Phân tích động thái giá cổ phiếu và tính thanh khoản của một số cổ phiếu trên thị trường chứng khoán VN - Pdf 66

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
Lời mở đầu
Thị trường chứng khoán Việt Nam tuy trẻ, nhưng trong 6 năm qua đã trải
qua nhiều thăng trầm. Sau sự bùng nổ khi thị trường mở cửa năm 2001 (chỉ
số VN- Index đạt 570 điểm sau 6 tháng), chỉ số chứng khoán rơi xuống điểm
xuất phát và đạt mức thấp nhất là 130 điểm vào năm 2003. Chu kỳ mới đang
hình thành và chỉ số VN-Index đang tăng tốc về phía đỉnh cao và xu thế này
còn nhiều khả năng tiếp tục tăng.
Có thể nói sự khởi sắc của thị trường chứng khoán có nền tảng kinh tế vững
chắc và phù hợp với tình hình phát triển của kinh tế Việt Nam.
Thứ nhất, nhu cầu đầu tư tăng mạnh phản ánh tình hình khả quan của nền
kinh tế và mức sống ngày càng được nâng cao. Đồng thời tại thời điểm hiện
tại với mức tiết kiệm 30% GDP, trong khi các thị trường đầu tư truyền thống
đang gặp nhiều bất ổn (thị trường đất đai ảm đạm, giá vàng biến động khó
lường, tiền gửi tiết kiệm bị bào mòn bởi lạm phát), thì càng nhiều người tìm
đến thị trường chứng khoán.
Thứ hai, sau 6 năm ra đời, kiến thức về thị trường chứng khoán từng bước
được nâng cao. Xu hướng cổ phần hoá qua đấu giá đã tạo một kênh quan
trọng cho người dân tiếp cận với cổ phiếu qua đó từng bước tham gia vào thị
trường giao dịch. Một điều cần nhấn mạnh rằng sự sôi động của thị trường
HCM chỉ là phần nổi của tảng băng trôi, nó chỉ phản ánh một phần (thậm chí
là một phần nhỏ) của mức độ tham gia vào giao dịch chứng khoán của người
dân (giới đầu tư hoạt động mạnh ở thị trường OTC và thị trường không
chính thức vì quy mô lớn hơn, các hàng chất lượng cao như cổ phiếu ngân
hàng, cổ phiếu ngành dầu khí, điện, đều chưa được niêm yết trên thị trường
tập trung).
1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
Thứ ba, giới đầu tư nước ngoài đang ngày càng quan tâm đến thị trường
chứng khoán Việt Nam. Đầu tháng 2/2006, ngân hàng đầu tư hàng đầu thế
giới Merrill Lynch đã đánh giá cơ hội đầu tư vào chứng khoán Việt Nam rất

toán học để phân tích những biến động giá cổ phiếu của thị trường Việt Nam
là cần thiết. Xuất phát từ những yêu cầu thực tế cùng với những kiến thức
được tiếp thu trong 3 năm học chuyên ngành toán tài chính và được sự gợi ý
của giáo viên hướng dẫn em chọn đề tài “Phân tích động thái giá cổ phiếu
và tính thanh khoản của một số cổ phiếu trên thị trường chứng khoán VN”
làm đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Trong quá trình học tập tại trường kết hợp với thời gian thực tập tại công ty
chứng khoán ngân hàng đầu tư và phát triển BSC, được sự giúp đỡ tận tình
của các thầy cô và của công ty nói chung, phòng nghiên cứu và phát triển nói
riêng, em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cám ơn Ban giám đốc công ty cùng tập thể cán bộ nhân
viên toàn công ty và đặc biệt cám ơn các anh chị trong phòng nghiên cứu và
phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập, để em
có thể tìm hiểu về các nghiệp vụ của công ty, được tiếp cận với thực tế của
thị trường chứng khoán VN.
Em cũng xin chân thành cám ơn PGS.TS. Hoàng Đình Tuấn cùng tất cả
các thầy cô giáo trong bộ môn toán tài chính, khoa toán kinh tế đã hướng dẫn
nhiệt tình để em hoàn thành chuyên đề này.

3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
Chương 1:
Tổng quan về thị trường chứng khoán
và cơ sở lý thuyết của các công cụ toán tài chính
1.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán (TTCK).
1.1.1. Khái niệm, chức năng và nguyên tắc hoạt động của TTCK:
* Khái niệm:
Thị trường chứng khoán trong điều kiện nền kinh tế hiện đại, là nơi diễn
ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn.
Bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với
các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất
khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể
lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
- Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán:
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở
hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng
thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với
người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư.
TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của
các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp:
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản
ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt
động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra
một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách
nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang
mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho
thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong
vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực
hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua
và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách
và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính
sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho
sự phát triển cân đối của nền kinh tế.

Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị
trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các
tổ chức tự quản.
- Nguyên tắc đấu giá:
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
Nguyên tắc này dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường quyết
định.
* Các thành phần tham gia TTCK:
- Nhà phát hành:
Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới hình thức
phát hành các chứng khoán.
- Nhà đầu tư:
Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK.
Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua
bán trên thị trường với mục đích kiếm lời.
Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng
khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các định chế này có thể tồn tại dưới
các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty
tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán.
- Các công ty chứng khoán:
Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm
nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ
đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh.
- Các tổ chức có liên quan đến TTCK:
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam.
Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban
hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên
Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK.

CHUYấN THC TP TT NGHIP KHOA TON KINH T
Biu 1 Phõn loi ri ro
+ Ri ro h thng (systematic risk): l loi ri ro tỏc ng ti ton
b hoc hu ht cỏc ti sn. Loi ri ro ny chu tỏc ng ca cỏc iu kin
kinh t chung nh: lm phỏt, s thay i t giỏ hi oỏi, lói sutNú chớnh
l phn bự ri ro chung cho tt c cỏc loi chng khoỏn. Loi ri ro ny cũn
c gi l ri ro th trng (market risk) v c o bng h s bờta.
+ Ri ro phi h thng ( unsystematic risk): l loi ri ro ch tỏc ng
n mt ti sn hoc mt nhúm ti sn.
Ri ro l iu khụng th loi b hon ton, xột trờn tng th th trng v
trong di hn. Song mi cỏ nhõn ngi u t hay t chc u t cú th ỏp
dng mt hay nhiu trong s nhng bin phỏp sau õy gim thiu ri ro
ca vic u t cổ phiếu:
+ Lựa chọn những cổ phiếu riêng lẻ: quyết định đầu t vào cổ phiếu nào
là kết quả của quá trình thu thập và phân tích vô s thông tin.
+ Thiết lập danh mục đầu t hoặc mua chứng chỉ quĩ đầu t: khi phối hợp
nhiều cổ phiếu (hoặc cổ phiếu và trái phiếu hay các công cụ khác) trong cùng
1 danh mục, thì hiệu ứng tổng thể là tổng rủi ro của danh mục đầu t sẽ giảm
xuống. Đó là phơng pháp quản lí rủi ro hữu hiệu.Tuy nhiên với những nhà đầu
10
Ri ro phi h thng
Ri ro tng th
Ri ro h thng
Ri ro lói sut
Ri ro th trng
Ri ro sc mua
Ri ro t giỏ
Ri ro kinh doanh
Ri ro ti chớnh
Ri ro qun lý

)[R
i
E(R
i
)]
2
Ch s ny cho bit mc sai lch ca thu nhp thc t so vi mc k vng
ca nh u t hay l mc thu nhp bỡnh quõn trong quỏ kh ca nh u t.
lch chun c tớnh bng:
=

=

n
i
iii
RERP
1
2
)]([
í ngha ca ch tiờu ny l o mc bin thiờn theo n v o, tuy nhiờn
mc tuyt i ca ri ro khụng núi lờn c mi tng quan gi ri ro v
thu nhp, ụi lỳc nh u t chp nhn mc ri ro cao nhng k vng thu
nhp li ln, do vy ri ro cũn c o lng bng ch s tng i thụng
qua ch s Ri ro tng i :

