NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
MỤC LỤC
Bài tập nhóm: Thị trường vốn
Đề tài: Phân tích triết lý đầu tư của Warren Buffet ( một nhà đầu tư huyền
thoại trên thị trường chứng khoán). Bài học rút ra từ triết lý này là gì? Liên hệ với
thực tiễn tại Việt Nam?
Lời mở đầu
Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCK VN) chính thức đi vào hoạt động
từ năm 2000, trải qua 11 năm hình thành và phát triển, TTCK đang dần được hoàn
thiện khung pháp lí hoạt động, và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của nền
kinh tế. TTCK đã góp phần minh bạch hóa môi trường hoạt động kinh doanh, trở
thành kênh huy động vốn dài hạn hiệu quả đối với những doanh nghiệp niêm yết,
hiện nay niêm yết trên sàn giao dịch trở thành mục tiêu chính của nhiều doanh
nghiệp, giúp nhà đầu tư có thêm một kênh đầu tư minh bạch và hiệu quả, đồng
thời thông qua hoạt động đầu tư trên TTCK, với động lực từ việc thu lợi nhuận và
giảm thiểu rủi ro nhà đầu tư sẽ không ngừng nỗ lực học hỏi, trang bị những kiến
thức mới và tiếp cận với những phương pháp đầu tư điển hình trên thế giới.
Tuy đã đi vào hoạt động trên 10 năm, nhưng TTCK VN chỉ hoạt động sôi
động và thu hút được sự quan tâm của công chúng đầu tư trong vòng vài năm trở
lại đây (từ năm 2006 đến nay). Phần lớn nhà đầu tư cá nhân vẫn còn thực hiện
mua bán cổ phiếu theo tin đồn, mang nặng tính cảm tính và kinh nghiệm. Trong
hai năm trở lại đây, sau đợt sụt giảm mạnh của thị trường vào năm 2008, số lượng
nhà đầu tư tìm hiểu về phân tích kỹ thuật tăng lên nhanh chóng và những sinh viên
ngành chứng khoán đã được trang bị đầy đủ kiến thức về phân tích cơ bản, phân
tích kỹ thuật cũng như tiếp cận được với các phương pháp đầu tư điển hình trên
TTCK thế giới.
Một trong những nhà đầu tư nổi tiếng nhất, với thành công vượt trội trong
lĩnh vực đầu tư chứng khoán đó là Warren Buffett. Ông hiện là người giàu thứ ba
thế giới và thứ hai tại nước Mỹ và đã tạo dựng khối tài sản khổng lồ của mình bằng
những hiểu biết trong lĩnh vực đầu tư vốn.
Page 1
- Sau khi lấy đầu tư làm sự nghiệp, Buffett xây dựng chiến lược đầu tư của riêng
mình. Buffett chịu ảnh hưởng lớn của Ben Graham, thầy cũ ở Đại học Columbia và
là đồng tác giả của tác phẩm kinh điển về đầu tư ''Phân tích chứng khoán'' năm
1934. Buffett phát triển những chiến lược đầu tư của Graham thêm một bước nữa
bằng cách chọn những cổ phiếu có tiềm năng nhưng giá khá rẻ, rồi nắm giữ chúng
trong thời gian dài Phương pháp này đòi hỏi phải đánh giá những tài sản vô hình
của công ty, như giá trị thương hiệu chẳng hạn. Về mặt này, Buffett đã đi trước
thời đại. Tài sản vô hình hiện nay là đề tài ngày càng được giới chuyên môn quan
tâm, nhưng vào thập niên 1950, chẳng mấy ai để ý tới.
- Từ năm 1957 đến 1966, công ty hợp danh đầu tư của Buffett đạt mức lợi nhuận
đáng nể là 1.156%, trong khi chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones chỉ tăng
122,9% trong cùng thời gian đó. Một khoản đầu tư 10.000 USD của một người hợp
danh sẽ sinh lợi thành 80.420 USD, sau khi trừ phần chia cho Buffett. Buffett tiếp
tục đạt hiệu quả cao hơn thị trường, có mức sinh lời 36% vào năm 1967 và 59%
vào năm 1968 trong một thị trường đầu cơ (vốn không hợp với chiến lược đầu tư
của Buffett).
