BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC KX03/06-10
*********
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN VỀ CON NGƯỜI VÀ VĂN HÓA
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY
Mã Số: KX03.19/06-10
Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS VŨ HÀO QUANG
Cơ quan chủ trì
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 8839
HÀ NỘI-2011
i
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài…………………………………………………. 1
u nghiên cứu định lượng
26
9.2. Chọn mẫu nghiên cứu định tính
33
10. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 33
10.1. Phương pháp nghiên cứu
33
10.2. Kỹ thuật phân tích và xử lý số liệu 34
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
CON NGƯỜI VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC
NGOÀI
36
1. Cơ sở lý luận…………………………………………………………… 36
1.1.V
ăn hóa-khái niệm, định nghĩa, loại hình…………………………………
36
1.2. Khái niệm và định nghĩa con người…………………………………………
39
2. Các lý thuyết cơ sở vận dụng nghiên cứu con người và văn hóa cộng động
người Việt Nam ở nước ngoài………………………………………
41
ii
2.1. Lý thuyết “đẩy-kéo” trong nghiên cứu di chuyển dân cư………………
41
2.2. Lý thuyết “thị trường lao động” trong nghiên cứu chuyển cư………….
41
2.3. Lý thuyết giá trị và định hướng giá trị trong nghiên cứu NVNONN……
43
58
4.6. Xã hội……………………………………………………………………………
59
4.7. Gia đình…………………………………………………………………………
59
4.8. Lối sống của gia đình…………………………………………………………
60
4.9. Người Việt nam ở nước ngoài………………………………………………
61
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về
văn hóa và con người được vận dụng trong nghiên cứu NVNONN………
61
5.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người………………………….
61
5.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam v
ề văn hóa và con người…
64
5.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác đối với người Việt Nam
ở nước ngoài…………………………………………………………………………
65
CHƯƠNG II
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH
CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
VIỆT NAM Ở MỸ VÀ THÁI LAN
68
1. Những nhân tố lịch sử tác động đến sự hình thành và phát triển của cộng
đồng người Việ
t Nam ở nước ngoài………………………………………
68
1.1. Di cư và sự hình thành cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài……
99
2.5. Đặc trưng cơ bản văn hóa cộng đồng và tổ chức cộng đồng Việt tại Thái
Lan……………………………………………………………………
100
3.1. Cách thức tổ chức cộng đồng người Việt ở Thái Lan……………………
100
3.2. Đời sống văn hóa gia đình-cộng đồng………………………………………
102
3.3. Tính tự tôn dân tộc trong quá trình hội nhập………………………………
105
4. Mối quan h
ệ giữa các đặc trưng về con người và xã hội trong cộng đồng
NVNONN……………………………………………………………………
106
4.1. Quan hệ cộng đồng người Việt với cộng đồng người Mỹ tại địa phương
106
4.2. Quan hệ nội bộ cộng đồng Việt kiều Mỹ…………………………………….
107
4.3. Quan hệ giữa Việt kiều Thái Lan với dân sở tại…………………………….
110
4.4. Quan hệ nội bộ cộng đồng Việt kiều Thái……………………………………
111
CHƯƠNG IV
THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ
TINH THẦN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở THÁI LAN
HIỆN NAY
113
1.Thực trạng đời sống văn hoá tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ở
gia đình Việt kiều ở Thái Lan………………………………………………
113
1.12. Lý do quyết định nhập cư vào Thái Lan…………………………………….
142
2. Xu hướng biến đổi những đặc trưng cơ bản về văn hóa của cộng đồng
Việt kiều Thái Lan ……………………………………………………………
142
2.1. Biến đổi về định hướ
ng giá trị phong tục tập quán…………………………
142
2.2. Biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống của thế hệ thứ ba ở Thái Lan
143
2.3. Biến đổi nội dung giao tiếp do việc sử dụng ngôn ngữ Việt của thế hệ
thứa hai………………………………………………………………………………
144
2.4. Biến đổi nội dung giao tiếp do việc sử dụng ngôn ngữ của thế hệ thứ 3
trong giao tiếp gia đình……………………………………………………………
145
2.5. Biến đổi các nếp sống do nh
ững khó khăn của đời sống………………….
146
2.6. Sự khác biệt giữa các thế hệ Việt kiều ở Thái Lan …………………………
147
3. Đánh giá chung về thực trạng người Việt Nam đang định cư tại Thái Lan 149
CHƯƠNG V
THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TINH THẦN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở HOA KỲ
152
1. Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần c
ủa cộng đồng người Việt Nam ở
Hoa Kỳ ………………………………………………………………………
152
164
1.4. Vị thế cộng đồng người Việt Nam so với cộng đồng các dân tộc của các
nước láng giềng Đông Nam Á………………………………………………………
167
1.5. Vai trò của các kênh thông tin…………………………………………………
168
1.5.1. Các kênh thông tin đại chúng………………………………………………
168
1.5.2. Kênh thông tin từ các cuộc giao lưu văn
hoá…………………………………………………………………
172
1.6.
Đánh giá về mức độ hạnh phúc của gia đình………………………………
173
1.7. Đánh giá về địa vị kinh tế của gia đình mình so với các gia đình Việt
kiều khác ở Hoa Kỳ…………………………………………………………………
173
1.8. Lý do quan trọng nhất đối với việc quyết định nhập cư…………………
174
2. Xu hướng biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt
Nam ở Hoa Kỳ ……………………………………………………………….
175
2.1. Xu hướng biến
đổi giữa các thế hệ qua các phẩm chất và dạng hoạt
động cá nhân………………………………………………………………….
175
2.1.1. Những ưu điểm của thế hệ thứ nhất so với thế hệ được sinh ra và lớn
lên ở nước sở tại………………………………………………………………
175
2.1.2. Những nhược điểm của thế hệ thứ nhất so với thế hệ hai, thế hệ ba…
198
5.2. Đánh giá của Việt kiều về chính sách của Đảng Nhà nước đối với việc
phát huy thế mạnh người Việt Nam ở nước ngoài……………………………….
199
5.3. Mặc cảm về kỳ thị sắc tộc………………………………………………………
207
5.4. Đánh giá về sự phát triển và chính sách kinh tế ở Việt Nam
208
6. Đánh giá của bà con ruột thịt củ
a những Việt kiều về phát huy sức mạnh
đại đoàn kết dân tộc
214
6.1. Vai trò của dư luận xã hội của nhóm bà con của những Việt kiều đang
sống ở trong nước là nguồn thông tin quan trọng của chiến lược phát huy
tiềm năng NVNONN
214
6.2. Đánh giá về những phẩm chất nổi trội nhất của con người và cộng đồng
người Việ
t Nam ở nước ngoài hiện nay……………………………………………
215
6.3. Ứng xử của những người trong nước với những Việt kiều đã thành công
về mặt kinh tế …………………………………………………………………………
217
6.4. Đánh giá của bà con của những người Việt kiều về chính sách, thái độ
của Đảng, Nhà nước đối với Việt kiều…………………………………………….
218
6.5. Đánh giá về mức độ liên hệ giữa người Việt Nam ở nước ngoài với bà
con ruộ
t thịt, dòng họ trong nước………………………………………………….
218
3. Những giải pháp về phát huy trí tuệ tài năng người VNONN…………… 238
PHẦN KẾT LUẬN
242
1. Kết luận chung 242
2. Cộ
ng đồng Việt kiều Thái Lan 246
3. Cộng đồng Việt kiều tại Mỹ 250
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
255
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004 về
công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã khẳng định “quan điểm nhất
quán của Đảng và Nhà nước ta luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
là một bộ phận không tách rời, một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”.
Nghị quyết đã chỉ rõ những nội dung cơ bản đối với công tác Việt kiều như:
bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, lãnh sự cho đồng bào tại các nước sở tại đồng
thời có chính sách khuyến khích đồng bào trở về quê hương tham gia xây dựng Tổ
quốc. Cụ thể là quyền đi lại, mua nhà và bất động sản, mở các doanh nghiệp kinh
doanh, v.v… Các chính sách rộng mở củ
a Đảng và Nhà nước đã khuyến khích
được nhiều Việt kiều về nước tham gia vào các hoạt động kinh doanh, dịch vụ,
khoa học, giáo dục…Số lượng Việt kiều về nước thăm quê hương và tham gia vào
các hoạt động kinh tế xã hội ngày càng đông đã chứng tỏ sự đúng đắn và sáng suốt
về đường lối chiến lược phát triển đất nước của Đảng ta. Hơn nữa, việ
với người nghiên cứu. Hơn nữa, quá trình đồng hóa văn hóa của văn hóa bản địa
đối với văn hóa của nhóm nh
ập cư diễn ra cũng rất phức tạp. Các nhóm xã hội nhập
cư có khả năng thích ứng và hội nhập khác nhau vào nền văn hóa bản địa. Khả
năng đó vừa phụ thuộc vào văn hóa nhóm nhập cư vừa phụ thuộc vào chính bản
thân các cá nhân người nhập cư thông qua các nhu cầu, động cơ và mục đích sống
của anh ta. Do vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu toàn diện và hệ thố
ng từ hệ thống
giá trị đến thái độ, hành vi và những quan hệ cá nhân-gia đình, cộng đồng-xã hội
trong sinh hoạt thường ngày tại các gia đình cũng như trong các sinh hoạt cộng
đồng như hội họp, lễ hội hoặc nghi lễ thờ cúng,v.v Thông qua những quan hệ cá
nhân, cộng đồng xã hội, chúng ta có thể phát hiện những giá trị, phong tục, tập
quán, truyền thống văn hóa nào có tác động và tác động với mức nào đến hành vi
và quan hệ xã hội, mạng lưới xã hội hay các liên kết cộng đồng của Việt kiều hiện
nay. Từ đó chúng ta thấy được khả năng hội nhập và thích ứng của các nhóm là
khác nhau và cũng đồng nghĩa với việc thành công trong hoạt động kinh tế, chính
trị, xã hội của họ tại các nước sở tại. Trên cơ sở đó chúng ta có thể phân lớp xã hội
theo mức độ thành công nghề nghiệ
p hoặc kinh tế.
Sau khi đã định dạng được các nhóm xã hội đó, chúng ta có thể khai thác
được thế mạnh của một số nhóm vượt trội đồng thời có thể trợ giúp xã hội cho một
số nhóm yếu thế góp phần nâng cao chất lượng sống của kiều bào để chính họ thấy
được rằng họ là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễ
n
2.1. Ý nghĩa lý luận
Sự thành công của công trình này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chính
trị, đó là sự thành công về mặt chiến lược cũng như đạo đức cách mạng của dân tộc
ta đã được lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: “Đất
nước ta là một, dân tộc ta là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó
tộc và chính sách “chiêu hiền đãi sỹ” của Đảng, Nhà nước ta.
Đề tài sẽ góp phần đào tạo 2 nghiên cứu sinh, 5 thạc sĩ xã hội học, Quan hệ
quốc tế và Việt Nam học
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
3.1.1. Những công trình nghiên cứu về sự di cư
Công trình nghiên cứu của ThS. Tống Văn Chung, Khoa xã hội học, Trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn có tiêu đề “Vận dụng lý thuyết di động xã
hội trong nghiên cứu chuyển cư” in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học lần thứ 2:
“… ”, đã phân tích cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về vấn đề chuyển cư trong thời
kỳ toàn cầu hóa hiện nay và vấn đề chuyển cư
ở Việt Nam. Dưới đây chúng tôi xin
trích một số nội dung của công trình vừa nói trên.
Trong quá trình nghiên cứu về di chuyển dân cư, một điều cần nhận thấy
rằng yếu tố nơi sinh, nơi cư trú cũng là những thành tố cấu thành địa vị xã hội của
mỗi cá nhân, nhóm xã hội di cư xét trong tương quan với các thành viên khác có
nguồn gốc bản địa (chính cư)
1
. Bởi vì, theo quan niệm truyền thống, sự thay đổi
nơi cư trú, khác với nơi cá nhân, hay nhóm xã hội đó được sinh ra luôn bị xã hội
1
Nguyễn Từ Chi, Góp phần tìm hiểu văn hoá và văn hoá tộc người. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997.
4
quy gán cho một cái tên “dân ngụ cư”, và như vậy địa vị xã hội của anh ta luôn
được đánh giá là không ngang bằng với những người “chính cư” (dân gốc).
Lý do là, địa vị (status) xã hội của mỗi chủ thể hành động được xác định như
là “sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội” [Linton, R. Phạm Tất Dong,
cá nhân nắm bắt cơ hội đó như M. Weber luôn nhấn mạnh.
Trong quá trình sống hoạt động, các cá nhân hay một nhóm xã hội đều có
địa vị xã hội xác định về bản quán nơi được sinh ra. Nhưng nhưng khi di chuyển
sang một địa phương khác, yếu tố này xác định cho cá nhân hay nhóm đó một địa
vị xã hội. Sự thay
đổi này được xác định như là một sự di động xã hội. Như vây,
các nhà xã hội học coi “sự di động xã hội là sự vận động của cá nhân, đôi khi là
nhóm xã hội, giữa những vị trí trong hệ thống tầng lớp xã hội trong nội bộ xã hội”
[David Jary and Julia Jary, p. 454]
6
.
2
Linton, R. The Study of Man. New York: Appleton-Century, 1936.
3
David Jary and Julia Jary. Happer Collins Dictionary.of Sociology. New York, 1991.
4
Smelser N. The Sociology. New Jersey, 1988.
5
J. H Fichter. Nhập môn xã hội học. Bản dịch của Trần Xuân Đĩnh. Nxb Hiện đại thư xã, Sài gòn, 1973.
6
David Jary and Julia Jary. Happer Collins Dictionary.of Sociology. New York, 1991.
