Nội dung chính sách cổ tức của công ty cổ phần, tác động của các hình thức chi trả cổ tức đến giá cổ phiếu và tình hình tài chính doanh nghiệp. liên hệ với thực tiễn ở một doanh nghiệp - Pdf 31

Đề tài: Nội dung chính sách cổ tức của công ty cổ phần, tác động của các hình thức chi
trả cổ tức đến giá cổ phiếu và tình hình tài chính doanh nghiệp. Liên hệ với thực tiễn ở
một doanh nghiệp.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
CÁC HÌNH THỨC CHI TRẢ CỔ TỨC ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU VÀ TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN.
I. Các hình thức chi trả cổ tức của công ty cổ phần
1. Khái niệm và các hình thức chi trả cổ tức
1.1 Khái niệm cổ tức
Cổ tức được hiểu là phần lợi nhuận sau thuế của công ty dùng để chi trả cho các cổ
đông tính theo mỗi cổ phần.
Việc chi trả cổ tức hay không, tỷ lệ và hình thức chi trả cổ tức như thế nào hoàn toàn
phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh, chính sách cổ tức của công ty và do đại hội
đồng của công ty quyết định.
1.2. Các hình thức chi trả cổ tức:
Cổ tức thường được trả theo các kì hạn ấn định trước, có thể theo tháng, quý, sáu tháng
hoặc một năm. Thông thường, có 3 phương thức chi trả cổ tức cơ bản là: trả cổ tức bằng
tiền mặt, trả cổ tức bằng cổ phiếu, và trả cổ tức bằng tài sản khác. Trong đó, hai phương
thức đầu là phổ biến nhất.

• Trả cổ tức bằng tiền

Hầu hết cổ tức được trả dưới dạng tiền mặt. Cổ tức tiền mặt được
trả tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm mệnh
giá. Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài
sản và giảm vốn lợi nhuận, nghĩa là làm giảm vốn cổ phần cổ
đông.
• Trả cổ tức bằng cổ phiếu
Việc trả cổ tức bằng tiền mặt có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thanh toán và nhu
cầu đầu tư của công ty. Vì vậy, trong một số trường hợp, công ty có thể tiến hành trả cổ
tức bằng cổ phiếu. Trả cổ tức bằng cổ phiếu thực chất là việc phân bổ theo tỷ lệ các cổ

tức của mình thông qua tài khoản lưu kí của cổ đông hoặc tại trụ sở của công ty.
II. Tác động của việc chi trả cổ tức đến giá cổ phiếu và tình hình tài chính doanh
nghiệp
1. Trả cổ tức bằng tiền
Trong điều kiện thị trường không hoàn hảo, việc trả cổ tức bằng tiền sẽ có những
tác động nhất định đến giá trị của công ty, cũng như giá cổ phiếu của công ty trên thị
trường. Về mặt lí thuyết thì giá của cổ phiếu được xác định bằng tổng giá trị hiện tại của
các khoản thu nhập trong tương lai do cổ phiếu mang lại cho nhà đầu tư ( thu nhập từ cổ
tức và thu nhập lãi vốn).
Ta có công thức:

Page 2


Trong đó: Po là giá cổ phiếu ở thời điểm hiện tại
Dt là cổ tức dự kiến nhận được ở cuối năm thứ t
r: tỷ suất lợi nhuận đòi hỏi của nhà đầu tư
Pn: giá bán cổ phiếu ở cuối năm thứ n
Từ công thức trên có thể thấy, với mức tỷ suất lợi nhuận xác định mức cổ tức dự
tính trong tương lai có quan hệ trực tiếp tới giá cổ phiếu. Tuy nhiên, trả cổ tức cao không
có phải luôn đi cùng với giá cổ phiếu tăng cao trên thị trường, nó còn phụ thuộc vào cách
tiếp cận của nhà đầu tư khi ra quyết địn mua cổ phiếu. Có nhà đầu tư mong muốn nhận
được các khoản cổ tức đều đặn hàng năm, có nhà đầu tư lại hy vọng nhận được thu nhập
lãi vốn (chênh lệch giá bán ra và giá mua vào cổ phiếu). Viêc chi trả cổ tức bằng tiền mặt
sẽ làm ảnh hưởng tới phần lợi nhuận giữ lại để đầu tư. Nếu phần lợi nhuận giữ lại được
đầu tư có hiệu quả sẽ đảm bảo cho sự tăng trưởng lâu dài của công ty, từ đó sẽ tạo niềm
tin tăng giá cổ phiếu trong tương lai. Khi mức độ trả cổ tức bằng tiền tăng qua các năm sẽ
có tác dụng tích cực tới tâm lý nhà đầu tư, nâng cao uy tín của doanh nghiệp và giá cổ
phiếu có thể tăng.
Tác động tới tình hình tài chính doanh nghiệp: việc chi trả cổ tức bằng tiền sẽ làm