- Từ năm 1969, Buffett tập trung hoàn toàn vào Công ty Đầu tư Berkshire
Hathaway. Thị trường lúc xuống lúc lên, nhưng Buffett luôn đạt kết quả ổn định
cho cổ đông của mình. Biệt tài của Buffett trong việc đầu tư cổ phiếu đã khiến ông
được mệnh danh là ''Nhà hiền triết xứ Ohama''. Một khoản đầu tư 10.000 USD vào
Berkshire Hathaway vào năm 1965 sẽ đáng giá hơn 50 triệu USD vào cuối năm
2000. Những ai đầu tư vào chỉ số S&P 500 cũng chỉ tích luỹ được khoảng 500.000
USD. Trong thời gian đó, Buffett đã chọn những cổ phiếu như Coca-Cola và
American Express khi chúng còn trong giai đoạn khốn khó. Trái lại, ông đã không
bị cuốn vào những đợt giá cổ phiếu bong bóng do báo chí khuyếch trương, chẳng
hạn như đợt bùng nổ cổ phiếu Internet cuối thập niên 1990.
Page 3
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
- Cho đến ngày nay, Warren Buffet không chỉ được coi là nhà đầu tư thành công
nhất thế giới, mà những bài học triết lý về đầu tư của ông đã giúp những nhà đầu tư
lớn trôi đi. Buffett nhận ra rằng ông sẽ chẳng đi đến đâu nếu làm theo cách này và
ông phải miễn cưỡng huy động tiền từ những người khác thông qua các đối tác đầu
tư để có nhiều vốn hơn. Buffett là một người nhút nhát và ông không thích quá
trình huy động vốn, đòi hỏi ông phải chìa tay xin tiền người khác. Nhưng ông cũng
nhận thấy rằng tiền của những người khác có thể giúp ông chơi một trò chơi mang
tên “ngửa thì tôi thắng, sấp thì thì tôi không thua”. Theo nguyên tắc của các đối tác
đầu tư ban đầu của ông, Buffett sẽ được hưởng nhiều phần trăm lãi nếu chọn lựa
tốt cổ phiếu và chỉ mất rất ít nếu những cổ phiếu ông mua bị mất giá. Khi mọi
người hỏi Buffett về sự đầu tư tồi nhất của ông, ông luôn nói rằng đó là khoản đầu
tư đầu tiên lúc ông mới 21 tuổi. Đó là vụ đầu tư kiểu “ngửa thì tôi thắng, sấp thì tôi
thua” theo đó ông đã mất hết mọi thứ ở ngay sân ga. Kể từ đó Warren Buffett
không dùng tiền riêng để đặt cược tất cả vào một vụ làm ăn nữa. Lôi kéo những “
người bạn phù hợp” để cùng làm ăn. Thay vì dùng tiền riêng để đặt cược tất cả
vào một vụ làm ăn ông đã lôi kéo những người thuộc ban giám đốc thường được
hưởng lợi từ mối quan hệ đối tác của ông để nắm giữ các cổ phiếu riêng lẻ. Buffett
lập ra các liên minh các nhà đầu tư lớn khác chịu sự dẫn dắt của ông khi ông yêu
cầu ban quản lý tiến hành các bước nhằm tăng giá cổ phiếu. Đôi lúc ban quản lý sẽ
mua quyền sở hữu các liên minh của Buffett, qua đó giúp Bufett và các đối tác trở
nên giàu có nhưng lại khiến các nhà đầu tư vào giá trị đơn lẻ rơi vào tình trạng ản
đạm. Buffett dựa trên bí quyết của mình để xác định các cơ hội nhưng chính bí
quyết chọn người đã giúp ông trở nên giàu có.
2. Quan điểm “Đầu tư theo giá trị thực”
- Hai hướng dẫn có tương quan với nhau về việc mua lại một doanh nghiệp đó là:
Giá trị của doanh nghiệp là gì? Liệu việc mua lại doanh nghiệp có được thực hiện
Page 5
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
ở mức giá có mức chiết khấu tốt tốt so với giá trị của nó?Tất cả các nguyên lí đó
nhằm hỗ trợ để đưa ra quyết định cuối cùng: Có nên mua cổ phiếu của một doanh
nghiệp hay không. Và quyết định này dựa trên hai yếu tố: đó có phải là một doanh
nghiệp có giá trị tốt hay không, và liệu đây có phải là thời điểm tốt để mua hay
nghiệp, đầu tiên chúng ta cần dự đoán tất cả các khoản thu nhập mà ta sẽ nhận
được trong suốt vòng đời của doanh nghiệp. Và sau đó chiết khấu với lãi suất chiết
khấu thích hợp về thời điểm hiện tại. (Chúng ta cần lưu ý đó là thu nhập mà WB đề
cập đó là thu nhập của người chủ sở hữu, đó là dòng tiền thuần đã điều chỉnh chi
phí tài chính đã được đề cập ở phần trên)
- WB tỏ ra kiên quyết đối với quan điểm chỉ tìm kiếm những doanh nghiệp có thu
nhập trong tương lai mà ông có thể dự đoán được, tương đối chắc chắn như thu
nhập của trái tức của trái phiếu. Nếu doanh nghiệp hoạt động với một mức thu
nhập ổn định trong nhiều năm, và hoạt động kinh doanh đơn giản và có thể hiểu
được, WB tin rằng ông có thể xác định thu nhập trong tương lai của doanh nghiệp
với một mức chắc chắn khá cao. Nếu không tự tin có thể dự đoán dòng tiền trong
tương lai của một doanh nghiệp, ông sẽ không nỗ lực định giá và đơn giản là sẽ bỏ
qua doanh nghiệp đó. “Để định giá một doanh nghiệp, lí tưởng nhất là bạn dự đoán
dòng tiền sẽ xảy ra từ nay đến ngày dự định trong tương lai, và chiết khấu chúng
về hiện tại bằng một lãi suất chiết khấu thích hợp. Đó là tất cả những gì về định giá
doanh nghiệp. Một phần của việc định giá đó là bạn tự tin đến đâu khi dự đoán
những dòng tiền này sẽ xảy ra. Một vài doanh nghiệp thì dễ dự đoán hơn những
doanh nghiệp khác. Chúng tôi cố tìm kiếm những doanh nghiệp có thể dự đoán
được” Trích từ báo cáo thường niên năm 1988 của Berkshire Hathaway. Đây là sự
khác biệt trong cách tiếp cận của WB, mặc dầu ông thừa nhận Microsoft là một
doanh nghiệp năng động, và ông đánh giá rất cao Bill Gates với vai trò là nhà điều
hành, WB thừa nhận là ông không có manh mối để xác định dòng tiền trong tương
lai của doanh nghiệp này. Đây là những gì ông gọi là vòng tròn khả năng, ông
Page 7
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
không hiểu biết lĩnh vực công nghệ đủ để xác định dòng thu nhập trong dài hạn của
doanh nghiệp.
- Để ước tính thu nhập trong tương lai chúng ta cần sử dụng tất cả những thông tin
mà ta đã tìm hiểu được về doanh nghiệp như những đặc điểm kinh doanh, tình
trạng tài chính, phẩm chất của Ban lãnh đạo, và sử dụng các nguyên tắc phân tích
“margin of safety” của Graham. Cho đến tận ngày nay, đây vẫn là nguyên tắc đầu
tư của ông, dù Charlie Munger luôn khuyến khích ông hướng đến những doanh
nghiệp triển vọng. Thông thường những cơ hội đầu tư lớn thường xuất hiện khi
những doanh nghiệp tuyệt vời bị bao phủ bởi những thông tin bất thường và là
nguyên nhân khiến cổ phiếu bị định giá sai.
3. Nguyên tắc “Không quan tâm”
- Khi nghĩ về một chuyên gia chứng khoán, mọi người sẽ hình dung về những hình
ảnh được mô tả qua các bộ phim như: nói cùng lúc vào hai điện thoại, ghi chú điên
cuồng trong khi vẫn giữ một mắt trên màn hình vi tính quan sát những diễn biến
liên tục của giá cổ phiếu, vò đầu bức tóc khi màn hình hiện lên sự giảm giá của cổ
phiếu dù rất nhỏ. WB khác xa những hình ảnh điên cuồng đó. Ông hành động một
cách bình tĩnh, với sự tự tin rất lớn. Ông không cần nhìn một tá màn hình cùng một
lúc, sự thay đổi liên tục trên thị trường cũng chẳng làm ông quan tâm. WB không
suy nghĩ về từng phút, từng ngày, từng tháng mà nhiều năm. Ông không cần phải
theo dõi hàng trăm doanh nghiệp vì ông chỉ lựa chọn đầu tư vào một số ít doanh
nghiệp có triển vọng thành công trong dài hạn. Cách tiếp cận này gọi là đầu tư tập
trung, giúp đơn giản hóa nhiệm vụ quản lí danh mục.
- Với chiến lược đầu tư nói trên Warren Buffett không quan tâm nhiều đến sự lên
xuống của giá cả thị trường chứng khoán cũng như chu kỳ kinh tế. Nói đúng hơn
ông chỉ quan tâm đến việc lên xuống giá khi ông chọn thời điểm mua. Khi đã mua
rồi, ông không quan tâm đến sự lên xuống của giá nữa.
Page 9
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
- Một điểm nữa khá đặc biệt là ông vẫn đánh giá cao việc đa dạng hóa danh mục đầu
tư, tuy nhiên với những nhà đầu tư biết mình đang đầu tư vào đâu và khá chắc chắc
về doanh nghiệp mình đầu tư thì việc đa dạng hóa danh mục đầu tư không còn
quan trọng. Nhiều nhà đầu tư đã nghiên cứu và thực hiện thành công các phương
pháp đa dạng hóa danh mục đầu tư tức là chọn nhiều cổ phiếu của các công ty khác
nhau, ngành khác nhau có tác dụng bổ sung, tương hỗ nhằm đạt được lợi nhuận
cao nhất có thể trong khi giảm rủi ro đến mức thấp nhất. Warren Buffett không
bạn nên luôn quan tâm sâu sắc đến tình trạng của các doanh nghiệp trong danh
mục của bạn. Có những lúc bạn cần phải quyết định bán ra và mua vào để hoàn
thiện danh mục.
- Theo lí thuyết về quản lí danh mục hiện đại, tính không ổn định của giá cổ phiếu
được coi là rủi ro. Tuy nhiên trong sự nghiệp của mình, WB nhận thấy rằng cổ
phiếu giảm giá là cơ hội để kiếm tiền. Trong suy nghĩ của ông, giá giảm sẽ làm
giảm rủi ro. WB có một định nghĩa khác về rủi ro đó là: khả năng gây thiệt hại. Và
đó là vấn đề về giá trị nội tại của doanh nghiệp, chứ không phải sự thay đổi của giá
cổ phiếu. Thiệt hại về tài chính đến từ việc đánh giá sai về lợi nhuận trong tương
lai của doanh nghiệp, cộng với việc không thể kiểm soát và dự đoán tác động của
thuế và lạm phát.
4. Chọn thời điểm mua hợp lý
- Warren Buffett không bao giờ vội vã mua những cổ phiếu có biên độ an toàn
không rõ ràng. Thường thì ông chờ và ra quyết định mua khi thị trường vào giai
đoạn điều chỉnh, hay khi thị trường đi xuống, đặc biệt là khi thị trường sợ hãi, lúc
đó sự sợ hãi ảnh hưởng đến mọi cổ phiếu. Ông đã từng nói: “Hãy sợ hãi khi những
người khác tham lam. Hãy tham lam khi những người khác sợ hãi.” Vì khi đó ông
sẽ mua được cổ phiếu của công ty được thị trường định giá thấp, thị giá thấp hơn
giá trị nội tại.
- Vị tỷ phú này nổi tiếng với việc mua được cổ phiếu thuộc hàng bluechip khi các
công ty đó gặp khó khăn tạm thời. Tiêu biểu nhất có thể kể đến cổ phiếu Coca-
Page 11
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
Cola trong những năm 1980 khi thứ đồ uống có tên New Coke mà công ty này cho
ra mắt bị thị trường chối bỏ.
- Vào năm 1964, Warren Buffett đã mua một loạt cổ phiếu của công ty American
Express sau khi cổ phiếu của công ty này bị giảm giá nghiêm trong bê bối về dầu
khí. Tuy nhiên, sau đó, theo thời báo 24/7 Wall St, thương vụ này đã mang về cho
ông tới 3,7 tỷ USD
- Cuộc khủng hoảng tài chính, bắt đầu từ sự sụp đổ của ngân hàng Mỹ Lehman
"phồng to" với hàng loạt khoản đầu tư trị giá hàng chục tỷ USD được đổ vào lĩnh
vực này. Được "bơm phồng" bởi các nhà đầu tư và sự kỳ vọng quá đáng của thị
trường nên chỉ cần một tác động nho nhỏ sẽ khiến nó "phát nổ" . Đạt đỉnh cao vào
đầu năm 2000 với hơn 5000 điểm nhưng chỉ đến cuối năm, chỉ số NASDAQ đã
giảm tới 50%. Thậm chí, vào cuối năm 2002, chỉ số này còn xuống rất sát mốc
1000 điểm.
Chỉ số tổng hợp NASDAQ trong thời kỳ bong bóng Dot-com
- Nhiệm vụ của nhà đầu tư giá trị theo phong cách Warren Buffett là phải xác định
cho được cổ phiếu tốt có thị giá thấp hơn giá trị nội tại. Điều quan trọng chúng ta
cần phải nhớ là cổ phiếu tốt nhưng giá không hời, và cổ phiếu giá hời nhưng "chất
Page 13
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
lượng" không tốt thì không phải là đối tượng đầu tư tốt. Chỉ có cổ phiếu tốt, giá hời
mới là đối tượng đầu tư đúng theo chiến lược đầu tư giá trị.
- Một ví dụ về giá trị cổ phiếu cao hơn giá trị nội tại của nó: Cổ phiếu MWG - Công
ty CP đầu tư Thế giới di động có lẽ là trường hợp gây ngạc nhiên, sửng sốt nhất
cho giới đầu tư. Vừa chào sàn hôm 14/7/2014 với giá chỉ 65.000 đồng/cổ phiếu,
nhưng cổ phiếu này đã lập tức gây "sốt" khi tăng hết biên độ (+/-20%), đạt mức
81.500 đồng/cổ phiếu trong phiên giao dịch đầu tiên. Kể từ đó đến nay, chỉ chừng
2 tháng, giá cổ phiếu MWG đã tăng trần liên tục với tổng mức tăng tới 114,7%, đạt
mức giá kỷ lục 175.000 đồng/cổ phiếu (sau 48 phiên giao dịch). Mức giá MWG
này được cho là rất cao và cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay những mã cổ phiếu đạt
mức giá trên 100.000 đồng/cổ phiếu trong khoảng gần 700 mã cổ phiếu niêm yết
trên TTCK Việt Nam. Kết thúc phiên giao dịch ngày 23/9, cổ phiếu MWG giảm
nhẹ 0,57%, đóng cửa ở mức giá 174.000 đồng/cổ phiếu.
- So với cổ phiếu trong ngành kinh doanh thiết bị công nghệ, Thế giới di động
dường như đang "lấn lướt" DN lâu năm. Với 62,71 triệu cổ phiếu lưu hành, giá trị
vốn hóa của MWG đạt 10.913 tỷ đồng, vượt xa mức vốn điều lệ khiêm tốn (627,2
tỷ đồng tính đến 30/6/2014).
- Các chỉ số tài chính của MWG hiện cũng rất sáng sủa, cụ thể: doanh thu 7 tháng
doanh nghiệp. Họ mua bán cổ phiếu giống như đánh bài. Không có sự khác biệt
căn bản giữa việc mua doanh nghiệp và mua cổ phiếu phổ thông, cả hai cách trên
đều giúp WB trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp và nó đòi hỏi kỷ luật hành
động giống nhau. Tuy nhiên việc sở hữu doanh nghiệp vẫn được WB ưa thích hơn,
do nó cho phép ông tác động đến một vấn đề quan trọng trong kinh doanh, đó là
phân bổ nguồn vốn.
- Trong cả hai trường hợp trên WB có chung một chiến lược: ông tìm kiếm những
doanh nghiệp mà ông có thể hiểu được hoạt động kinh doanh của nó, có lịch sử lợi
nhuận ổn định, có triển vọng phát triển trong dài hạn, có thu nhập trên vốn chủ sở
Page 15
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
hữu tốt, sử dụng ít nợ, được điều hành bởi những người chân thật, thành thạo trong
công việc, và quan trọng là sẵn sàng bán ở mức giá hấp dẫn. Phương pháp định
hướng sở hữu doanh nghiệp khi nhìn vào tiềm năng của một khoản đầu tư là nền
tảng cho phương pháp tiếp cận đầu tư của WB. WB từng nói: “Tôi là nhà đầu tư tốt
hơn bởi vì tôi là một nhà kinh doanh, và tôi là một nhà kinh doanh tốt hơn bởi vì
tôi là một nhà đầu tư”.
- Khi muốn mua một cổ phiếu mới, WB sẽ tiến hành phân tích toàn bộ hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Ông xem bản thân là những người phân tích doanh
nghiệp không phải là nhà phân tích thị trường, không phải là nhà phân tích vĩ mô
và thậm chí không phải là nhà phân tích chứng khoán. Ông không suy nghĩ dựa
trên những lý thuyết về thị trường, những phân tích vĩ mô, hay khuynh hướng
nghành. Ông chỉ ra quyết định đầu tư dựa trên hoạt động của doanh nghiệp. Ông
tin rằng nếu một người lựa chọn đầu tư chỉ vì những yếu tố bề ngoài thay vì nền
tảng kinh doanh của doanh nghiệp, thì người này sẽ sợ hãi và rời bỏ doanh nghiệp
khi những dấu hiệu khó khăn đầu tiên xuất hiện và phần lớn những người này sẽ
thua lỗ trong vòng luẩn quẩn này. WB tập trung tìm hiểu doanh nghiệp mà ông
quan tâm, tập trung vào ba vấn đề sau:
• Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đơn giản và hiểu được hay không?
• Hoạt động kinh doanh có lịch sử hoạt động ổn định không?
trước đó. Vì ông cho rằng việc thay đổi hoàn toàn và lợi nhuận khả quan thường
không đi kèm với nhau.
- Triển vọng thành công trong dài hạn: Đó thường là những doanh nghiệp có lợi thế
cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong cùng ngành, và có khả năng duy trì lợi
thế đó trong dài hạn. Dưới đây chúng ta sẽ gọi tắt là những doanh nghiệp có lợi thế
cạnh tranh bền vững. WB cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh
bền vững thường là những doanh nghiệp mang đặc tính của một Franchise (các
doanh nghiệp được độc quyền kinh doanh một sản phẩm hay dịch vụ trong một
Page 17
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
khu vực địa lí nào đó). Ông ví lợi thế cạnh tranh giống như một cái hào bao quanh
một tòa lâu đài, và tốt nhất đó là một tòa lâu đài lớn có một con hào lớn bao quanh
với cá sấu và cá piranha trong đó. Ngược lại, những doanh nghiệp không có lợi thế
kinh doanh thường có lợi nhuận thấp và là những ứng cử viên chính cho vấn đề về
lợi nhuận. Do sản phẩm của các doanh nghiệp này không có gì khác biệt so với các
doanh nghiệp khác, và thường phải cạnh tranh dựa trên giá cả, việc giảm giá là
nguyên nhân làm giảm lợi nhuận.
Chương II: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam
Để duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế bền vững, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu
kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đòi hỏi phải có nguồn vốn
lớn cho đầu tư phát triển. Việc xây dựng và phát triển TTCK ở VN đã trở thành
nhu cầu bức xúc và cấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung, dài hạn ở trong
và ngoài nước vào đầu tư phát triển kinh tế thông qua chứng khoán nợ và chứng
khoán vốn.
Bên cạnh đó, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước cùng với sự hình
thành và phát triển của TTCK sẽ tạo môi trường hoạt động ngày càng công khai,
minh bạch và lành mạnh hơn cho hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam.
I. Giới thiệu thị trường chứng khoán Việt Nam
- Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) chính thức đi vào hoạt động vào
năm 2000 với việc vận hành sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM vào
mọi hoạt động trên TTCK theo thông lệ quốc tế; một số quy định của văn bản
hướng dẫn Luật Chứng khoán còn chồng chéo, chưa thống nhất với các văn bản
Page 19
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
pháp luật khác; việc ban hành các quy định pháp lý nhìn chung đều có độ trễ so với
mục tiêu đề ra, đồng thời, nhiều quy định tại Luật Chứng khoán chưa được hướng
dẫn thực hiện,…
Hình 2.1: Tổng giá trị vốn hóa (2004 – 30/06/2014)
Giá trị vốn hóa thị trường tính đến ngày 30/6/2014 đạt 1.019.500 tỷ đồng (hơn 1
triệu tỷ đồng).
Hình 2.2: Tăng trưởng VN INDEX (2000 – 30/06/2014)
VN-Index đạt đỉnh 1.170 điểm vào ngày 12/3/2007 và sau 7 năm, chỉ số này đang
giao dịch ở mức gần 600 điểm
Page 20
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
Hình 2.3: Giao dịch đến 30/06/2014
Đã có hơn 3.300 phiên giao dịch thực hiện với 82,9 tỷ chứng khoán được chuyển
nhượng
Hình 2.4: Tăng trưởng khối lượng và giá trị giao dịch
Tại thời điểm 30/6/2014, GTGD bình quân/ngày đạt 1.977.047 triệu đồng, GTGD
nhà ĐTNN đạt 250.596 triệu đồng.
Hình 2.5: Tăng trưởng tài khoản giao dịch
Page 21
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN
Số tài khoản giao dịch tại HoSE liên tục tăng qua các năm, hiện đạt hơn 1,37 triệu
tài khoản
Hình 2.6: Số lượng công ty niêm yết
Hình 2.7: Khối lượng cổ phiếu niêm yết
Page 22
NHÓM III THỊ TRƯỜNG VỐN