VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------------------
NGUYỄN THỊ THU VÂN
VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TRONG XÃ HỘI
HÀN QUỐC HIỆN NAY VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở
VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Hà Nội - 2015
2
2
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-------------------
NGUYỄN THỊ THU VÂN
VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TRONG XÃ HỘI
HÀN QUỐC HIỆN NAY VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở
VIỆT NAM
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án tiến sĩ với đề tài: “Vị thế của người mẹ đơn
thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam”,
tôi xin chân thành cảm ơn:
Các thầy cô giáo Khoa Dân tộc học và Học viện Khoa học Xã hội đã
tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chương
trình đào tạo tiến sĩ.
Lãnh đạo Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học
Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi tôi công tác, đã giúp đỡ, tạo điều
kiện giúp tôi về thời gian, lịch công tác để tôi hoàn thành luận án.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Trịnh Duy Luân
và TS. Đặng Thị Hoa, những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và cho tôi
những góp ý vô cùng quý báu giúp tôi hoàn thành luận án này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Mạng lưới Hỗ trợ Người mẹ Đơn thân
Hàn Quốc (KUMSN) và Hiệp hội Gia đình Người mẹ Đơn thân Hàn Quốc
(KUMFA) tại Seoul, Hàn Quốc, cùng Hội Những Người mẹ Đơn thân Việt
Nam và các cộng tác viên đã nhiệt tình cộng tác trong suốt quá trình điền dã,
khảo sát tại các địa bàn nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã khích lệ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi khi thực hiện luận án.
Xin chân thành cảm ơn!
5
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Số bảng
Hình 1-1
Tên bảng
Khung lý thuyết đàm luận xã hội về người mẹ
2
3
đơn thân
Hình 1-2 Khung phân tích của luận án
Bảng 2-1 Phân bố độ tuổi của người mẹ đơn thân trong các
43
56
4
khu nhà tạm trú
Bảng 2-2 Sự thay đổi về học vấn của người mẹ đơn thân
57
5
theo năm
Biểu 2 -3 Tổng thu nhập hàng tháng của người mẹ đơn
58
11
người mẹ đơn thân Hàn Quốc
Bảng 4-1 Nhận thức về người mẹ đơn thân, theo nhóm tuổi
113
12
người trả lời
Bảng 4-2 Nhận thức về việc giáo dục con cái của người mẹ
122
13
đơn thân, theo nhóm tuổi người trả lời
Bảng 5-1 Điểm tương đồng và khác biệt trong vị thế của
143
người mẹ đơn thân Hàn Quốc và Việt Nam
7
Trang
38
7
định của xã hội và sự ổn định của hình thái gia đình truyền thống, vốn đã tồn
tại từ lâu đời. Trong bối cảnh đó, những người mẹ đơn thân thường gặp nhiều
khó khăn, đối mặt với những định kiến xã hội đối với họ. Tuy nhiên, từ sau
những năm 1990, cùng với sự biến đổi về các loại hình gia đình và hoạt động
hỗ trợ của các tổ chức phúc lợi xã hội, những người mẹ đơn thân đã dần thoát
ra khỏi những quy phạm truyền thống của xã hội, nâng cao vị trí độc lập của
mình như một kiểu gia đình mới. Vấn đề người mẹ đơn thân và con cái của họ
cũng đã trở thành một chủ đề học thuật và được công chúng, dư luận quan
tâm chú ý. Đã có sự xuất hiện của mạng lưới các tổ chức xã hội hỗ trợ người
mẹ đơn thân, lên tiếng yêu cầu chính phủ, thay vì hỗ trợ cho chính sách cho
con nuôi, cần có các chính sách hỗ trợ để người mẹ đơn thân nuôi con, đóng
9
góp vào sự phát triển chung của xã hội.
Ở Việt Nam, hình thái gia đình đang có những thay đổi nhanh chóng,
nhất là từ những năm sau Đổi mới 1986 đến nay. Vấn đề người mẹ đơn thân ở
Việt Nam cũng không nằm ngoài những đặc điểm chung của hiện tượng này
trên thế giới. Hiện tượng này ngày càng trở nên phổ biến hơn, không còn là lẻ
tẻ, ngẫu nhiên như trước đây. “Có thể xem đó như một hiện tượng mớitrong
sự phát triển của gia đình Việt Nam, đi cùng với những biến đổi xã hội khác ở
nước ta trong thời kỳ Đổi mới”[68].
Cũng như Hàn Quốc, tại Việt Nam, dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng từ văn
hóa Nho giáo Trung Quốc với nhiều quan niệm, quy phạm liên quan đến gia đình
truyền thống, luôn coi trọng, đề cao hôn nhân và gia đình, gắn hôn nhân với gia
đình trong một mối quan hệ hết sức mật thiết. Điều này đã khiến nhữngcho người
mẹ đơn thân và con cái (ngoài giá thú) của họ rất khó khăn để được xã hội công
nhận, chịu nhiều định kiến cũng như phân biệt đối xử. Vì vậy, họ gặp phải khá
nhiều khó khăn trong cuộc sống, và đặt ra những vấn đề xã hội hết sức đáng lo
ngại. Trước thực tế này, cần có những điều tra đầy đủ và cụ thể về vấn đề người mẹ
- Gợi mở và đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng và cải thiện chính
sách hỗ trợ người mẹ đơn thân tại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vị thế xã hội của người mẹ đơn thân
Hàn Quốc hiện nay và liên hệ so sánh với người mẹ đơn thân tại Việt Nam. Khách
thể nghiên cứu là những người mẹ đơn là thành viên của Hiệp hội Gia đình người
mẹ đơn thân Hàn Quốc (KUMFA) và nhóm người mẹ đơn thân là thành viên của
Hội những người mẹ đơn thân Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu tập trung vào các vấn đề: thực trạng và các yếu tố tác
động đến vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội như: bối cảnh văn hóa xã hội,
các quan niệm về giá trị của hôn nhân gia đình, hoàn cảnh gia đình, hoạt động của
11
mạng lưới người mẹ đơn thân, chính sách xã hội của chính phủ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Thời gian nghiên cứu
Về phạm vi thời gian nghiên cứu tại Hàn Quốc: lấy mốc thời gian từ
sau 1990 (khi hình thái gia đình Hàn Quốc có nhiều thay đổi và vấn đề người
mẹ đơn thân bắt đầu nhận được dư luận xã hội và các nhà nghiên cứu quan
tâm. Ở Việt Nam, bối cảnh kinh tế xã hội được chọn là từ sau Đổi mới (1986)
– thời kỳ có nhiều biến đổi về kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng, tác động
không nhỏ tới loại hình, cấu trúc gia đình tại Việt Nam.
3.2.2. Không gian nghiên cứu:
Nhóm người mẹ đơn thân Hàn Quốc: Nghiên cứu thực hiện tại Seoul,
trong đó tập trung ở Hiệp hội gia đình người mẹ đơn thân Hàn Quốc
(KUMFA).
Nhóm người mẹ đơn thân Việt Nam: Nghiên cứu thực hiện tại Hà Nội,
Nam, cho thấy những khó khăn mà họ trải qua trong suốt quá trình mang thai
- sinh con - tham gia xã hội dưới con mắt của người trong cuộc.
Ba là, kết quả nghiên cứu của luận án là luận cứ khoa học giúp cho việc
xây dựng chính sách hỗ trợ cho người mẹ đơn thân tại Việt Nam.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cục
của luận án được chia thành các chương như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết nghiên
cứu đề tài
Chương 2. Thực trạng vị thế của người mẹ đơn thân Hàn Quốc từ chiều
cạnh quan hệ xã hội
Chương 3. Vị thế của người mẹ đơn thân Hàn Quốc từ chiều cạnh
chính sách và mạng lưới hỗ trợ
Chương 4. Vị thế người mẹ đơn thân tại Việt Nam – Một số vấn đề hiện
13
nay Chương 5. Kết quả và bàn luận
14
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại phương Tây
Cho đến nay, có không ít các công trình nghiên cứu về người mẹ đơn
thân trên thế giới đã được công bố rộng rãi. Đặc biệt ở các quốc gia mà chính
sách phúc lợi đi đầu như Anh, Đức, Na-uy, Pháp thì các nghiên cứu về người
với họ, tác giả đã phân chia họ thành ba nhóm: người tiên phong (pioneer),
coper (người đương đầu) và struggler (người đấu tranh). Theo đó, người đi
tiên phong (pioneer) cảm thấy thỏa mãn với những gì mình có, người đương
đầu (coper) luôn nhìn nhận tình trạng của họ chỉ là tạm thời và có thể cải
thiện, còn người đấu tranh (struggler) thì cảm thấy bị chôn vùi trong những
ràng buộc và đè nén xã hội, nhận thức rằng họ chẳng còn sự lựa chọn nào cả.
Đây là những luận điểm hết sức quan trọng có thể vận dụng khi phân tích về
tâm lý bất ổn và tiến thoái lưỡng nan của người mẹ đơn thân trong quá trình
mang thai, sinh con, nuôi con và tham gia xã hội.
Polakow Valerie, Halskov Therese và Jorrgense Per Schultz trong
nghiên cứu Diminished rights, Danish lone mother families in international
contexts (Quyền lợi bị giảm bớt, Các Gia đình Người mẹ Đơn thân Đan Mạch
trong Bối cảnh Quốc tế) [114] đã tìm hiểu về cuộc sống và vấn đề đói nghèo
của người mẹ đơn thân ở Đan Mạch trong so sánh với các xã hội khác.
Nghiên cứu miêu tả những khó khăn của những người mẹ đơn thân khi phải
cố gắng vừa làm việc, vừa nuôi con, vay mượn tiền để trang trải cho cuộc
sống và đưa ra nhận định rằng quyền lợi của người mẹ đơn thân và con cái
của họ – những người được coi là thuộc “nhóm xã hội ngoài lề” (marginal
16
group) - là một thứ quyền lợi bị giảm bớt (diminished rights) và họ phải đấu
tranh rất nhiều để khôi phục quyền lợi của chính mình. Tác giả chỉ ra rằng
giáo dục chính là con đường có thể giúp các bà mẹ đơn thân thoát khỏi tình
trạng nghèo khó, tăng thu nhập. Bên cạnh đó sự hỗ trợ của mạng lưới xã hội
cũng hết sức cần thiết. Đây là những nhận định rất có giá trị. Bởi lẽ nhiều
nghiên cứu về thực trạng người mẹ đơn thân, nhất là người mẹ đơn thân ở
tuổi vị thành niên hoặc thanh niên, cho thấy việc mang thai và sinh con làm
họ giảm bớt cơ hội học tập, phải nghỉ học giữa chừng, ảnh hưởng lớn đến việc
tìm được công việc ổn định trong tương lai của họ. Vì thế, giáo dục - cụ thể là
Các công trình ở nhóm thứ nhất có thể kể đến Lee Seok-jae [155]; Bae
Mee-young [143], Jeong Maria và cộng sự [147], [Ahn Tae-yun và cộng sự,
[151]; Son Hong-sook [145] đều đưa ra nhận định: “Quá trình đô thị hóa, hiện
đại hóa là nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi trong lối sống, thêm vào đó là cơ
hội giao lưu tiếp cận giữa nam nữ, những nhận thức về quan hệ tình dục cũng
thay đổi dưới sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng. Những
giá trị, quy định mang tính đạo đức, xã hội, gia đình truyền thống bị giảm nhẹ,
từ đó số lượng phụ nữ mang thai, nuôi con mà không kết hôn tăng nhanh, cho
đến gần đây trở thành một hiện tượng và nhận được nhiều quan tâm chú ý từ
dư luận” [143], [155].
Jeong Maria và cộng sự [147], trong nghiên cứu về “Sự ủng hộ của xã
hội đối với người mẹ đơn thân và hy vọng của họ” đã nhận định rằng sự biến
đổi của cấu trúc xã hội là một trong những nguyên nhân quan trọng trong việc
phát sinh hiện tượng người mẹ đơn thân. Tác giả khẳng định công nghiệp hóa,
đô thị hóa, thông tin hóa cùng với sự mở rộng vai trò của phụ nữ trong các
hoạt động xã hội đã khiến cho sự tiếp xúc mang tính xã hội của nam giới và
nữ giới trở nên thường xuyên hơn và do đó cơ hội giao tiếp giữa hai giới cũng
trở nên nhiều hơn. Ngược lại, những quy phạm mang tính đạo đức, gia đình,
18
xã hội truyền thống trở nên yếu dần. Thêm vào đó, xu hướng cởi mở về tình
dục của phương Tây cũng lan tỏa mạnh mẽ, khiến cho những luân lý, quy
phạm mang tính truyền thống của Hàn Quốc trước đây bị lung lay. Mặt khác,
độ tuổi trưởng thành về mặt thể chất của thanh niên cũng thấp dần, sự tự do
trong cuộc sống cá nhân được đề cao dẫn đến hiện tượng sống thử trước hôn
nhân trở nên phổ biến. Các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí,
truyền hình, internet cũng khiến giới trẻ tìm hiểu nhiều hơn về tình dục. Theo
đó, tỉ lệ sống thử và quan hệ trước hôn nhân tăng cao, kéo theo một số lượng
lớn những người mẹ trẻ mang thai, đơn thân nuôi con, làm nổi cộm lên thành
tượng người mẹ đơn thân. Các tác giả nhận định một số lượng lớn người mẹ
đơn thân xuất thân từ các gia đình trong đó mối quan hệ giữa các thành viên
không ổn định hoặc mâu thuẫn như gia đình ly hôn, ly thân, gia đình khuyết
bố hoặc mẹ. Vì vậy, đã có nhiều trường hợp cố gắng tìm kiếm sự bình yên
trong tâm hồn hoặc dựa vào tinh thần ở bên ngoài xã hội, nới lỏng về các mối
quan hệ khác giới, từ đó có nhiều khả năng trở thành người mẹ đơn thân.
Nhóm thanh thiếu niên với học lực và kiến thức về giới tính càng kém thì việc
có thai trong độ tuổi này càng cao, thêm vào đó bạo lực tình dục hay việc bất
đồng với cha mẹ, bỏ nhà đi lang thang hoặc sống xa cha mẹ, tạo điều kiện cho
việc sống thử trước hôn nhân cũng là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ có thai và trở
thành mẹ đơn thân ở độ tuổi này càng cao. Do đó, một gia đình trong đó các
thành viên chung sống hòa thuận, mối quan hệ giữa mật thiết, gắn bó, sự ổn
định của gia đình là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu khả năng có thai ngoài
ý muốn trước hôn nhân, trở thành người mẹ đơn thân của con cái.
Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu trên đây, có thể thấy rằng, nguyên
nhân dẫn đến hiện tượng người mẹ đơn thân là nguyên nhân phức hợp, không
chỉ đơn giản, một chiều, mà cần nhìn nhận từ nhiều chiều cạnh khác nhau,
bao gồm nhiều yếu tố như: bối cảnh xã hội, hoàn cảnh gia đình của mỗi cá
20
nhân. Sự biến đổi của cấu trúc xã hội như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đô thị hóa, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong nhận thức, quan
niệm về tình dục, hôn nhân cùng với hoàn cảnh môi trường sống, hoàn cảnh
gia đình chính là những yếu tố tác động trực tiếp đến việc phát sinh hiện
tượng người mẹ đơn thân.
Về thực trạng của hiện tượng người mẹ đơn thân, trong các nghiên cứu
trước đây, ít có nghiên cứu nào đưa ra con số thống kê cụ thể về số lượng
người mẹ đơn thân tăng giảm theo năm, mà chủ yếu là những con số thống kê
về độ tuổi, học vấn, tỉ lệ lựa chọn cho con nuôi hay nuôi con một mình, dựa
PTTH chiếm 45.1%, số đang học đại học chiếm 50.4%. Tác giả cũng nhấn
mạnh khuynh hướng gần đây trong số những người mẹ đơn thân cư trú
trong các khu nhà tạm trú, thì tỉ lệ người mẹ quyết định giữ lại nuôi con
một mình, không cho con nuôi đang tăng nhanh 1. Và độ tuổi của người mẹ
đơn thân là nhân tố quyết định nhiều trong việc cho con nuôi trong/ ngoài
nước hay giữ lại nuôi con một mình. Những nhóm phụ nữ có độ tuổi thấp
thì tỉ lệ cho con nuôi cao và nhóm có độ tuổi cao thường lựa chọn nuôi con
một mình. Kong Il-sook [135] và Huh Nam-soon cùng cộng sự [138] trong
nghiên cứu “Thực trạng và những tranh cãi liên quan đến người mẹ đơn
thân”cũng đồng ý với nhận định này của Lee Mi-jeong. Trong số những
người mẹ đơn thân cư trú trong các khu nhà tạm lánh, thì tỉ lệ lựa chọn
nuôi con một mình năm 1984 là 5.8%, năm 1998 là 7.2%, năm 2001 là
11.0%. Năm 2005 là 31.7% và năm 2006 là 33.0%, cho thấy khuynh hướng
quyết định nuôi con một mình thay vì cho con nuôi ở những người mẹ đơn
thân đang tăng dần.
Vấn đề nhận thức xã hội và những khó khăn, định kiến mà người mẹ
1 Dựa vào việc giữ lại con hay cho con nuôi đi mà người mẹ đơn thân (mihon-mo) được chia làm hai nhóm:
người mẹ đơn thân nuôi con (yangyuk mihon-mo) hay người mẹ đơn thân cho con nuôi (ipyang mihon-mo),
trong đó “yangyuk” mang nghĩa “nuôi nấng, dưỡng dục”, “ipyang” mang nghĩa “cho nhận con nuôi”.
22
đơn thân gặp phải trong xã hội Hàn Quốc cũng là khía cạnh được nhắc đến
trong nhiều nghiên cứu. Nguyễn Thị Thu Vân [157] trong công trình “Cuộc
vận động ủng hộ quyền lợi của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc
hiện nay”, được tiến hành qua phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa nhân
học, với mẫu nghiên cứu là nhóm những người mẹ đơn thân đóng vai trò nòng
cốt trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức Hiệp hội gia đình phụ nữ
đơn thân Hàn Quốc (Korean Unwed Mothers Families Association) cũng đã
trước đây chủ yếu nghiên cứu các tổ chức của xã hội dân sự, các NGOs đang
vận động ủng hộ quyền lợi của người mẹ đơn thân, xây dựng các khu nhà tạm
trú cho họ. Lee Mi-jeong [154] trong công trình “Phương án cải thiện dịch vụ
phúc lợi hỗ trợ người mẹ đơn thân nuôi con” đã chỉ ra nhiều loại hình nhà
tạm trú cho những người mẹ đơn thân, tùy thuôc vào thời gian cư trú và các
chính, chương trình phúc lợi mà họ được hưởng. Nhìn chung, người mẹ đơn
than được cư trú miễn phí, được hỗ trợ về vật chất và tinh thần để có động lực
tự lập và nuôi con.
Từ việc tìm hiểu, phân tích nguyên nhân và thực trạng vấn đề người mẹ
đơn thân tại Hàn Quốc, các nghiên cứu trước đây đã đưa ra những đề án,
phương hướng chính sách, giải pháp nhằm hỗ trợ họ dựa trên việc phân tích
những hạn chế của các chính sách trong thời điểm hiện tại. Đa số các nghiên
cứu nhìn nhận vấn đề người mẹ đơn thân ở góc độ nhân quyền, quyền làm mẹ.
Ahn Tae-yun và cộng sự [151] trong “Nghiên cứu về điều tra thực trạng
gia đình ông bố bà mẹ đơn thân tỉnh Gyeonggi-do và phương án hỗ trợ”, từ việc
nêu ra các chính sách hỗ trợ gia đình khuyết một thành viên thuộc độ tuổi thanh
niên của chính phủ, từ đó tác giả nêu lên quan điểm cần xây dựng chính sách một
cách đầy đủ, đáp ứng nhu cầu chung của người mẹ đơn thân ở nhiều độ tuổi.
Các nghiên cứu còn lại đa số nhấn mạnh tính đa dạng, linh hoạt khi đưa
ra đề xuất về chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân. Một số nghiên cứu đặt vấn
24
đề người mẹ đơn thân trong mối liên hệ mật thiết với vấn đề cho nhận con
nuôi. Jeong Maria và cộng sự [147], trong nghiên cứu về “Sự ủng hộ của xã
hội đối với người mẹ đơn thân và hy vọng của họ” nhấn mạnh tầm quan trọng
của mạng lưới xã hội đồng thời phát triển các chương trình hỗ trợ về mặt tinh
thần cho người mẹ đơn thân.
Lee Mi-jeong [153] trong công trình nghiên cứu “Phương án cải thiện dịch
vụ phúc lợi hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con”thì lại đặt vấn đề người mẹ đơn