* Các quy định pháp lí về việc trả cổ tức
Các quy định pháp lý về việc trả cổ tức là các cơ sở ban đầu cho quyết định chính
sách và hoạt động chi trả cổ tức của mỗi doanh nghiệp. Một số nguyên tắc quan trọng về
việc trả cổ tức của công ty: nguyên tắc lợi nhuận ròng, nguyên tắc tài chính lành mạnh,
nguyên tắc lập quỹ dự trữ.
*Xu thế vận động của nền kinh tế
Xu thế vận động của nền kinh tế: nếu nền kinh tế suy thoái, lãi suất thị trường sụt
giảm, có ít cơ hội đầu tư. Nếu có nhu cầu về vốn, công ty dễ dàng vay vốn với lãi suất
thấp và có thể dành phần lớn lợi nhuận sau thuế để trả cổ tức. Trong nền kinh tế tăng
trưởng nhanh, có nhiều cơ hội đầu tư, nguồn vốn khan hiếm, lãi suất thị trường tăng cao,
công ty phải tăng lượng giữ lại để đáp ứng nhu cầu đầu tư và sẽ làm giảm phần chi trả cổ
tức.
* Chi phí phát hành chứng khoán
Chi phí phát hành chứng khoán: việc phát hành chứng khoán thường được thực hiện
bởi các tổ chức bảo lãnh phát hành chuyên nghiệp, tất yếu sẽ nảy sinh chi phí phát hành.
Nếu chi phí phát hành cao, công ty sẽ quyết định tăng phần giữ lại để tái đầu tư và ngược
lại
* Tâm lí của nhà đầu tư
Tâm lý của nhà đầu tư: những người đã về hưu có xu hướng muốn nhận thu nhập
ổn định nên luôn muốn công ty trả cổ tức cao, đều đặn. Ngược lại, những nhà đầu tư trẻ
thường ưa mạo hiểm, có thể hy sinh khoản thu nhập từ cổ tức để công ty có thể giữ lại lợi
nhuận sau thuế để đầu tư.
*Vị trí của các cổ đông trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân
Vị trí của các cổ đông trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân:
khi công ty do một số đại cổ đông nắm giữ, họ thường muốn chia cổ tức với tỷ lệ thấp để
tránh phải nộp thuế thu nhập cá nhân với mức cao và ngược lại.
2. Các nhân tố chủ quan
* Cơ hội đầu tư
Cơ hội đầu tư: công ty có những cơ hội đầu tư hứa hẹn khả năng sinh lợi cao
Page 4

Chu kỳ sống của doanh nghiệp: chu kỳ sống của một DN nói chung trải qua 4 giai
đoạn: ra đời, phát triển, hoàn thiện và suy thoái. Trong mỗi giai đoạn, công ty phải thiết
lập chính sách tài chính cụ thể (đã bao gồm chính sách cổ tức). Ví dụ: trong giai đoạn
công ty mới thành lập, sản phẩm chưa chiếm lĩnh được thị trường, uy tín chưa cao, khả
năng huy động vốn khó khăn công ty cần giữ lại phần lớn lợi nhuận sau thuế để tái đầu
tư.
Page 5


IV. Chính sách cổ tức của công ty cổ phần
1. Vai trò của chính sách cổ tức
- là công cụ đảm bảo lợi ích cho cổ đông Đại bộ phận cổ đông đầu tư vào công ty
đều mong đợi được trả cổ tức do vậy, chính sách phân chia cổ tức ảnh hưởng trực tiếp
đến thu nhập của các cổ đông. Mặt khác,việc công ty duy trì trả cổ tức ổn định hay không
ổn định,dều đặn hay dao động thất thường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động giá trị
cổ phiếu của công ty trên thị trường chứng khoán.
- là công cụ tác động đến sự tăng trưởng và phát triển của công ty: Chính sách cổ
tức lien quan tới việc xác định lượng tiền mặt dung trả cổ tức cho các cổ đông. Vì vậy,nó
có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách tài trợ và chính sách đầu tư của công ty. Việc phân
chia lợi tức cổ phần quyết định số lợi nhuận lưu giữ nhiều hay it, điều này ảnh hưởng tới
nguồn vốn bên trong tài trợ cho các nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty
trong tương lai. Mặt khác,việc trả cổ tức sẽ làm giảm lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư,vì vậy
sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài của công ty.
2. Các chính sách cổ tức thông dụng
2.1 Chính sách ổn định cổ tức
- Được xây dựng trên cơ sở lý thuyết ổn định cổ tức: Theo đó, công ty duy trì trả
cổ tức đều đặn qua các năm với biến động nhỏ
- Công ty chỉ thực hiện chi trả cổ tức ở mức cao hơn khi công ty có thể đạt được sự
gia tăng lợi nhuận một cách vững chắc, đủ khả năng cho phép tăng cổ tức; đồng thời,khi
đã tăng cổ tức thì sẽ cố gắng duy trì cổ tức ở mức đã định cho tới khi công ty thấy rõ

2007.
Ban đầu, FPT là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
xuất nhập khẩu các lương thực thực phẩm, chế biến lương thực thực phẩm (chữ gốc
FPT ban đầu có nghĩa là Food Processing Technology - Chế biến Thực phẩm, sau này
(năm 1990) được đổi thành Financing Promoting Technology - Công ty Đầu tư và
Phát triển Công nghệ).
Ngày 8 tháng 9 năm 2006, Chính phủ Việt Nam ký quyết định thành lập trường Đại
học FPT trực thuộc Tập đoàn FPT.
Ngày 24 tháng 10 năm 2006, FPT đã công bố quyết định phát hành thêm cổ phiếu cho
hai nhà đầu tư chiến lược là Quỹ đầu tư Texas Pacific Group (TPG) và Intel Capital.
Ngày 18 tháng 11 năm 2006, Tập đoàn Microsoft và tập đoàn FPT ký thoả thuận
liên minh chiến lược.
Ngày 19 tháng 12 năm 2008, Tập đoàn FPT công bố được chấp thuận đổi tên từ "Công ty
Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT" thành "Công ty Cổ phần FPT" viết tắt là
"FPT Corporation".
Công ty đặt trụ sở chính tại Hà Nội hiện có 9 công ty thành viên và 3 công ty liên kết.
FPT đang làm chủ công nghệ trên tất cả các hướng phát triển của mình với các chứng chỉ
ISO cho tất cả các lĩnh vực hoạt động, CMMi cho phát triển phần mềm.
Bên cạnh đó, FPT cũng đang sở hữu trên 1,000 chứng chỉ công nghệ cấp quốc tế của các
đối tác công nghệ hàng đầu thế giới.
Năm 2003, FPT đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất.
2. Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của FPT

Chức năng và nhiệm vụ cơ bản của FPT là phát triển hạ tầng và cung cấp dịch vụ
điện tử cho các tổ chức và người tiêu dùng trong và ngoài nước, tập trung vào các lĩnh

Page 7


vực kinh doanh cốt lõi là tích hợp hệ thống, xuất khẩu phần mềm, viễn thông, phân phối


trên mỗi cổ phiếu được nhận, ngày đăng ký cuối cùng( ngày khóa sổ), ngày không hưởng
cổ tức, ngày trả cổ tức và phương thức thanh toán.
Ngày xác lập quyền hưởng cổ tức: FPT công bố ngày cuối cùng được hưởng cổ tức.

Ngày khóa sổ: FPT sẽ lập danh sách các cổ đông hiện hành của công ty có quyền được
nhận cổ tức của đợt chi trả.

Ngày chi trả cổ tức: FPT thực hiện chuyển trả cổ tức cho các cổ đông.
Theo điều lệ của công ty thì:
Cổ tức hay những khoản tiền khác liên quan đến một cổ phiếu nếu được chi trả
bằng tiền mặt sẽ được thực hiện bằng đồng Việt Nam và có thể được thanh toán
bằng séc hoặc lệnh trả tiền gửi qua bưu điện tới địa chỉ đã đăng kí của cổ đông thụ
hưởng và nếu có rủi ro phát sinh thì cổ đông đó phải chịu. Ngoài ra mọi khoản cổ
tức hoặc các khoản tiền khác được chi trả bằng tiền mặt liên quan tới một cổ phiếu
có thể thực hiện bằng chuyển khoản ngân hàng khi công ty đã có thông tin chi tiết
về ngân hàng của cổ đông nhằm cho phép công ty thực hiện được việc chuyển
khoản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của cổ đông. Việc thanh toán cổ tức đối
với các cổ phiếu niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán có thể được tiến
hành thông qua Công ty chứng khoán hoặc trung tâm lưu ký.
2 . Thực trạng hoạt động chi trả cổ tức của công ty từ năm 2007-2011
Lịch sử trả cổ tức và chia thưởng:
27/09/2011: Cổ tức bằng Tiền, tỷ lệ 10%
- 05/08/2011: Phát hành cho CBCNV 397,950
- 05/05/2011: Cổ tức bằng Tiền, tỷ lệ 5%
- 09/09/2010: Phát hành cho CBCNV 772,060
- 12/08/2010: Phát hành cho CBCNV 291,435
- 11/08/2010: Cổ tức bằng Tiền, tỷ lệ 10%
- 11/05/2010: Cổ tức bằng Cổ phiếu, tỷ lệ 3:1
- 18/03/2010: Phát hành cho CBCNV 1,718,909


Page 10


- Tỷ lệ thực hiện: 10% trên mệnh giá (tương ứng với 1000 đ/cp)
- Hình thức chi trả: Tiền mặt
- Ngày giao dịch không hưởng quyền: 28/07/2008
- Ngày đăng ký cuối cùng: 30/07/2008
- Thời gian chi trả cổ tức: 22/08/2008
Giá cổ phiếu tại một số thời điểm:
Ngày 28/ 7/2008: giá 71.000đ/cp; KL: 164.670
Ngày 30/7/2008: giá 65.500đ/cp; KL: 610.540
Ngày 22/8/2008: giá 101.000đ/cp; KL: 87.220
Từ đồ thị trên, có thể thấy: trước khi có thông tin trả cổ tức, giá cổ phiếu chỉ dao động
quanh mức 60.000đ/cp. Và dưới tác động của việc trả cổ tức bằng tiền mặt với tỷ lệ 10%
mệnh giá, giá cổ phiếu FPT đã tăng mạnh tuy sau đó có sự sụt giảm nhưng giá cổ phiếu
sau khi hoàn thành chi trả cổ tức vần dao động quanh ngưỡng giá cao hơn (khoảng
90.000đ/cp). Sau khi có thông tin chi trả cổ tức bằng tiền mặt thì nhiều người muốn mua
cổ phiếu để hưởng cổ tức bằng tiền là do khủng hoảng tài chính toàn cầu ảnh hưởng tới
Việt Nam gây ra lạm phát, cụ thể lạm phát của Việt Nam trong tháng 5 lên tới 25%, do
vậy cổ đông muốn năm giữ tiền hơn cổ phiếu nên cầu cổ phiếu tăng dẫn đến giá tăng.
Sau khi chi trả cổ tức, giá cổ phiếu tăng vọt là do FPT công bố thông tin rằng FPT không
bị ảnh hưởng nhiều bởi những biến động chung về kinh tế, tài chính Việt Nam. Mặt khác,
niềm tin nhà đầu tư được khôi phục từ dấu hiệu kinh tế vĩ mô có chuyển biến tích cực vì
vậy tạo niềm tin cho nhà đầu tư đầu tư vào loại cổ phiếu này, do đó cầu cổ phiếu tăng,
cung không đổi dẫn đến giá tăng.

• Trả cổ tức đợt 2- 2008:

Page 11

Ngày 8/6/2009 giá 77.500 đ KL: 319.760 cp

Page 12


Ngày 26/6/2009 giá 73.500 đ KL: 549.500 cp

Từ biểu đồ trên có thể thấy: Trước ngày 4/6/2009, giá cổ phiếu dao động quanh mức
65.000đ/cp, với việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt của FPT đã đẩy giá cổ phiếu lên giao
động quanh mức cao hơn, khoảng 70.000đ/cp.
Do tập đoàn đã có những bước khởi sắc nhất định. Kết thúc sáu tháng đầu năm 2009, Tập
đoàn FPT cũng đã đạt được những kết quả kinh doanh đầy khả quan. Doanh thu toàn tập
đoàn quý II đạt gần 4.294 tỷ VND, nâng tổng doanh thu của 6 tháng đầu năm lên 8.223 tỷ
VND và đạt 114,08% so với kế hoạch. Lãi trước thuế 6 tháng đầu năm tăng trưởng
24,7% so với cùng kỳ năm 2008; vượt 32,92% kế hoạch đề ra và đạt gần 787 tỷ đồng. Lãi
sau thuế cổ đông công ty mẹ tăng so với cùng kỳ năm 2008 là 16,4% và đạt trên 451 tỷ
đồng. Lãi cơ bản trên cổ phiếu bình quân đạt 3.203 đồng trên một cổ phiếu và tăng 15,3%
so với cùng kỳ năm 2008.
Đạt được kết quả như vậy là do Tập đoàn FPT đang nỗ lực tái cơ cấu hoạt động của các
công ty thành viên và hệ thống nhân sự để nhằm xây dựng một FPT gắn kết, tăng trưởng
và bền vững hơn ngoài ra tập đoàn tái cấu trúc tập đoàn bằng cách tập trung vào 2 mảng
hoạt động chính quản trị doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp, ngành nghề
hinh doanh chủ chốt của FPT là viễn thông, công nghiệp nội dung, dịch vụ công nghệ
thông tin.
• Trả cổ tức đợt 2 - 2009
Ngày 1/12/2009, hội đồng quản trị công ty cổ phần FPT đã họp và thông qua kế
hoạch trả cổ tức đợt 2/2009 cho cổ đông thường với tỷ lệ chi trả 15%/mệnh giá (1.500
VNĐ/cổ phần) và dự kiến thực hiện trước ngày 31/12/2009.
Ngày 4/12/2009, công ty thông báo tới các cổ đông thường về việc trả cổ tức đợt
2/ 2009 theo đó Ngày giao dịch không hưởng quyền: 14/12/2009


- Ngày đăng ký cuối cùng: 13/05/2010
- Mục đích: Trả cổ tức bằng cổ phiếu từ lợi nhuận năm 2009
- Tỷ lệ thực hiện: 3:1 (vào ngày đăng ký cuối cùng, mỗi cổ đông sở hữu 03 cổ
phần sẽ được nhận thêm 01 cổ phần mới). Số cổ phần mới sẽ được làm tròn đến hàng đơn
vị, phần lẻ thập phân phát sinh (nếu có) sẽ bị hủy bỏ.
- Số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành thêm: 47.846.322 cổ phiếu.
- Quyền nhận cổ tức bằng cổ phiếu không được chuyển nhượng.
- Số cổ phiếu phát hành thêm để trả cổ tức sẽ không bị hạn chế chuyển nhượng.
- Thời gian thực hiện giao dịch dự kiến: 13/06/2010
Giá cổ phiếu tại một số thời điểm:

Ngày 28/4/2010: giá 88.500đ/cp KL: 156.830cp
Ngày 11/5/2010: giá 64.000đ/cp KL: 155.980cp
Ngày 13/5/2010: giá 63.500đ/cp KL: 91.730cp
Ngày 14/6/2010: giá 68.500đ/cp Kl: 222.930cp
Từ đồ thị trên ta thấy: trong tháng 4, giá cổ phiếu FPT dao động quanh mức 87.000đ/ cp,
phản ứng trước thông tin CTCP FPT trả cổ tức bằng cổ phiếu thường, giá chứng khoán
FPT đã sụt giảm mạnh trong tháng 5( thấp nhất là 59.000đ/cp) vì trả cổ tức bằng cổ phiếu
gây hiệu ứng pha loãng cổ phiếu, cung cổ phiếu tăng.
• Tạm ứng cổ tức 6 tháng đầu năm 2010:
Ngày 22/7/2010, Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần FPT đã họp và thông qua
phương án tạm ứng cổ tức 06 tháng đầu năm với mức tạm ứng cổ tức 06 tháng đầu năm:
10% trên mệnh giá (1.000 VNĐ/01 cổ phần) và thời gian thực hiện dự kiến: Không muộn
hơn tháng 09/2010.
Ngày 6/8/2010: Thông báo về ngày đăng ký cuối cùng tạm ứng cổ tức 06 tháng
Page 15


đầu năm 2010

Ngày đăng kí cuối cùng:31/12/2010
Thời gian chi trả cổ tức: ngày 28/11/2010: giá 71.000 đ/cp, khối lượng:
800.052 cổ phiếu.

Từ đồ thị trên ta thấy: giá cổ phiếu FPT trong tháng 10 khoảng 72.000đ/cp; giá
thấp nhất trong tháng 10 là khoảng 69.000đ/cp. Đến tháng 11/2010, FPT có quyết
định trả cổ tức đã đẩy giá cổ phiếu FPT lên cao đạt 77.000đ/cp cao nhất trong 3
tháng cuối năm nhưng mức giá cổ phiếu không ổn định và lại có xu hướng giảm từ
cuối tháng 12.
Nguyên nhân là do giá cổ phiếu FPT không chỉ chịu tác động trực tiếp từ việc chi
trả cổ tức của công ty mà còn chịu sự tác động của các yếu tố của thị trường.
Chứng khoán năm 2010 bị tác động không nhỏ của Thông tư 13 quy định về tỷ lệ
an toàn vốn của tổ chức tín dụng. Do đó, dòng tiền vào chứng khoán đã thắt chặt
trước thông tư 13 được ban hành trong năm 2010, Thông tư 13 khiến nhà đầu tư lo
ngại sẽ hạn chế dòng tiền chảy vào thị trường chứng khoán do nguồn vốn cho vay
của các ngân hàng bị thu hẹp. Trong khi thị trường vẫn tiếp tục đi ngang trong
nhiều tháng thì đầu tháng 11, lãi suất cơ bản đột ngột tăng lên 9% sau 12 tháng ở
mức 8% khiến thị trường rớt mạnh điểm mạnh. Vậy là cùng với Thông tư 13, lãi
suất đã khiến dòng tiền vào chứng khoán càng eo hẹp hơn. Mặt khác, tác động của
tình hình kinh tế vĩ mô đã khiến cho thị trường chứng khoán không tăng trưởng
mạnh trong năm 2010.


Trả cổ tức đợt 1 năm 2011:
- Từ ngày 1/11/2011 đến 10/1/2012.
- Tỷ lệ thực hiện: 15% trên mệnh giá
- Hình thức chi trả tiền mặt

Page 17


lưu
động
(trđ)

2008
6.124.834

2009
10.395.415

2010
12.304.544

2011
14.943.086

4.658.263

7.678.505

8.839.022

11.372.728

3

895.514

1.242.503


902.215

432.478

829.157

91.899.459

139.787.819

142.649.197

192.978.824

215.202.175

1.028.985

1.240.085

1.697.522

2.023.193

2.501.542

42.955

80.487


Tổng
nợ (trđ)
Nợ
ngắn
hạn
(trđ)
Tổng số
CP ưu
đãi
đang
lưu
hành
(cp)
Tổng số
cổ
phiếu
thường
đang
lưu
hành
(cổ
phiếu)
Lợi
nhuận
trước
thuế
(trđ)
Lãi vay
(trđ)
Hàng

Hệ số
khả
năng
thanh
toán lãi
vay
Hệ số
khả
năng
thanh
toán
chung
NAV
(trđ/cổ
phiếu)
NAV
(đ/cổ
phiếu)

1,45976

1,44569

1,61116

1,62508

1,34184

0,97977


0,026000152 0,026141247 0,028891526

24.566.628

26.000,152

20.644,252

26.141,247

28.891,526

- Năm 2008:
+ Trong mấy tháng đầu năm với chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt trong khi nhiều
công ty khác không có khả năng chi trả, FPT đã thu hút nhiều nhà đầu tư, làm giá cổ
phiếu tăng cao, làm tăng doanh thu, tăng lượng tiền của công ty nên khả năng thanh toán
nhanh tăng.
Page 20


+ Do ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu với lạm phát tăng cao ảnh hưởng tới hiệu quả sản
xuất của công ty buộc công ty phải chi trả cổ tức bằng cổ phiếu thưởng, tỷ lệ 2 : 1 ngày
11/11/2008, làm tổng giá trị cổ phiếu lưu hành tăng lên dẫn đến NAV giảm so với năm
2007, công ty phải tăng khoản nợ vay ngắn hạn do đó khả năng thanh toán nợ ngắn hạn,
khả năng thanh toán lãi vay đều giảm đi so với năm 2007.
- Năm 2009: Công ty tiến hành cả hình thức chi trả cổ tức bằng tiền và chi trả cổ
tức bằng cổ phiếu.
+ Đợt 1 chi trả bằng tiền mặt 10% trên mệnh giá vào ngày 8/6/2009 và đợt 2 cũng chi trả
bằng tiền mặt 15% trên mệnh giá cổ phiếu vào ngày 16/12/2009, việc này đã làm giảm


+ Với 35% còn lại, FPT sẽ trả tiếp cổ tức bằng tiền mặt 10% trên mệnh giá và chia cổ tức
bằng cổ phiếu với tỷ lệ 25%, tương đương 4 cổ phần hiện hữu được chia thêm 1 cổ phần
mới. Việc chi trả này sẽ được thực hiện vào quý II năm 2012, như vậy chắc chắn nó sẽ
ảnh hưởng tới tình hình tài chính năm 2012 như chỉ tiêu NAV ở thời gian tiến hành chi
trả sẽ bị giảm xuống do tổng số lượng cổ phiếu lưu hành tăng.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định trả cổ tức của công ty cổ phần FPT:
4.1.Các nhân tố khách quan:
4.1.1. Các quy định pháp lý:
Để có thể thực hiện các chính sách chi trả cổ tức công ty cổ phần FPT cũng phải đáp ứng
được các yêu cầu, nguyên tắc mà pháp luật quy định, cụ thể là:
Chỉ tiêu

Năm 2010

Năm 2011

Đáp ứng nguyên
tắc
Lợi nhuận ròng

Lợi nhuận sau
thuế (tỷ VND)
ROE (%)
Hệ số thanh toán
nhanh (lần)
Hệ số thanh toán
hiện thời (lần)
Vốn chủ sở hữu
(tỷ VND)


Bảo toàn vốn

Lợi nhuận sau thuế FPT năm 2011 đạt gần 2.080 tỷ đồng, tăng trưởng 22,9%. Thu nhập
bình quân trên 1 cổ phiều thường đạt mức 7.861 đồng, tăng trưởng 19,4% so với năm
2010 đảm bảo các nguyên tắc mà pháp luật quy định.
4.1.2. Xu thế vận động của nền kinh tế:
Tình hình thế giới: Các dự báo đều thống nhất nhận định kinh tế thế giới năm 2012 sẽ
tiếp tục khó khăn, thậm chí tồi tệ hơn rất nhiều so với năm 2011. Hai điểm nhấn quan
trọng nhất là sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu, nhất là của các trung
tâm tăng trưởng (Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc) và sự bất ổn gia tăng, thậm chí nguy cơ
suy thoái kép.
Tình hình trong nước: Việt Nam ngoài những khó khăn đến từ bên ngoài, bản thân nội
tại nền kinh tế vừa trải qua năm 2011 nhiều bất ổn từ hệ thống tài chính, lạm phát và lãi
suất cao. Nhiều dự báo các chuyên gia kinh tế đều cho rằng kinh tế Việt nam năm 2012
vẫn còn chứa đựng nhiều bất ổn. Trong bối cảnh khó khăn này, Chính phủ Việt Nam đã
Page 22


đặt ra mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, đó là: ưu tiên kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng 6% - 6,5% và chỉ số giá tiêu dùng
tăng dưới 10%; chính sách tiền tệ tiếp tục định hướng thắt chặt với mục tiêu tăng trưởng
tín dụng năm 2012 đặt ở mức thấp 15 -17%.
Kết thúc năm tài chính 2011, tổng doanh thu của FPT đạt 25.978 tỷ đồng, tăng trên 27%
so với năm 2010. Lợi nhuận trước thuế đạt 2.502 tỷ đồng, tăng 24% so với năm trước.
Lãi cơ bản trên cổ phiếu đạt 7.861 đồng, tăng hơn 19% so với 2010.
Tiếp tục đà tăng trưởng, năm 2012, FPT đặt kế hoạch doanh thu 31.300 tỷ đồng, tăng
21%, tương đương lợi nhuận đạt 3.000 tỷ đồng, tăng 22%.
Với kế hoạch này, FPT dự kiến trình ĐHĐCĐ phương án trả cổ tức bằng tiền mặt năm
2012 từ 15 đến 30% trên mệnh giá. Đây là mức trả cổ tức tốt khi nhiều doanh nghiệp







Đầu tư tuyến đường trục cáp quang biển quốc tế Asia Pacific Gateway (APG) dự
kiến đưa vào khai thác trong năm 2014, cập bờ tại Đà Nẵng
Đầu tư mở rộng và nâng cấp hạ tầng mạng đường trục viễn thông
Đầu tư đường trục viễn thông trục Bắc - Nam
Đầu tư xây dựng Khu Campus Đại học & Phần mềm FPT tại Khu Công nghệ cao
Hòa Lạc theo giai đoạn
Đầu tư văn phòng cho các lĩnh vực kinh doanh tại khu vực TP. HCM tại Khu Chế
xuất Tân Thuận, Q. 7, TP. HCM
Đầu tư vào việc phát triển Chuỗi bán lẻ Kỹ thuật số FPT với quy mô 150 cửa
hàng
Đầu tư vào các hoạt động M&A

Công ty càng có nhiều dự án tốt thì càng phải tích lũy nhiều hơn để tái đầu tư, nắm bắt
kịp thời cơ hội, trả cổ tức thấp hơn. Nhưng bên cạnh việc đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận
thông qua việc đầu tư các dự án mới thì việc duy trì một mức cổ tức ổn định là vô cùng
quan trọng để giữ chân các cổ đông hiện thời.
4.2.2. Nhu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn
Công ty cổ phần FPT là công ty có tiềm lực, uy tín và lợi nhuận hoạt động rất tốt. Theo
Báo cáo tài chính năm 2011, trong Top 15 doanh nghiệp có doanh thu thuần lớn nhất
trên sàn chứng khoán, FPT đứng đầu danh sách khi đạt gần 26.000 tỷ đồng, đạt 105,87%
so với kế hoạch đã được HĐQT thông qua đầu năm và đạt hơn 97% so với kế hoạch
điều chỉnh tăng giữa năm, tăng gần 27% so với năm 2010. Năm 2011 với nhiều khó
khăn nhưng FPT vẫn hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch về doanh thu và lợi nhuận đề ra.
Từ lợi nhuận thu được, FPT là một trong số ít những doanh nghiệp trả cổ tức bằng tiền

Công ty cổ phần FPT được đánh giá là hoạt động hiệu quả có mức lợi nhuận ổn định nên
công ty sẵn lòng chi trả cổ tức, không những thế mà còn chi trả cổ tức với tỷ lệ rất cao
bằng cả tiền mặt và bằng cổ phiếu.
4.2.5. Khả năng thâm nhập vào thị trường vốn
Công ty cổ phần FPT là doanh nghiệp lớn có uy tín dễ dàng tiếp cận với thị trường tín
dụng và các nguồn vốn bên ngoài vì đã đáp ứng được các yêu cầu về công bố thông tin
công khai, minh bạch; vì vậy, công ty này có nhiều khả năng chi trả cổ tức bởi khả
năng thanh khoản linh hoạt và tận dụng các cơ hội đầu tư. Vì vậy, công ty này có thể
dành tỷ lệ cao lợi nhuận sau thuế để trả cổ tức.

4.2.6. Quyền kiểm soát công ty
Page 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status