự có mặt của người Việt sinh sống tại Lào
trước thời thuộc Pháp xuất phát từ nhu cầu cá nhân do làm ăn buôn bán hoặc
lánh nạn do tình hình chính trị trong nước bất ổn. Số lượng này rất nhỏ và khó
có số liệu chính xác.
Hiện tượng di cư của người Việt đến Lào tăng theo thời gian từ khi vùng
đất này là một xứ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Người Việt
đến Lào dưới thời Pháp thuộc được phân thành hai loại:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Thứ nhất, di cư tự phát do điều kiện làm ăn thuận lợi hơn. Mặc dù thiên
nhiên Lào khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, nhưng việc Pháp sáp nhập Lào vào
Đến năm 1937, người Việt chiếm 47% số vị trí các công chức cao cấp
người bản xứ trong bộ máy hành chính tại Lào [1]. Một bộ phận người Việt
khác sang Lào làm culi, phu làm đường và phục vụ trong các hầm mỏ. Đời
sống của họ khổ cực dưới sự giám sát chặt chẽ của các viên quản lí người Pháp.
Họ sinh sống chủ yếu tại các đô thị của Lào. Do không hạn chế việc di cư và
cần nhân lực phục vụ cho khai thác xứ Lào của Pháp nên năm 1942 lượng
người Việt ở Lào lên tới con số 40.000 người. Như vậy, thời kì thuộc Pháp,
người Việt chiếm số lượng không nhỏ trong dân số Lào. Đây là một đặc điểm
xã hội Lào từ thời thuộc Pháp. Tuy nhiên, thời gian sau do kềm chế phong trào
đấu tranh ở Lào, thực dân Pháp đã tiến hành những cuộc đàn áp đẫm máu đối
với người Việt. Vì thế, số lượng người Việt giảm, họ tản cư chạy sang Thái Lan
hoặc định cư ở các nước thứ ba và số ít quay trở về Việt Nam.
Sau khi Pháp rút khỏi Lào, Mỹ tiếp quản và bắt đầu viện trợ cho Chính
phủ Lào.
Thời kỳ thuộc Mỹ, vai trò của người Việt ở Lào không rõ nét, thay thế
vào đó là sự xuất hiện vai trò của người Hoa. Nguyên nhân được lí giải liên
quan đến ngân sách Mỹ phải trả lương cho bộ máy hành chính của Mỹ ở Lào.
“Chính phủ Lào không thể có đủ tiền để trả lương cho quân đội, cảnh sát, giáo
viên và công chức dân sự. Nước Mỹ quyết định giúp không phải thông qua việc
trả cho những người này bằng tiền đô la nhưng thông qua việc đổi tiền đôla
cho Chính phủ Lào theo đó Chính phủ Lào được viện trợ tiền Kíp với tỷ giá 35
Kíp một đô la” [23. tr.53-61]. Việc này đã tạo ra sự hấp dẫn, thúc đẩy sự phát
triển của thị trường chợ đen buôn bán về đô la do mạng lưới buôn bán của
người Hoa lũng đoạn. Đây cũng là thời kỳ Hoa Kiều chiếm vị trí áp đảo, người
Việt không còn giữ được vị trí như trước đây do số lượng giảm và thực lực về
kinh tế không bằng người Hoa. Có thể nói, đây là thời kỳ Chính phủ cầm quyền
ở Lào phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ, vì thế chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ và ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Đây cũng là thời kỳ ít có
người Việt di cư mới sang Lào.
Hiện nay ở Lào vẫn chưa có Tổng hội Việt Kiều nhưng có 10 Hội người Việt ở
10 tỉnh của Lào [6].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
Thập niên 70 của thế kỷ XX, quan hệ Việt - Trung không còn nồng ấm,
chiến tranh biên giới đã xảy ra. Việt Nam được sự đồng ý của chính phủ Lào đã
đưa 50.000 bộ đôi sang Lào nhằm hỗ trợ Lào ngăn ngừa sự tấn công của Trung
Quốc. Cũng vào thời gian này có khoảng 7.000 sinh viên Lào đào tạo ở Việt
Nam bắt đầu trở về nước, họ cũng đem theo vợ con người Việt sang Lào, mở
đầu cho các đợt di dân tiếp theo từ Việt Nam sang Lào định cư.
Đến năm 1993, các thế hệ Việt kiều tại Lào đã tạo thành một cộng đồng
khá đông đảo với gần 20.000 người sinh sống. Ông Trần Văn Chương - Chủ
tịch Hội Việt kiều Viêng Chăn tại Hội nghị Việt kiều Xuân Quý Dậu đã phát
biểu: “Gần 20 ngàn Việt kiều chúng tôi từ các miền quê... ra đi trong những
năm tháng tối tăm dưới ách thực dân thuở trước... trải qua những thời kỳ bị
kìm kẹp của bộ máy thống trị … trong suốt chặng đường kháng chiến lâu dài
đầy hy sinh gian khổ của hai dân tộc, cùng chiến đấu cùng giành thắng lợi.
Việt kiều chúng tôi đã không tiếc sức người, sức của và cả sự hy sinh xương
máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của mỗi nước. Việt kiều
chúng tôi tự hào về sự đóng góp tích cực của mình, được nhân dân Lào mến
yêu, chính quyền Lào ngợi khen. Từ sau giải phóng, toàn thể Việt kiều đùm bọc
lẫn nhau làm ăn sinh sống, một lòng một dạ hướng về Tổ quốc thân yêu, gắn
bó thuỷ chung với nhân dân Lào” [8; tr.24].
Theo ước tính, hiện nay có khoảng 50.000 người Việt đang làm ăn, sinh
sống tại Lào. Tuy nhiên, số lượng này thay đổi thường xuyên vì có những bộ
phận người Việt chỉ sang Lào làm ăn theo thời vụ rồi lại trở về Việt Nam, hoặc
chuyển tới cư trú ở nước khác Phần lớn người Việt tập trung sống ở Thủ đô
ở Lào thì được cấp chứng minh thư tạm thời của Cục Quản lý xuất nhập cảnh
và được Cục An ninh kiểm soát. Nếu trong 7 năm những người đó có biểu hiện
tốt thì giao cho Cục Quản lý dân số thuộc Văn phòng Quản lý người nước
ngoài, cho phép được nhập hộ khẩu và làm chứng minh thư ngoại kiều được
quyền cư trú ở Lào” [12].
Qua những luật định chung của nhà nước Lào, chúng ta nhận biết rõ
được lợi ích, khó khăn cũng như nghĩa vụ của người Việt đang sinh sống và
công tác tại Lào. Vấn đề này được xem xét dưới những góc độ sau:
Thứ nhất, công tác quản lý của chính phủ Lào về mặt nhân khẩu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN