Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay xu thế toàn cầu hóa đã và đang dần dần thống lĩnh trên toàn thế
giới. Có thể nói không một quốc gia nào là không nằm trong quỹ đạo toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa diễn ra hầu hết trên mọi mặt của đời sống xã hội. Cùng với dòng chảy
toàn cầu hóa là các dòng chảy di dân trên toàn thế giới. Bằng việc Hòa Kỳ tháo bỏ
cấm vận đối với Việt Nam năm 1994, và sự gia nhập của Việt Nam vào các tổ chức
quốc tế như ASEAN năm 1995, WTO năm 2007 v.v … hay các diễn đàn lớn như
APEC 1998, ASEM 1994 v.v … và đặc biệt là với đường lối đổi mới của Đảng
Cộng sản Việt Nam, với chính sách đối ngoại rộng mở của Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan
hệ quôc tế. “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới” trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và trên cơ sở các bên
cùng có lợi. Với chính sách đó Nhà nước Việt Nam đã và đang hướng tới xây dựng
một nền ngoại giao nhân dân đượm tình hữu nghị với tất cả các dân tộc trên toàn
thế giới.
Để thực hiện những chủ trương, chính sách đó của Đảng và Nhà nước, Nhà
nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề
người Việt Nam ở nước ngoài. Nhưng do tình hình thế giới không ngừng vận động
và thay đổi, các quan hệ kinh tế quốc tế cũng như các giao lưu dân sự giữa công
dân Việt Nam với nước ngoài cũng không ngừng vận động và thay đổi theo. Hơn
nữa các giao lưu dân sự có yếu tố nước ngoài thường có tính phức tạp dẫn đến các
văn bản đó chưa kịp thời điều chỉnh được những quan hệ này. Vì vậy đã hạn chế rất
nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước cũng như cản trở rất nhiều cho chính
sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy vậy cho đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, vẫn có khoảng 2,7 triệu
người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80%
Việt - Lào lên tầm cao mới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu có tính chủ đạo của
Khóa luận là tổng hợp, phân tích, so sánh dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như sử dụng các số liệu về người
Việt Nam ở nước ngoài v.v …
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của Khóa luận
Với Khóa luận này, tác giả sẽ làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của quy chế pháp lý của người Việt Nam ở nước ngoài. Hiểu hơn nữa về quy chế
pháp lý của người Việt Nam tại Lào, thấy được thực trạng của các quy chế đó và
giúp chúng ta có một cái nhìn đúng đắn, tổng thể về các quy chế và số người Việt
Nam đang sinh sống, làm việc và học tập ở nước ngoài.
Khóa luận còn nêu lên một số vấn đề đặt ra, chỉ ra mối liên hệ và tác động
qua lại của các quy chế pháp lý đó đối với thực trạng người Việt Nam đang sinh
sống học tập ở nước ngoài, từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất là những việc cần
phải làm trong thời gian tới.
5. Kết cấu của Khóa luận
Khóa luận bao gồm: Lời nói đầu, Nội dung và Kết luận
Phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương I: Khái quát về quy chế pháp lý của người Việt Nam ở nước ngoài
Chương II: Địa vị pháp lý của người Việt Nam ở nước ngoài (tại Lào)
Chương III: Thực trạng người Việt Nam ở nước ngoài tại Lào và giải pháp
nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý cho người Việt Nam ở nước ngoài.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Ở NƯỚC NGOÀI
1. Thực trạng người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1.1. Khái niệm
Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Nghị định số 51/1999/NĐ – CP của Chính phủ ngày 08/07/1999 quy định chi
tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH 10 tại
Điều 3 cũng đưa ra định nghĩa “người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người gốc
Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Có thể thấy cả hai Nghị định trên đều hướng dẫn thi hành Luật Khuyến khích
đầu tư trong nước (sửa đổi) thì đều đưa ra khái niệm “người Việt Nam định cư ở
nước ngoài” song lại gọi tắt khái niệm này là “ người Việt Nam ở nước ngoài”. Đây
là sự đồng nhất hai khái niệm khác nhau.
Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 20/05/1998 có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/1999 thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 28/06/1988, tại Đièu 2 Khoản 4
định nghĩa “ người Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là công dân Việt Nam
và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn,sinh sống lâu dài ở nước ngoài”, để phân biệt
với khái niệm “người Việt Nam ở nước ngoài” được ghi nhận tại Khoản 3 Điều 2 là
công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước
ngoài. Mặc dù hai khái niệm này cùng chỉ một đối tượng là công dân Việt Nam và
người gốc Việt Nam ở nước ngoài nhưng khác nhau ở chỗ: thời gian mà người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sinh sống, cư trú ở nước ngoài nhìn chung thường dài
hơn khoảng thời gian mà người Việt Nam ở nước ngoài sống ở quốc gia sở tại.
Người Việt Nam ở nước ngoài là những người không định cư ở nước sở tại mà chỉ
sang nước đó để học tập hoặc đi công tác…
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy nhiên, theo thông tư liên tịch của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tư pháp
– Bộ Ngoại giao - Bộ Công an số 10/2000/TTLT/BKH – BTP – BNG – BCA ngày
15/08/2000 hướng dẫn việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, theo Nghị định
số 51/1999/NĐCP ngày 08/07/1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số 03/1998/QH 10 thì khái niệm “người
Việt Nam định cư ở nước ngoài” còn dùng để chỉ “người có quan hệ huyết thống
Việt Nam” bao gồm: người có cha đẻ, mẹ đẻ, hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà
“người gốc Việt Nam” được hiểu là: “người hiện nay hoặc trước đây đã từng có
quốc tịch Việt Nam, nguời có cha đẻ, mẹ đẻ, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại
hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam”. Cũng cách giải thích như
vậy nhưng Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT – BKH – BTP – BNG -BCA ngày
15/08/2000 lại sử dụng cho thuật ngữ “người có quan hệ huyết thống Việt Nam.
Dù được giải thích như thế nào, dù họ không còn mang quốc tịch Việt Nam
thì “người gốc Việt Nam” vẫn là một bộ phận của cộng đồng người Việt. Vì vậy,
Luật Quốc tịch Việt Nam đã ghi nhận chính sách đối với người gốc Việt Nam tại
Điều 6 (xem Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 01/01/1999).
Với sự phân tích trên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ
phận dân cư không nhỏ. Chúng ta cần phải đánh giá đúng vai trò của họ. Thứ
trưởng Bộ Khoa Học Công nghệ Trương Văn Đoan khẳng định: “Cộng đồng Việt
kiều là một động lực lớn phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước. Với họ,dân tộc là
trên hết. Do vậy chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến bộ phận dân cư Việt Nam này”
1.2. Về đặc điểm của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Cũng theo đánh giá của Uỷ ban về người Việt Nam ở nưứoc ngoài
(UBNVNONN). Trong những năm gần đây , xu hướng phát triển của cộng đồng
người Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng ổn định, hội nhập vào xã hội và
đất nước sở tại, tiếp thu các giá trị văn hoá nước sở tại đồng thời vẫn giữ gìn và
phát huy bản sắc dân tộc, từng bước có vị trí nhất định trong việc làm cầu nối cho
quan hệ giữa nước ta với các nước này. Hiện nay, đời sống của phần lớn của Kiều
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bào ta ở mức trung bình so với người dân sơ tại. Số người giàu có theo tiêu chuẩn
của các nước này càng tăng. Các doanh nghiệp của Kiều bào ta ngày càng lớn
mạnh. Sau hơn 1/4 thế kỷ hội nhập, vừa tích luỹ vừa mở rộng quan hệ làm ăn, bà
con đã bước đầu xây dựng được cơ sở cho cuộc sống ổn định lâu dài ở hầu hết các
nước và lãnh thổ.
Mặc dù tiềm lực kinh tế chưa lớn, nhưng cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài có tiềm năng trí thức đáng kể và rất đa dạng. Hàng trăm nghìn người được
bào.
Tại các nước phương Tây, cuộc sống của Kiều bào tương đối ổn định, mặc
dù mức độ hội nhập về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hoá – giáo dục… đều thấp
hơn so với các cộng đồng người Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ,Hàn Quốc. Một số người
Việt ở Mỹ, Ốt-xtrây-lia….đã được bổ nhiệm vào những chức vụ có ảnh hưởng nhất
định trong chính quyền như trợ lý bộ trưởng, thành viên trong nhóm cố vấn của
tổng thống, nghị sĩ bang, uỷ viên Hội đồng thành phố. Những người có thái độ
“trung gian” chiếm phần lớn trong cộng đồng, dù lúc này lúc khác bị các thế lực
cực đoan đe doạ, lôi kéo nhưng nhìn chung bà con tránh dính líu đến các hoạt động
chính trị, chỉ lo làm ăn và khi có điều kiện thì về nước thăm thân nhân, giúp gia
đình, đi du lịch hoặc tìm hiểu cơ hội đầu tư… Dư luận chung ngày càng quan tâm
đến chính sách và nhà nước đối với Kiều bào. Đa số bà con ở các nước khác, nhất
là Mỹ, hoan nghênh và ủng hộ Hiệp định Thương mại Việt Nam-Mỹ. Nhiều người,
nhất là giới trẻ, hăng hái thúc đẩy hoạt động đầu tư, kinh doanh hoặc giới thiệu các
đối tác nước ngoài vào Việt Nam làm ăn. Các Hội người Việt Nam và các tổ chúc
nghề nghiệp, đồng hương,từ thiện ở Pháp, Bỉ, Nhật, Đức, Ốt-xtrây-lia… đang có
nhữnh hoạt động đóng góp thiết thực hướng về đất nước.
Cuốc sống của người Việt Nam ở khu vực Đông Á và Liên Xô cũ đã có
những phát triển nhất định, nhưng chưa ổn định. Nhiều người không có ý định lập
việc lâu dài, thêm vào đó, dòng người nhập cư mới từ Việt Nam tiếp tục vào khu
vực này làm cho cộng đồng thêm phức tạp, phải đối mặt hàng ngày với nhiều khó
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khăn, nhất là về địa vị pháp lý và an ninh cộng đồng. Tình trạng phạm pháp trong
cộng đồng (tàng trữ ,sử dụng và giấy tờ giả mạo,cạnh tranh chèn ép nhau trong
kinh doanh…) khiến bà con không yên tâm làm ăn và ảnh hưởng xấu đến quan hệ
của cộng đồng người Việt với nhân dân địa phương nước sở tai.
Đáng chú ý là dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cộng đồng luôn duy trì
mối quan hệ gần gũi với quê hương đất nước, mong muốn đất nước phát triển và
hội nhập quốc tế nhanh chóng. Tuy nhiên,có một bộ phận đồng bào do chưa hiểu
chính sách chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài, bởi họ là một bộ phận không thể tách rơi của cộng đồng Viêt. Cụ thể,
Đảng và Nhà nước đã triển khai rất nhiều các chương trình, kế hoạch phục vụ công
tác vận động Kiều bào theo hướng đoàn kết, hoà hợp dân tộc. Các cuộc toạ đàm tìm
hiểu chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với Kiều bào thường xuyên được tổ
chức. Nhà nước còn khuyến khích các tỉnh trong cả nước thành lập các Hội liên lạc
thân nhân Kiều bào. Đây là tổ chức gắn kết Kiều bào với người dân trong nước.
Tính đến năm 2002 đã có trên 20 tỉnh thành phố thành lập Hội liên lạc thân nhân
Kiều bào. Tháng 1/2002 Hội liên lạc người Viêt Nam ở nước ngoài được thành lập.
Hoạt động của các Hội đã làm cho Kiều bào càng tha thiết yêu quê hương đất nước,
càng muốn trở về sinh sống ở Việt Nam. Mong muốn đó xuất phát từ tình yêu quê
hương đất nước, từ ước muốn trở về nơi “chôn rau cắt rốn”, trở về với đại gia đình
Việt Nam. Ông Nguyễn Viết Thuân – Phó Chủ nhiệm Uỷ ban về người Việt Nam ở
nước ngoài của Thành phố Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi đang cố gắng tạo mọi
điều kiện để Việt kiều có thể hồi hương một cách dễ dàng”. Ông khẳng định:
“Chính phủ cũng coi đó là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam”.
Trên thực tế, sự giúp đỡ của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đã và đang khích thích những thay đổi của nền kinh tế trong nước một cách
rõ rệt. Có thể thấy, thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước có một phần góp tiền và trí lực không nhỏ của Kiều bảo. Do đó, Đảng và Nhà
nước đã đề ra những chính sách phù hợp cho nhóm đối tượng là người Việt Nam ở
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nước ngoài, khuyến khích họ tham gia vào khối Đại đoàn kết toàn dân. Trongbài
viết “ Cần đánh giá vai trò của Việt kiều trong khối Đại đoàn kết dân tộc” đăng trên
Tạp chí Quê hương số 10 năm 2003( trang 25) có lời của Thử trưởng Bộ Ngoại
giao Nguyễn Phú Bình: “Bà con người Việt Nam ở nước ngoài rất quan tâm đến
tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc, vì đối với họ Mặt trận Tổ quốc là ngôi nhà chung và
có thể đứng ra bệnh vực họ”. Do vậy, Thứ trưởng cho rằng, trong Văn kiện Đại hội
VI của Mặt trận Tổ quốc cần phải dành riêng một phần lớn đánh giá vai trò của bộ
một hành làng pháp lý khá thuận lơị cho việc thu hút đầu tư vào Việt Nam. Tuy
nhiên, trên thực tế thành tựu thu được từ hoạt động đầu tư còn thấp. Đó là do nhận
thức và quan điểm về đầu tư của các cấp, các ngành chưa thực sự thông suốt và
thống nhất, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý, các điều kiện pháp lý của hoạt động
đầu tư còn nhiều khắt khoe và hạn chế…Tất cả những nguyên nhân đó làm cho môi
trường đầu tư của Việt Nam còn thiếu hấp dẫn, khiến cho các nhà đầu tư cảm thấy
không yên tâm khi rót vốn vào Việt Nam. Vì vậy, Nhà nước không ngừng hoàn
thiện các văn bản pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Ngày
09/06/2000 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài,
kèm theo nó là Nghị định số 24/NĐ – CP ngày 31/07/2000 hướng dẫn thi hành
Luật Đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 đã đưa ra những biện
pháp khá cụ thể để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài ( trong đó là nhà
đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài ): “…trong trường hợp do những
thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài…thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được
hưởng các ưu đãi đã quy định trong Giấy phép đầu tư và Luật này hoặc được Nhà
nước giải quyết thoả đáng ”(Khoản 1 Điều 21a ).Theo khoản 1 Điều 21a Luật Đầu
tư nước ngoài thì “Các quy định mới ưu đãi hơn được ban hành sau khi được cấp
Giấy phép đầu tư sẽ được áp dụng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh”. Những quy định này cũng được Luật
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 thừa nhận để áp dụng với các chủ thể
đầu tư trong đó có ngưòi Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam.
Hiện nay, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể tự do lựa chọn hình
thức đầu tư vào Việt Nam theo Luật Đầu tư trong nước hoặc Luật đầu tư nước
ngoài. họ có thể tự bản thân hoặc liên kết với ngoài trong nước thành lập doanh
nghiệp mới hoặc góp vốn, cổ phần vào các doanh nghiệp sẵn có trong nước thuộc
thành phần kinh tế tư nhân hay Nhà nước. Theo thống kê chưa đầy đủ, người Viẹt
Nam định cư ở nước ngoài đã thành lập 9 doanh nghiệp trong năm 2003 theo Luật
đến 4 tỉ USD”. Đây là một lượng kiều hối không nhỏ. Kiều hối đã giúp thân nhân
Kiều bào trong nước cải thiện đời sống, có vốn để mở rộng sản xuất, tạo thêm công
ăn việc làm, nâng cao thu nhập… Mặt khác, lượng Kiều hối này còn giúp ngân
hàng ổn định tỷ giá hối đoái trong nước, góp phần cân đối nguồn ngoại tệ trong
thanh toán thương mại, kích thích cầu thương mại và đầu tư: Vì vậy, chúng ta cần
có những chính sách thu hút đầu tư hay hơn nữa để Kiều bào có thêm cơ hội góp
phần xây dựng đất nước. Chính phủ Việt Nam đã tạo điều kiện hơn trước rất nhiều
để Kiều bào gửi tiền về cho họ hàng thân thuộc. Tiền gửi về không còn bị đánh
thuế thu nhập nữa. Ngoài ra, Chính phủ còn co những hoạt động thúc đẩy sự hợp
tác phát triển mô hình kinh doanh hiện đại. Ví dụ: ở Cộng hoà Séc hiện nay có gần
30.000 người Việt Nam buôn bán nhỏ và gần 200 doanh nghiệp của người Việt
Nam. Cộng đồng người Việt nam đã thiết lập mạng lưới kinh doanh dầy đặc khắp
Cộng hoà Séc. Ngoài ra,Chính phủ còn triển khai chương trình chuyển giao tri thức
qua Kiều dân (TOKTEN) từ năm 1989. Từ đó đến nay đã mời được khoảng 40 tri
thức về nước làm việc.
Những kết quả trên là thành công của việc triển khai chính sách thu hút đầu
tư của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng sự đóng góp
sức lực và trí tuệ của Kiều bào trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Chính phủ Việt
Nam tha thiết kêu gọi sự trở về của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, vì đó là
một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Chắc chắn rằng
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cùng với sự phát triển của đất nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu
tư vàoViệt Nam sẽ còn được hưởng ưu đãi nhiều hơn thế.
3. Quy chế pháp lý của người VIỆT NAM định cư ở nước ngoài trong lịch sử
3.1. Về quá trình hình thành người VIỆT NAM định cư ở nước ngoài
Uỷ ban về người Việt Nam ở nước (UBVNONN) đã có bài đánh giá chung
về cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài trong đó có đoạn viết về “quá trình hình
thành người Việt Nam ở nước ngoài”như sau; Cách đây hàng trăm năm đã có ngưòi
Việt Nam ra nước ngoài sinh sống. Lịch sử còn ghi lại vào thế kỷ 12 con cháu họ
Nam tại một số địa bàn mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia…
Như vậy có thể thấy những người Việt Nam đầu tư đặt nền móng cho quá
trình hình thành cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài cách đây đã hàng
trăm năm, trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử cho đến trước năm 1975 cộng
đồng nguời Việt Nam định cư ở nước ngoài không có nhiều biến động với số lượng
ít ỏi vài trăm ngàn người. Sau sự kiện lịch sử năm 1975 vì nhiều lý do cộng đồng
người Việt Nam định cư ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng, nếu như trước năm
1975 chỉ có khoảng 200.000 người thì sau năm 1975 con số đã lên tới hơn 2 triệu
người. Cho tới nay cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã đi vào ổn
định, ngày càng gây được tiếng vang nơi xứ người và vẫn giữ được những đặc
trưng, những nét văn hoá truyền thống của dân tộc Việt.
CHƯƠNG II
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
(THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LÀO)
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của người Việt Nam ở nước ngoài
1.1. Năng lực pháp luật
1.1.1. Theo pháp luật Việt Nam
Cá nhân là chủ thể đầu tiên của các quan hệ xã hội, là “tổng hoà các mối
quan hệ xã hội”. Cá nhân – con người là trung tâm của chính sách kinh tế, xã hội
mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện với mục đích phục vụ con người, vì
con người. Trong các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân mà luật dân sự điều
chỉnh thì cá nhân là chủ thể nguyên sinh, đầu tiên và các chủ thể khác tham gia vào
các quan hệ dân sự cũng thông qua hành vi của con người. Để tham gia vào quan
hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói riêng, cá nhân phải có tư cách chủ thể để
tham gia vào các quan hệ dân sự. Đây là năng lực chủ thể được tạo thành bởi năng
lực pháp luật và năng lực hành vi.
“Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền
dân sự và có nghĩa vụ dân sự” ( Khoản 1 Điều 14 BLDS năm 2005). Năng lực pháp
luật của chính họ và của cá nhân khác. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là
thuộc tính nhân thân của chủ thể và không thể dịch chuyển cho chủ thể khác. Điều
16 BLDS quy định: “Nămg lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế,
trừ trường hợp do pháp luật quy định”. Như vậy, năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật. Có hai dụnh bị hạn chế sau:
+ Văn bản pháp luật chung quy định một loại người nào đó không được
phép thực hiện các giao dịch dân sựcụ thể. Ví dụ: Người nước ngoài không có
quyền sở hữu nhà ở nên không được phép mua bán nhà ở tại Việt Nam, trừ trường
hợp quy định tại Điều 125 Luật nhà ở.
+ Quyết định đơn hành của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ: Toà
án ra quyết định cấm cư trú đối với một người nào đó đã hạn chế năng lực pháp
luật cụ thể của người đó trong khoảng thời gian xác định.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy vậy, về bản chất, đây không phải là tước bỏ năng lực pháp luật dân sự
mà chỉ là tạm đình chỉ khả năng này - khả năng biến quyền khách quan thành
quyền chủ quan của chủ thể riêng biệt. Việc hạn chế này chỉ đối với một số quyền
cụ thể mà không phải là năng lực pháp luật dân sự nói chung. Việc hạn chế năng
lực pháp luật dân sự không đồng nghĩa với việc tước bỏ một quyền dân sự cụ thể
(kê biên tài sản, tịch thu tài sản…).
Nội dung của năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Pháp luật ghi nhận khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ nhân sự.
Tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho cá nhân gọi là nội dung
năng lực pháp luật dân sự cá nhân. Nội dung của năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân phụ thuộc và điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong những điều kiện lịch sử
nhất định. Những quyền dân sự của cá nhân được ghi nhận ở rất nhiều văn bản
pháp luật khác nhau nhưng quan trọng nhất là Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể
hoá trong BLDS năm 2005.
Điều 15 BLDS quy định nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
một cách vắn tắt, những quyền dân sự cụ thể của cá nhân được ghi nhận trong tất cả
nguyên tắc của luật dân sự “ tự do, tự nguyện cam kết” (Điều 4 BLDS) và được thể
hiện cụ thể ,chi tiết trong Phần thứ ba của BLDS. Ngoài ra, nghĩa vụ dân sự của các
chủ thể còn phát sinh từ các căn cứ khác ( bồi thường thiệt hại, thực hiện công việc
không có uỷ quyền…)
Khoản 3 Điều 14 BLDS quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”
Với quy định này, pháp luật thừa nhận năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không bị ảnh hưởng bởi trạng thái
tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài sản…
Một trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định là: “ Người sinh ra và còn
sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thừa kế chết” vẫn được hưởng di sản thừa kế của người chết để lại. Như vậy, thai
nhi đã bảo lưu quyền thừa kế nếu còn sống sau khi sinh ra.
1.1.2. Theo pháp luật nước Lào
"Cá nhân nước ngoài" là cá nhân có quốc tịch khác, chuyển đến nước
CHDCND Lào tạm thời hoặc trong một thời gian dài hơn để hoàn thành nhiệm vụ
và sau khi hoàn thành nhiệm vụ đó có thể sẽ trở lại quốc gia của mình. Những cá
nhân này sẽ chịu sự quản lý của Bộ Ngoại Giao và các cơ quan có thẩm quyền liên
quan.
“Người nước ngòai" là một người có quốc tịch nước khác, người chuyển đến
Lào và cư trú tại Lào trong một thời gian dài, người mà có chứng minh thư nước
ngoài hoặc quốc gia của người đó vẫn coi người ấy như công dân của nước mình.
“Người không quốc tịch” là một cá nhân cư trú tại lãnh thổ CHDCND Lào,
không phải công dân Lào và cũng không thể xác định được quốc tịch của ngườiđó.
Người nước ngoài và người không quốc tịch chịu sự quản lý của Bộ Quốc Phòng
và những cơ quan có thẩm quyền liên quan.
“Công dân nước ngoài” theo bộ luật này bao gồm cá nhân nước ngoài và
người nước ngoài.
tối đa của những người có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ. Những người này có
đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách là chủ
thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện. Những người
từ đủ 18 tuổi trở lên được suy đoán là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Họ chỉ bị
mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi khi có quyết định của toà án
về việc hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của Luật hôn
nhân và gia đình thì nữ từ 18 tuổi ( 17 tuổi 1 ngày) trở lên có quyền kết hôn những
theo quy định này thì nữ đủ tuổi kết hôn vẫn có thể chưa có đầy đủ năng lực hành
vi.
- Năng lực hành vi một phần
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Người có năng lực hành vi một phần (không đầy đủ) là những người chỉ có
thể xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất
định do pháp luật dân sự quy định.
“ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì xác lập, thực hiện các giao dịch
dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch phục vụ cho
nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định
khác”.
“Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng đủ để thực hiện nghĩa
vụ được xác lập, thực hiện giao dịch và phải chịu trách nhiệm trong phạm vi taì sản
họ có, trừ trường hợp pháp luật quy định khác” (Điều 20 BLDS)
Như vậy, cá nhân từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi là những người có năng lực
hành vi dân sự một phần. Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải
chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để thoả mãn những nhu cầu thiết
yếu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Tuy pháp luật không quy định những giao dịch
nào là giao dịch “phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày” và “ phù hợp với lứa tuổi”
nhưng có thể hiểu đó là những giao dịch có giá trị nhỏ, phục vụ những nhu cầu học
tập, vui chơi trong cuộc sống được người đại diện của họ cho phép thực hiện mà
không cần sự đồng ý trực tiếp của người đại diện( mua dụng cụ học tập, ăn quà, vui
bao giờ cũng còn những hạn chế (dù ít, dù nhiều) nhất định đối với người nước
ngoài. Ví dụ: các quyền chính trị như quyền bầu cử, quyền ứng cử, đề cử hầu như
không được hưởng ;quyền cư trứ bị hạn chế; quyền hành nghề học tập cũng bị
những giới hạn nhất định …
Chế độ đãi ngộ như công dân dành cho người nước ngoài thường được quy
định trước hết là trong luật pháp các nước, Ở Việt Nam, theo Quyết định 122/CP
ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài
cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam tại Điều 7 và Điều 8 quy định rằng: Người
nước ngoài định cư ở Việt Nam được hưởng chế độ đãi ngộ như công dân đối với
25