5
Vấn đề đặt ra ở đây là khái niệm tầng lớp xã hội, nó chỉ một nhóm xã hội
đặc thù trong đó các thành viên của nó có địa vị xã hội ngang bằng nhau hay tương
đối giống nhau theo một tiêu chí nhất định. Các nhóm xã hội này không bao quát
các dấu hiệu của giai cấp xã hội, nhưng luôn nằm trong mối liên hệ với cấu trúc
giai cấp xã hội” [Từ điển Rút gọn, tr. 306-307]
7
đó cho thấy
họ thay đổi địa vị xã hội của họ trong thang bậc của hệ thống xã hội. Chẳng hạn
như người nông dân di chuyển vào trong thành phố và tìm thấy việc làm trong lĩnh
vực dịch vụ xã hội (bốc vác (cửu vạn), xây dựng, bán hàng, v.v.). Kết quả công bố
của các công trình nghiên cứu cũng cho thấy điểm mạnh của sự vận dụng cách nhìn
7
Từ điển xã hội học rút gọn. Nxb Tư tưởng. Matxcơva, 1988, tr. 306-307. Tiếng Nga.
8
Harold R. Kerbo. Social Stratification and Inequality. Class Conflict in Historical and Comparative
Perspective. Mc Graw-Hill Com. Inc. New Yor, 1991.
6
nhận này. Chẳng hạn, trong các công trình của Nakao và Treas (1994)
9
, H. Kerbo
(1996) cho thấy đánh giá các địa vị xã hội nghề nghiệp-việc làm ở Mỹ được cho
điểm khác nhau về uy tín nghề nghiệp. Vận dụng vào nghiên cứu chuyển cư ở Việt
Nam, việc đo thang bậc giá trị (uy tín) của việc làm cũng sẽ cho thấy sự thay đổi
địa vị xã hội của người di chuyển trong lĩnh vực lao động việc làm. Với quan niệm
truyền thống ở
xã hội Việt Nam như “nhất sĩ nhì nông…”, hay quan niệm hiện nay
như “giàu nhà quê không bằng ngồi lê đô thị” sẽ kéo theo quan niệm khác nhau về
địa vị xã hội lao động việc làm của các thành viên trong xã hội không chỉ trong cấu
trúc nghề nghiệp, việc làm mà trong cấu trúc xã hội khác.
Theo lý thuyết xã hội học về di động xã hội, thì khái niệm di động xã hội
(social mobility) có thể được xem xét từ những lợi thế khác biệt có được của các
thành viên, và nó di
ễn ra theo bối cảnh khác nhau, dưới những dạng khác nhau. Di
động ngang chỉ sự thay đổi địa vị của cá nhân hay nhóm xã hội trong cùng một
Sorokin Pitirim. Social and cultural mobility. New York, 1959: Free Press.
7
(thăng tiến xã hội) hay ngược lại, từ tầng lớp có địa vị xã hội cao sang tầng lớp xã
hội có địa vị xã hội thấp (suy giảm xã hội). Hay nói cách khác, di động dọc là sự
chuyển dịch từ một vị trí xã hội này sang vị trí xã hội khác thuộc thứ hạng (rank)
cao hơn hay thấp hơn [H. Kerbo, P. 328].
Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu chuyển cư cho thấy sự thay đổi địa
vị xã hội về mặt cư trú và nghề nghiệp, việc làm của họ hàm chứa các kiểu di động
ngang và cả di động dọc của họ. Điều đó được đo bằng kiểu loại (type) công việc
mà họ làm và nghề nghiệp, việc làm đó được xã hội xếp vào những hạng việc được
đánh giá cao hay thấp, nhàn hạ hay vất vả; phụ thuộc vào sự đánh giá phán xét của
xã hội về nguồn gốc xuất thân của họ, đáng kính trọng hay không kính trọng. Ngoài
ra sự di động này còn được đo không chỉ bằng chính khả năng tạo ra những thu
nhập, mà cả mức độ thu nhập của họ do nghề nghiệp, việc làm đem lại. Hoặc khi di
chuyển như vậy, một bộ phận người dân chuyển cư không đăng ký được hộ khẩu
tại nơi h
ọ đến cư trú, hiển nhiên, họ vô hình dung mất đi những cơ hội về vay vốn,
hay thực hiện những quan hệ liên quan đến pháp luật, cơ hội cho con học hành để
có được cơ hội thực sự tạo ra sự thăng tiến cho con cái họ, v.v. và v.v… Vấn đề cốt
lõi cần xem xét ở chỗ những nhân tố nào, điều kiện nào tác động để tạo ra sự di
động này.
Công trình Di dân c
ủa người Việt-từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX do GS.TS.
Đặng Thu chủ biên, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia xuất bản tại
Hà Nội năm 1994. Công trình này gồm 6 chương.
Trong Chương 1 Khái quát nguồn gốc của người Việt, quá trình di dân và
hình thành không gian lãnh thổ Việt Nam trước thế kỷ X, các tác giả đã trình bày
những đặc trưng kinh tế xã hội dẫn tới việc di chuyển dân cư và hình thành lãnh thổ
của người Việt từ thời kỳ Văn Lang-Âu Lạc đến thời kỳ Bắc thuộc.
ý nghĩa đối với việc nghiên cứu các đề tài liên quan đến di dân và văn hóa người
Việt….
11
11
Ngoài ra còn có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã được thự hiện
ở trong nước mà đề tài chúng tôi có những quan tâm về mặt khoa học như:
Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có những bài phát biểu tại các Hội nghị Việt Kiều như Đoàn kết, hoà
hợp dân tộc - động lực phát triển đất nước (phát biểu năm 1993); Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Phạm Gia Khiêm đã có nhiều bài viết, bài phát biểu về vấn đề cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,
như: Đảng và Nhà nước tiếp tục chăm lo quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài. (Thông tin
đối ngoại, tháng 5/2007); Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa cũng đã có những bài viết như: Phát huy tiềm
n
ăng, thế mạnh của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước. (Tạp chí Quê
hương); Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời, một nguồn lực trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài
Nguyễn Phú Bình đ
ã có hàng loạt bài viết, bài phát biểu tại các hội nghị, hội thảo, như: Huy động nguồn
lực của kiều bào cho sự nghiệp phát triển đất nước (phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 25 tổ chức tại
Hà Nội từ 23/11-3/12/2006); phát biểu tại Hội nghị “Doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài với sự nghiệp xây
dựng, phát triển và hội nhập kinh tế quốc t
ế của Việt Nam” ngày 21/9/2006; Sáu mươi năm ngoại giao Việt
Nam và công tác về người Việt Nam ở nước ngoài. (Bài viết của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Uỷ
ban về người Việt Nam ở nước ngoài nhân dịp 60 năm thành lập ngành ngoại giao); Tiếp tục đà chuyển biến
tích cực trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. (phát biểu tại Hội nghị sơ
kết 3 năm thực hiện
Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ về công tác đối với người Việt
Nam ở nước ngoài tổ chức tại Hà Nội ngày 10/4/2007); Bộ Nội vụ, Tổng cục V. Cộng đồng người Việt Nam
nghiệp chuyên môn, đồng thời chỉ ra vai trò của các cộng đồng trong việc tham gia
vào các đề án xây dựng, phát triển cộng đồng. Trong quá trình xây dựng, phát triển
cộng đồng thì nă
ng lực tự quản cộng đồng làng xã chính là loại năng lực vốn có và
được biến đổi theo điều kiện thời gian cũng như các điều kiện văn hóa, kinh tế,
chính trị xã hội. Công trình này là căn cứ lý thuyết quan trọng để vận dụng giải
thích những đặc trưng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, việc hình
thành và phát triển cộng đồng này trong tương lai.
3.1.3.Nh
ững nghiên cứu các dân tộc ở Việt Nam (dẫn liệu nhân học-tộc
người)
Các dân tộc ở Việt Nam (dẫn liệu nhân học-tộc người) của tác giả Nguyễn
Đình Khoa gồm 5 chương, được trình bày trong 177 trang chính văn chưa kể phần
tài liệu tham khảo đã sơ lược miêu tả về điều kiện tự nhiên và con người, cũng như
các dân tộc của Việt Nam. Tác giả
đã chỉ ra thành phần nhân chủng các tộc người ở
Việt Nam như:
+ Đặc điểm nhân chủng các tộc người ngôn ngữ Môn-Khơme
+ Đặc điểm nhân chủng các tộc người ngôn ngữ Mã Lai-Pôlinêdi (Nam
Đảo)
+ Đặc điểm nhân chủng các tộc người ngôn ngữ Mèo (Hmông)-Dao
+ Đặc điểm nhân chủng các tộc người ngôn ngữ Hán-Tạng
Tác giả cũng đã chỉ ra những nhân tố sinh học liên quan đế
n nghiên cứu
nhân chủng như nghiên cứu về hình thái đường vân bàn tay của tộc người Việt
Nam, nghiên cứu về quá trình hình thành các nhóm, loại hình nhân chủng ở Việt
Nam, vấn đề nguồn gốc các tộc ngôn ngữ Việt-Mường. Bằng quan điểm duy vật
10
biện chứng và lịch sử, tác giả đã cho rằng những điều kiện sinh học của cá nhân
quan trong nước và được sự hỗ trợ của Chương trình Phát triển c
ủa Liên Hiệp Quốc
(UNDP). Công trình này đã cho thấy những thành tựu của công cuộc đổi mới có tác
động mạnh mẽ và trực tiếp đến những chỉ số phát triển con người. Bằng những
phương pháp nghiên cứu chính xác về mặt định lượng, công trình đã chứng minh
sự biến đổi về mặt chất lượng con người cũng như quan hệ con người trong môi
trường văn hóa xã hội cụ thể
của các cấp từ quốc gia đến tỉnh, thành phố, vùng,
miền của nước ta. Thông qua các chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số nghèo
đói tổng hợp (HPI), chỉ số phát triển giới (GDI), công trình đã chỉ ra những phát
triển con người và những chính sách về phát trỉển con người đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.
11
Tìm về bản sắc Văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, NXB. Thành phố Hồ
Chí Minh, 2001.
Với cái nhìn hệ thống-loại hình, Trần Ngọc Thêm đã tìm hiểu bản sắc văn
hoá Việt Nam trên cơ sở văn hoá Nam Á và Đông Nam Á trong sự giao lưu với văn
hoá Trung Hoa và Văn hoá phương Tây. Tác giả cho rằng, bản sắc văn hoá Việt
Nam được quy định bởi ba đặc điểm cơ bản là xứ nóng, nắng; m
ưa nhiều và sông
nước; và ở ngã ba đường của các nền văn minh. Về đời sống vật chất, nông nghiệp
trồng lúa nước là nghề chủ đạo. Hệ quả của của nghề trồng lúa nước là phải liên kết
chặt chẽ với nhau, hình thành nên tính cộng đồng, tự trị, dân chủ, Ở phạm vi phổ
quát, tính cộng đồng và tự trị trở thành tinh thần đoàn kết toàn dân, ý thức độ
c lập
dân tộc và hệ quả là lòng yêu nước nồng nàn. Mặt trái của nó là tính gia trưởng, bè
phái địa phương, ích kỷ, dựa dẫm, đố kỵ, cào bằng. Nghề trồng lúa nước cũng tạo
ra đặc điểm quan trọng của nền văn hoá là chú trọng các mối quan hệ. Sản phẩm
nổi bật của đặc điểm chú trọng các quan hệ là triết lý âm dương. Biểu hiện cụ thể
trong điều kiện mới, đó là: bệnh tuỳ tiện, bệnh làm ăn kiểu sản xuất nhỏ, bệnh gia
đình chủ nghĩa, bệnh đố kỵ, cào bằng, của quyền, tật xuề xoà, đại khái, thói ỷ lại và
quan niệm phép vua thua lệ làng.
3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
3.2.1. Những nghiên cứu v
ề vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu con
người và xã hội
Một số vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu con người và xã hội, bài
giảng của Giáo sư Joachim Mauhes, trường Đại học Erlangen-Numberg Cộng hòa
Liên bang Đức, xuất bản tại Hà Nội năm 1994 trong khuôn khổ Công trình khoa
học công nghệ cấp nhà nước KX.07 do GS.TS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm.
Tác giả công trình này đã chỉ ra một số phương pháp tiếp cận liên ngành c
ơ bản để
nghiên cứu con người và xã hội. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh những lý
thuyết xã hội học cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX, cũng như những phương pháp
nghiên cứu xã hội học đã có đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu con người và xã
hội. Những lý thuyết ở cấp vi mô như: Thuyết tương tác biểu trưng, Thuyết trao đổi
và sự lựa ch
ọn hợp lý; Thuyết ở cấp vĩ mô như: Thuyết hệ thống, Thuyết chức
năng; Lý thuyết cấp độ trung bình như: Lý thuyết về nhóm và Thuyết lịch sử đã
giúp cho các nhà nghiên cứu phát hiện những quan hệ xã hội rất phức tạp về mặt lý
luận ở các cấp độ tương tác cá nhân-nhóm hay các quá trình lịch sử. Tác giả công
trình này cũng chỉ ra rằng, muốn nghiên cứu con người ở các c
ấp độ nhóm-cá nhân
hay xã hội cần phải sử dụng các phương pháp định tính hay định lượng để phát hiện
những đặc trưng xã hội cơ bản của họ như: quan hệ giới tính, quan hệ nghề nghiệp,
quan hệ tôn giáo, quan hệ đạo đức, hệ thống giá trị, tư tưởng… Về mặt phương
pháp luận, tác giả cũng đặc biệt lưu ý vai trò của nhân tố lịch sử
và văn hóa trong
việc nghiên cứu quan hệ con người, xã hội.
vợ và người chồng trong điều kiện sống ở nước ngoài cũng có những thay đổi, tuy
nhiên, việc phân công lao động vẫn còn bị ảnh h
ưởng khá nặng bởi tư duy truyền
thống. Cụ thể là: người phụ nữ, ngoài việc kiếm tiền trên thị trường, vẫn phải đảm
nhận những công việc nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc con cái, trong khi
người đàn ông ít chú ý đến những công việc đó. Tác giả của đề tài khẳng định, mặc
dù điều kiện sống và môi trường văn hóa thay đổi nhưng nhữ
ng giá trị truyền thống
và những phong tục tập quán đã có được trước khi di cư ra nước ngoài vẫn có ảnh
hưởng mạnh đến hành vi ứng xử cũng như nếp sống của người Việt Nam ở nước
ngoài. Trong điều kiện mới, đã xuất hiện nhiều thói quen và mô hình hành vi mới
của người Việt Nam ở nước ngoài như: việc sử dụng thời gian nhàn rỗi vào xem
phim hay đ
i chơi, tham quan, du lịch,… đã là loại hành vi thường xuyên đối với các
gia đình người Việt Nam ở nước ngoài. Mặt khác, phong cách và lối tư duy nghề
nghiệp hay cách thức làm ăn vẫn ít thay đổi. Cụ thể, tâm lý sản xuất nhỏ vẫn là tâm
lý phổ biến trong cộng đồng người Việt Nam ở Nga và Ba Lan. Những người đã di
cư khoảng 10 năm trở lên có khả năng thích ứng với nền văn hóa của n
ước sở tại,
có nhiều mối quan hệ xã hội với người dân bản địa, mạng lưới xã hội của họ rộng
lớn hơn so với những người mới di cư, chính vì thế những người có điều kiện về
kinh tế đã mở rộng cơ sở buôn bán kinh doanh và họ đã gặt hái nhiều thành công về
kinh tế. Đối với tầng lớp này, lối số
ng thay đổi nhiều so với tầng lớp có thu nhập
trung bình. Cụ thể, họ thường chọn nơi ở với điều kiện môi trường sinh thái và môi
trường sống tốt nhất. Những yếu tố cần thiết tối thiểu cho cuộc sống của họ là đảm
bảo an ninh, đảm bảo tính mạng tài sản cho gia đình cũng như cá nhân. Những gia
14
đình này thường ở những ngôi nhà biệt thự rộng, xe hơi sang trọng và phong cách
Trong cuốn sách có nhan đề “Ethnicities-Children of Immigrants in
America” (Các sắc tộc trẻ em nhập cư tại Hoa Kỳ), GS. Min Zhou đã dành chương
7 để viết về trẻ
em nhập cư Việt Nam. Mở đầu chương, GS nhận định người Việt
Nam là nhóm người nhập cư lớn nhất đến định cư tại Mỹ từ giữa những năm 70 của
thế kỷ XX. Có lẽ đây cũng chính là lý do khiến cộng đồng người Việt Nam luôn
được GS dành sự quan tâm đặc biệt trong các nghiên cứu của mình. Trong toàn bộ
chương này, GS đã trình bày kết quả nghiên cứu của mình về
các lý do khiến người
Việt Nam tới định cư tại Mỹ, cuộc sống định cư của họ như thế nào và nó có ảnh
hưởng gì tới thế hệ trẻ-những người gốc Việt sinh ra và hoặc lớn lên tại Mỹ. Qua
những phân tích của mình, GS đã đi đến một kết luận rất đáng chú ý rằng, quá trình
15
thích nghi của trẻ em Việt Nam định cư tại Mỹ cũng là một quá trình phấn đấu gian
nan như của cha mẹ chúng, nhưng khác với thế hệ đi trước, thế hệ trẻ không sử
dụng các chuẩn mực của quê cha đất tổ để áp đặt trong quá trình thích nghi của
chúng. Ngược lại, những người trẻ tuổi này có xu hướng tiếp thu, biến đổi và phát
triển các kinh nghiệm xung quanh để thúc đẩy quá trình tiếp bi
ến văn hoá, thích
nghi và hợp tác trong xã hội Mỹ. Một nghiên cứu khác của GS. Min Zhou cũng đề
cập tới cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ là bài viết viết chung với Carl L.
Bankston III, Đại học Tổng hợp Tulane “De facto congregationalism and
socioeconomic mobility in Laotian and Vietnamese immigrant communities: A
study of religious institutions and economic change” đăng trên tạp chí Nghiên cứu
Tôn giáo số 41 năm 2000. Bài viết đã chỉ ra một số điểm tương đồng trong các thiết
chế tôn giáo của người Lào và người Việt Nam
định cư tại Mỹ. Cả hai loại thiết chế
tôn giáo này đều hình thành với những tác động kinh tế xã hội nhất định, đặc biệt là
khi cộng đồng dân cư tại nơi nhập cư đã bước đầu ổn định cuộc sống. Các trụ sở
giáo viên, doanh nhân, những người làm việc cho các công ty và tổ chức của Mỹ và
những thành viên của các nhóm tinh hoa của các giai cấp khác. Trong khi đó, nhóm
người đến trong lần di cư thứ hai đầu những năm 1980 thì kém kỹ năng và ít được
đào tạo hơn. Những người này phải đối mặt với những cú sốc văn hoá ở miền đất
mới. H
ọ phải điều chỉnh đáng kể để thích nghi. Lực lượng tham gia lao động gia
tăng trong những năm 1980-1990, số người ở thế hệ thứ hai người Việt Nam theo
học các trường đại học, cao đẳng tăng cao. Tuy nhiên, so với những cộng đồng
châu Á di cư khác thì những người tị nạn Đông Nam Á bị bỏ lại phía sau khi xét
đến các tiêu chí như thu nhập, tỷ lệ nghèo đói, sự phụ thu
ộc vào trợ giúp công
cộng, sở hữu nhà cửa. Những khó khăn như trên cộng với chính sách phân tán
người tị nạn của Chính phủ đã làm cho họ thêm khó khăn vì không dựa được vào
nhau. Tuy nhiên, một thời gian ngắn sau đó họ đã tập hợp lại với nhau để tạo ra, tái
xây dựng những hệ thống đan kết trên cơ sở quan hệ họ hàng, bạn bè, hay cùng tộc
người. Các hệ thống
đó ngày càng bền vững và có xu hướng trở thành các cộng
đồng tự tồn tại bền vững như các cộng đồng di cư khác. Cơ sở nào giúp họ làm nên
được điều đó? Tác giả tin rằng, trong khi tôn giáo như là thiết chế văn hoá cơ bản
cho việc tái sản xuất và làm sáng tỏ các hình thức mới của quan hệ xã hội, nó còn
có khả năng giúp nhóm bị chuyển chỗ giải quyết những căng thẳ
ng nảy sinh. Nhờ
đến các di sản tôn giáo họ có thể tái cấu trúc hoặc tạo ra trật tự đạo đức mới và họ
có thể tái định hướng các thành tố biểu trưng cũ trong môi trường mới. Các trường
hợp dưới đây minh hoạ những cách mà mỗi cộng đồng thiểu số tái cấu trúc lại đời
sống văn hoá xã hội của họ bằng cách thiết lập thiết chế tôn giáo. Thiế
t chế tôn giáo
như là trung tâm văn hoá. Nó còn giúp cho sự điều chỉnh mang tính xã hội và văn
hoá đối với những người tị nạn và con cháu họ. Thông qua nghiên cứu cộng đồng
Công giáo ở Làng Versilles, New Orleans và cộng đồng Phật giáo của Iberia Parish
mang tính ngoài lề được bảo vệ khỏi những tác động tiêu cực của nó bằng cách gắn
kết với hệ thống các quan hệ xã hội tộc người, hệ thống này kiểm soát và định
hướng họ. Ví dụ, những người di cư đòi hỏi con cái họ phải tôn trọng các giá trị
văn hoá mà họ mang đến từ Việt Nam như tôn trọng người già, vâng lời, làm việc
chăm chỉ
, tin tưởng các giá trị đó có lợi ích trong việc đạt được sự thăng tiến trong
cộng đồng. Kết quả là giới trẻ có liên kết chặt chẽ với cộng đồng thông qua các gia
đình và các nhóm đồng đẳng được định hướng vào những con đường để đạt đến
đỉnh cao thông qua thành công trong trường học.
Các tác giả cũng phát hiện rằng, có bộ phận những người Việt Nam trẻ tuổi
bị từ
chối bởi những người Việt Nam khác như là những người ngoài, hoặc những
người trẻ tuổi rủi ro. Một số trong số họ mất phương hướng và bỏ học giữa chừng,
một số khác thì thành những nhóm không tôn trọng pháp luật. Những người này
thường có đặc điểm gia đình là thiếu vắng bố mẹ, quan hệ giữa các thành viên trong
gia đình lỏng lẻo, quan hệ với các gia
đình Việt Nam khác yếu hoặc thiếu mối quan
hệ đối với cộng đồng người Việt Nam. So sánh số liệu khảo sát năm 2003 với số
liệu khảo sát năm 1994 thấy rằng, nhìn chung tỷ lệ phạm pháp (sử dụng ma tuý, say
rượu, và gặp rắc rối với cảnh sát) đã tăng lên. Năm 1994, tỷ lệ chưa từng phạm
pháp là 90%, năm 2003, tỷ lệ này là 38%. Năm 1994, có 91% những ngườ
i phạm
pháp được sinh ra trên đất Mỹ, đến năm 2003 con số tương ứng là 99%. Ở cả hai
thời điểm thì học vấn của cha mẹ dường như liên hệ chặt chẽ với việc phạm tội của
con cái. Học vấn của cha mẹ cao thì con cái ít phạm tội hơn. Tuy nhiên, nếu năm
1994, không có trẻ em phạm tội thuộc gia đình bố và mẹ có trình độ đại học, thì