lch chun ca bin thu nhp

i
CV = = ----------

1 2
Số loại chứng khoán
σ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
 Đa dạng hoá không thể triệt tiêu rủi ro hệ thống của danh mục đầu tư,
vì rủi ro hệ thống bao trùm tổng thể toàn bộ thì trường, bất cứ đối
tượng nào trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng. Ví dụ như rủi ro
chính trị, chỉ có giảm thiểu khi đầu tư vào các quốc gia khác nhau
mới giảm thiểu được.
Có rất nhiều những yếu tố khác nhau dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động
đầu tư, tuy nhiên đối với hoạt động đầu tư tài chính nói chung và đầu tư
chứng khoán nói riêng, hiệu quả của hoạt động đầu tư phụ thuộc vào mục
đích đầu tư cũng như khả năng chịu đựng rủi ro trong hoạt động đầu tư.
Harry Markowzit đã đưa ra một số giả thiết quan trọng có vai trò rất lớn việc
nghiên cứu đầu tư theo danh mục.
 Mức ngại rủi ro
Trong hoạt động đầu tư tài chính, rủi ro là một trong những yếu tố
quan trọng luôn hiển hiện tác động thường trực lên các nhà đầu tư. Harry
Markowitz cho rằng các nhà đầu tư luôn ý thức được sự tồn tại của rủi ro và
về cơ bản là không ưu thích rủi ro, nghĩa là với một mức lợi nhuận như nhau
giữa hai tài sản, các nhà đầu tư sẽ lựa chọn tài sản nào có mức độ rủi ro thấp
hơn. Bằng chứng cho việc này là họ thường rất hay mua nhiều loại bảo hiểm
khác nhau bao gồm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểu ôtô, bảo hiểm sức
khoẻ….Khi đó họ tin rằng sẽ có được một sự bảo đảm an toàn trong những
trường hợp không chắc chắn và hy vọng sẽ có một khoản chi tiêu lớn hơn
trong tương lai.
Trong lý thuyết đầu tư, khái niệm mức ngại rủi ro được coi là nền tảng
của việc phân tích quyết định đầu tư. Các nhà kinh tế học tài chính hiện đại
đã chứng minh một cách định lượng vấn đề này bằng lý thuyết hàm lợi ích
biểu diễn mối quan hệ giữa giá trị hữu dụng của một đơn vị tiền tệ kiếm

Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế phù hợp với các điều kiện
kinh tế-chính trị-xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt
Nam đã quyết định thành lập TTCK với những đặc thù riêng biệt trên cơ sở
tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên thế giới.
TTCK Việt Nam ra đời được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại thành phố Hồ Chí Minh ngày
14
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
20/07/2000, thực hiện phiên giao dịch đầu tỉên vào ngày 28/07/2000
(HoSTC). Năm năm sau, ngày 8/3/2005 thị trường giao dịch bảng II-sàn giao
dịch Hà Nội (HaSTC) ra đời tạo bước ngoặt cho sự phát triển vượt bậc cho
TTCK Việt Nam.
Trong những năm qua, TTCK đã từng bước phát triển về nhiều mặt trở
thành kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Từ chỗ trong suốt 10
năm trời chỉ có vài chục cổ phiếu, chứng chỉ được đưa lên sàn thì đến nay
theo thống kê có gần 200 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ của các công ty và quỹ
đầu tư niêm yết trên TTGDCK thành phố HCM và Hà Nội với tổng giá trị
vốn hoá đạt trên 13.8 tỷ USD( bằng 22.7% GDP cao hơn so với kế hoạch dự
kiến đến năm 2010 là 15% GDP) và 5 tỷ USD giá trị trái phiếu, tính tổng giá
trị bằng 25% GDP, chiếm 1/5 tổng số tài chính của cả nước. Tính đến cuối
tháng 12/2006, TTCK Việt Nam tăng 139.84%, được đánh giá là mức tăng
cao nhất trên thế giới vượt qua mức tăng của TTCK Thượng Hải và Thâm
Quyến- Trung Quốc (111.95%). TTCK Việt Nam đã trở thành một hiện
tượng với mức tăng trưởng hàng năm đạt trung bình 19% trong suốt giai
đoạn 2002-2005. Trong suốt mấy tháng cuối năm 2006 và đầu năm 2007
TTCK đã đạt mức tăng trưởng 19%, một con số chưa từng có trên thị trường
thế giới. Khép lại năm 2006 với phiên giao dịch cuối cùng ngày 29/12, VN-
Index đã tăng 166.39% . Tiếp tục đà tăng trưởng nóng của thị trường, hai
tháng đầu năm 2007, ở sàn HCM chỉ số VN-Index đã tăng thêm hơn 45%, ở
sàn HN, HASTC-Index đã tăng thêm đến 77%. VN-Index đã đạt mức cao

Var(Y
t
) =
2
E(Y
t
) =
COV(Y
t
,Y
t-1
) =
* Mô hình ARIMA, ARCH, GARCH:
- Quá trình tự hồi quy AR bậc p :
Y
t
=
0
+
1
Y
t-1
+
2
Y
t-2
+…+
p
Y
t-p

< 1 i = 1, 2,…, p
- Quá trình ARMA (autoregressive and moving average) : kết hợp cả hai
yếu tố ta có quá trình ARMA(p,q) là quá trình trung bình trượt và tự hồi quy.
- Quá trình ARIMA (autoregressive intergrated moving average) :
Chuỗi được gọi là đồng liên kết bậc d nếu sai phân bậc d là một chuỗi
dừng. Nếu chuỗi Y
t
là đồng liên kết bậc d, áp dụng mô hình ARMA(p,q) cho
chuỗi sai phân bậc d ta có quá trình ARIMA(p,d,q).
- Mô hình ARCH (autoregressive conditional heteros) : mô hình tự hồi quy
có điều kiện phương sai sai số thay đổi :
16
µ
σ
ε
σ
ε
σ
α
α
α α
α
α

β
α
ε
ε
ε
ε

ARCH(m) : r
t
=
t
+ u
t
u
t
=
t
*
t

2
t
= Var ( u
t
/F
t-1
) ;
t
: ( i,i,d)

t

2
=
0
+
1

*
t

2
t
=
0
+
i
u
t-i
2
+
j t-j
2
i =1,…,m ; j =1,…,s

0
> 0 ; 0
< 1 (điều kiện để phương sai không có điều
kiện dương, hữu hạn).
1.2.2. Lý thuyết mô hình định giá tài sản tài chính.
1.2.2.1. Mô hình chỉ số thị trường (mô hình chỉ số đơn):
- Mô hình chỉ số thị trường là mô hình hồi quy giản đơn.
- Đối với thị trường VN, ta sẽ sử dụng chỉ số VN-Index làm chỉ số thị
trường. Chỉ số này được tính đơn giản như sau:
+ Tính giá trị của toàn bộ cổ phiếu ở thời điểm 0 bắt đầu: VA
0
+ Tính giá trị của toàn bộ cổ phiếu ở thời điểm t: VA
t

Cov(
i
,
j
) = 0 với mọi i j
iI là hệ số của cổ phiếu i đối với chỉ số thị trường I

iI
> 1 cổ phiếu là năng động
17
β
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ

iI
< 1 cổ phiếu là thụ động
1.2.2.2. Mô hình CAPM
Mô hình định giá tài sản vốn cho phép dự đoán mối quan hệ giữa rủi
ro và lợi suất kỳ vọng , mô hình cung cấp một lợi suất chuẩn dùng để đánh
giá và lựa chọn các phương án đầu tư, giúp phán đoán lợi suất kỳ vọng đối
với những tài sản chưa được giao dịch trên thị trường. Mô hình định giá tài
sản vốn đưa ra những giả định mang tính chất kế thừa học thuyết quản lý
danh mục đầu tư của Markowitz, đồng thời đưa ra những giả định về thị
trường vốn:
* Các giả thiết:
+ Về nhà đầu tư:
- Các nhà đầu tư là nhà đầu tư e ngại rủi ro
- Mục tiêu là tối đa hoá lợi ích kì vọng.
- Các nhà đầu tư đều là các tác nhân cạnh tranh hoàn hảo trrên thị
trường.
- Các nhà đầu tư đều đồng nhất trong việc đánh giá các thông tin, các

tư đó, áp dụng mô hình trên, nếu thị trường tồn tại loại chứng khoán phi rủi
ro với lãi suất R
f
và giả thiết rằng các nhà đầu tư có thể vay mượn không hạn
chế trên cơ sở lãi suất này thì kết quả về lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư
sẽ như hình vẽ sau đây:
19
σ
p
E
p
R
f
Đường hiệu quả tuyến tính
Đường hiệu quả
biên trong mô
hình Markowitz
B
A
A’
B’
(M)
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
Đường biểu diễn mối quan hệ giữa thu nhập kỳ vọng và rủi ro với thước đo
là độ lệch chuẩn bây giờ là một đường tuyến tính thay vì là một đường cong
như ban đầu.
Tại cùng một mức độ rủi ro thì danh mục A’ nằm trên đường thẳng
đem lại mức thu nhập cao hơn danh mục A nằm trên đường cong. Hay với
hai danh mục cùng đem lại mức thu nhập dự tính như nhau thì danh mục B
nằm trên đường thẳng lại có mức rủi ro thấp hơn. Rõ ràng các danh mục nằm


Đường TTCK:
Trong mô hình CAPM độ rủi ro của mỗi chứng khoán không được đo
bằng độ lệch chuẩn đã bị triệt tiêu do đa dạng hoá danh mục đầu tư. Khi các
chứng khoán tham gia vào danh mục đầu tư thì triệt tiêu bớt phần rủi ro phi
hệ thống, danh mục thị trường được coi là đa dạng hoá hoàn hảo. Vì vậy rủi
ro phi hệ thống của từng chứng khoán được triệt tiêu hết, chