CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH NỀN KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC THEO HỌC THUYẾT J. M KEYNES. LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỂN Ở VIỆT NAM. - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
………………… … ……………….CHUYÊN ĐỀ:
CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH NỀN KINH TẾ CỦA
NHÀ NƯỚC THEO HỌC THUYẾT J. M KEYNES.
LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỂN Ở VIỆT NAM.
Giảng viên H.D : TS. NGUYỄN MINH TUẤN
Lớp : CAO HỌC KTCT- K19
Nhóm H.V.T.H : Lê Văn Đại
Nguyễn Hữu Trinh
Nguyễn Văn QuânTp. HCM
Tháng 3 năm 2010
NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẨN
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………….
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: CƠ SỠ LÝ LUẬN VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA HỌC
THUYẾT J.M.KEYNES.

"Chúng ta có thể thấy rõ ràng cái đích nguy hiểm của con đường chúng ta đang đi.
Nếu chính phủ không hành động, chúng ta sẽ thấy sự sụp đổ của cơ cấu hợp đồng
hiện có và các công cụ nợ, cùng với sự mất lòng tin hoàn toàn vào hệ thống tài
chính và Chính phủ. Chúng ta sẽ không thể dự đoán được hậu quả cuối cùng".
Keynes viết những dòng đó trong bối cảnh của sự sụp đổ thị trường chứng khoán
Mỹ năm 1929 và khủng hoảng ngân hàng năm 1931 nhưng tính thời sự vẫn còn
đúng với những gì chúng ta đang phải đối mặt ngày hôm nay.
Tư tưởng kinh tế của Keynes được phản ánh đầy đủ nhất trong tác phẩm xuất bản
năm 1936 của ông mang tên: "Lý thuyết chung về Lao động, Lãi suất và Tiền tệ".
Triết lý của ông rất đơn giản: các suy thoái kinh tế không cần thiết phải tự điều
chỉnh.
Theo Keynes, trong những trường hợp cụ thể, các nền kinh tế có thể rơi vào vòng
luẩn quẩn.
Kết quả là cả nền kinh tế sẽ đi xuống và không thể đi lên nếu thiếu một sự can thiệp
từ bên ngoài. Đó chính là lúc cần đến chính phủ: đổ tiền vào nền kinh tế thông qua
chi tiêu công để kích thích các cá nhân và doanh nghiệp tiết kiệm ít hơn và chi tiêu
nhiều hơn.
4
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA HỌC THUYẾT
J.M.KEYNES.
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Vào những năm 30 của thế kỷ 20 khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp thường xuyên
xảy ra và rất nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933 đã làm
phá sản học thuyết “Tự điều chỉnh kinh tế “ và “Bàn tay vô hình” của trường phái
cổ điển và tân cổ điển. Trong thực tế của chũ nghĩa tư bản, các qui luật kinh tế
khách quan hoạt động một cách tự phát đã đem lại khủng hoảng cho nền kinh tế.
Cuộc khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ lúc bấy giờ làm cho tình hình kinh tế - xã
hội rối loạn, thất nghiệp tăng cao do hàng loạt công ty, nhà máy phải bị phá sản nên
sa thải công nhân hàng loạt. hàng triệu tấn hàng bị ứ thừa không tiêu thụ phải đem

nhà đầu cơ John Maynard Keynes thì không thể có nhà kinh tế học John Maynard
Keynes, không có học thuyết kinh tế trọng cầu gắn liền với tên tuổi này. Khác với
Adam Smith tin vào khả năng điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường,
Keynes nghi ngờ khả năng tự điều chỉnh và tự lành mạnh trở lại của thị trường.
Keynes cho rằng, con người thích giữ tiền hơn là đầu tư vì lo ngại rủi ro, nhưng giữ
tiền cũng là một dạng đầu cơ vào lãi suất, đầu tư giảm thì thất nghiệp sẽ tăng, thị
trường tự nó không giải quyết được vấn đề này, vì thế phải cần đến vai trò của nhà
nước. Nhà nước phải kích cầu, chấp nhận vay nợ và thâm hụt ngân sách để kích
cầu. Thâm hụt ngân sách là biệt hiệu học thuyết của Keynes và ngôn từ cửa miệng
suốt một thời mà ngày nay lại được thực hiện ở không ít quốc gia. Keynes cho rằng,
cá nhân có thể đầu cơ thì tại sao nhà nước lại không. Cá nhân đầu cơ để kiếm tiền,
kết quả hoạt động đầu cơ của nhà nước hiện diện dưới những hình thức khác.
Keynes cho rằng đầu cơ “vô hại như bong bóng trong dòng chảy kinh doanh liên
tục” nhưng sẽ rất tai hại khi “kinh doanh trở thành bong bóng trong vòng xoáy của
đầu cơ”.
6
Tác phẩm nổi tiếng nhất của J.M. Keynes là “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi
suất và tiền tệ’ xuất bản 1937 tác phẩm này đã làm cuộc cách mạng trong kinh tế
học vĩ mô hiện đại.
Ông là người đầu tiên áp dụng rộng rãi và có hệ thống “ phân tích đại lượng’ đối
với cân bằng kinh tế vĩ mô. Các hiện tượng kinh tế được ông xem xét một cách tổng
quát và nêu thành các đại lượng tổng hợp như : tổng cung , tổng cầu, tổng thu nhập,
tổng đầu tư và xác lập quan hệ giữa các đại lượng này dưới dạng tương quan hàm
số.
Trong học thuyết của ông các phạm trù như “khuynh hướng tiêu dùng’ và “khuynh
hướng tiết kiệm ‘ “ sở thích thanh khoản’ được coi là những phạm trù tâm lý số
đông.
1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của học thuyết Keynes
Quan niệm mới về quá quá trình tự điều chỉnh của nền kinh tế vĩ mô dựa trên giả
thuyết giá cả và tiền công không biến động trong ngắn hạn, ông bác bỏ khả năng tự

đối, việc giảm tiêu dùng tương đối làm giảm cầu hiệu quả từ đó ảnh hưởng tới qui
mô sản xuất và khối lượng việc làm.
Để điều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng phải kích thích tiêu dùng, tăng đầu tư
và từ đó tăng cầu về tư liệu sản xuất . Khối lượng đầu tư đóng vai trò quyết định
đến qui mô việc làm, song khối lượng đầu tư phụ thuộc vào mong muốn của nhà
đầu tư và “hiệu quả giới hạn của tư bản’ . Nhà kinh doanh sẽ mở rộng đầu tư cho tới
khi nào “hiệu quả giới hạn của tư bản’ vẩn còn lớn hơn so với lãi suất ngân hàng.
Và khi nó bằng với lãi suất ngân hàng thì họ sẽ không đầu tư nữa do vậy nền kinh tế
sẽ bị trì trệ dẩn đến khủng hoảng, thất nghiệp.
Để thoát khỏi tình trạng trên, phải diều chỉnh sự thiếu hụt của cầu tiêu dùng, ngăn
chặn sự giảm sút của cầu tiêu dùng phải khuyến khích, hỗ trợ các nhà đầu tư . Nhà
nước phải tác động vào nền kinh tế bằng chính sách đầu tư lớn, khuyến khích, hổ
8
trợ các nhà đầu tư, sử dụng số tư bản nhàn rổi và thu hút số lao động dư thừa, nhờ
đó sức đầu tư sẽ tăng lên, khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng sản xuất.
2.1.2Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn và khuynh hướng tiết kiệm giới hạn
Theo Keynes thu nhập của mỗi cá nhân được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng và
tiết kiệm do vậy hình thành nên “ khuynh hướng tiêu dùng và “khuynh hướng tiết
kiệm’
“Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn” là quan hệ giữa tiêu dùng với thu nhập là tỷ lệ
giữa sự gia tăng tiêu dùng so với sự gia tăng của thu nhập và nó chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khách quan ( tiền lương, thu nhập, tiết kiệm, lạm phát, chính sách
thuế) và chủ quan ( hưởng thụ, mốt , xa hoa , hào phóng).
“Khuynh hướng tiết kiệm giới hạn” là quan hệ giữa tiết kiệm và thu nhập. Tiết kiệm
cũng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan (dự phòng, tìm cơ hội đầu tư) và
khách quan (thu nhập, tiêu dùng) .
Theo J.M.Keynes thì qui luật chung là xu hướng tiết kiệm tỉ lệ thuận với mức thu
tăng thu nhập, thu nhập càng cao thì tỉ lệ tiết kiệm càng lớn do vậy xu hướng tiêu
dùng sẽ giảm tương đối so với tốc độ tăng của thu nhập. Từ những phân tích trên rút
ra kết luận rằng ‘cầu tiêu dùng” là xu hướng vĩnh viển của mọi nền sản xuất, đó là

lưu thông càng tăng thì lãi suất càng giảm, đây là nhân tố quan trọng làm căn cứ để
đề ra chính sách kinh tế vĩ mô, điều chỉnh kinh tế của nhà nước, ông đề nghị in
thêm tiền đưa vào lưu thông.
Hai là yếu tố sự ưa chuộng tiền mặt, theo ông sự ưa chuộng tiền mặt tăng nghĩa là
mọi người có xu hướng giữa tiền, không đưa tiền vào lưu thông do vậy số tiền trong
lưu thông giảm xuống, lượng cung tiền tệ giảm, nếu lượng cầu về tiền tệ không đổi
lãi suất tăng lên. Sự ưa chuộng tiền mặt phụ thuộc vào các yếu tố sau:
1- Động lực giao dịch
2- Động lực đầu cơ
Lãi suất là một trong những nhân tố liên quan trực tiếp đến chính sách kinh tế vĩ
mô, trước hết là đầu tư, giải quyết việc là, tăng thu nhập, tăng tiết kiệm. Nhà nước
10
có thể dùng chính sách lãi suất để tác động , điều chỉnh nền kinh tế, mở rộng hay
thu hẹp qui mơ đầu tư sản xuất kinh doanh.
2.2 Vai trò điều chỉnh nền kinh tế của nhà nước
J.M. Keynes cho rằng muốn đưa nền kinh tế thốt khỏi khủng hoảng và thất nghiệp
khơng chỉ dựa vào cơ chế thị trường tự điều tiết mà cần phải có sự can thiệp sâu của
nhà nước vào nền kinh tế, đây là một trong những nhân tố quyết định. Như vậy
Keynes đã đề cao vai trò kinh tế của nhà nước và sự điều tiết kinh tế của nhà nước
sẽ giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển từ đó ơng đưa ra những chính sách điều tiết của nhà nước như sau:
1-Phải có sự can thiệp tích cực của nhà nước vào kinh tế, tăng cường “Bàn tay
của nhà nước”.
Nhà nước phải duy trì cầu đầu tư, phải sữ dụng ngân sách của nhà nước để khích
thích đầu tư của tư nhân và nhà nước thơng qua các biện pháp cụ thể như: đơn đặt
hàng, hệ thống mua tiếp sức, trợ cấp về tài chính, tín dụng …. để bảo đảm lợi nhuận
và khuyến khích đầu tư tư bản. J.M Keynes nhấn mạnh đến vai trò nhà nước trong
việc kích thích kinh tế, tăng đầu tư tư bản tư nhân và nhà nước, từ đó tăng cầu hiệu
quả, khích thích tiêu dùng, khích thích sản xuất, đảm bảo việc làm và tăng thu nhập.
2-Tăng đầu tư và chi tiêu của nhà nước trong thời kỳ khủng hoảng

ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
3.1. Ý nghĩa
Học thuyết kinh tế của J.M.Keynes có ý nghĩa nhất định đối với việc vạch ra các
chính sách kích cầu nhằm kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Nước Việt Nam là
một nước nông nghiệp, với phần lớn dân cư sống ở nông thôn và gắng liền với kinh
tế nông thôn nên các giải pháp kích cầu trước hết cần phải tác động đến bộ phận dân
cư này.
3.2. Những giải pháp áp dụng cho nền Kinh tế Việt Nam
3.2.1 đối với dân cư sống ở khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Thứ nhất: tạo thêm công ăn việc làm cho khu vực này để một mặt nâng cao thu
nhập cải thiện đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn. Muốn vậy phải thực hiện một
cách có hiệu quả chính sách khuyến nông, phổ biến các kỹ thuật canh tác mới: chọn
giống, cây, con vật nuôi cho năng suất cao, có khả năng kháng bệnh.
Phát triển công nghiệp chế biến ở nông thôn để nâng cao chất lượng và giá trị sản
phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam ngay trên thị
trường trong nước và thị trường thế giới.
Mở rộng tín dụng nông thôn với lãi suất ưu đãi, thủ tục vay dể dàng.
Giảm thuế nông nghiệp và các khoản đóng góp khác đối với nông dân để giảm bớt
chi phí nhằm giúp giảm giá thành sản phẩm, đây là cơ sở vững chắc giúp nông sản
Việt Nam có thể cạnh tranh với hàng hoá các nước.
Thứ hai: đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn như đường xá, cầu cống, kênh
mương đê điều, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục, y tế .vv
Phát triển cơ sở hạ tầng có tác dụng:
- Tăng thêm việc làm cho lao động nông nghiệp (các công trình này sữ dụng
nguồn lao động dư dôi tại chổ) do vậy thu nhập của họ được tăng lên.
13
- Tạo điều kiện lưu thông hàng hoá giữa thành thị và nông thôn dể dàng hơn,
chi phí vận chuyển thấp hơn nên giá cả có điều kiện giảm xuống , có năng
lực cạnh tranh trên thị trường.
- Tạo điều kiện cải thiện đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của dân cư nông

sống còn của các doanh nghiệp. Nhà nước nên cho phép các công ty nhà nước tăng
thêm chi phí quảng cáo để tiếp thị quảng bá sản phẩm.
Thứ ba: Nâng cao thu nhập của người làm việc ở các lĩnh vực: giáo dục, y tế, văn
hoá, nghệ thuật dịch vụ công cộng, an ninh quốc phòng, viên chức nhà nước vì hiện
nay chính sách lương còn thấp, do đó sức tiêu thụ còn rất thấp , một mặt nâng thu
nhập cho bộ phận này, một mặt hạn chế các tiêu cực do các cán bộ trong bộ phận
này gây ra như tham nhũng, nhận hối lộ vv.
3.2.3 Đối với chính sách lưu thông tiền tệ, tín dụng ngân hàng
Nhà nước nên dùng chính sách tiền tệ mở rộng nhằm giảm lãi suất để kích thích đầu
tư và tiêu dùng. Lãi suất hạ nhà đầu tư sẽ có lợi và họ sẽ mở rộng đầu tư tạo thêm
công ăn việc làm và thu nhập tăng, lãi suất thấp người tiêu dùng cũng sẽ được mở
rộng tiêu dùng vì việc tiêu dùng cũng sẽ có lợi hơn là giữ tiền ở các tài khoản tiết
kiệm.
cần thực hiện các giải pháp làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông như hạ lãi suất
chiết khấu, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tiền thêm cho lưu thông… tất cả
việc này sẽ làm lạm phát gia tăng , nhưng nó lại khích thích sản xuất tăng trưởng ,
công việc gia tăng, tiêu dùng gia tăng và nền kinh tế tăng trưởng theo. Vấn đề đặt ra
ở đây là xác định tỷ lệ lạm phát vừa phải đừng để lạm phát tăng cao có tác động xấu
đến đời sống kinh tế - xã hội.
3.2.4 Về chính sách thương mại
Cần cải thiện cán cân thương mại hiện nay tăng xuất khẩu giảm dần nhập khẩu,
tăng xuất khẩu có tác động tăng công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng tiêu dùng và
kinh tế nội địa sẽ tăng trưởng. Hiện nay tình hình xuất khẩu của nước ta gặp nhiều
khó khăn, sản phẩm của Việt Nam kém sức cạnh tranh – giá cả cao hơn các nước
khác trong khu vực do trình độ, trang thiết bị lạc hậu chi phí quản lý cao .vv
15
Và một vấn đề rất quan trọng là cần khuyến khích tâm lý tiêu dùng hàng nội địa
“ Người Việt dùng hàng Việt” và khuyến khích chương trình hàng Việt về nông
thôn bởi vì khi người dân dùng hàng ngoại nhập thì không có tác động làm gia tăng
sản xuất trong nước , ngược lại làm cho sản xuất trong nước bị nhỏ hẹp lại và tất

2. PGS.TS. Vũ Anh Tuấn Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế.
Nxb TN, 2009
3. TS. Nguyễn Minh Tuấn Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế . Nxb
ĐHQG TP HCM, 2009.
4. Trang w.w.w:http\\: Cao học triết .com.vn
18
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status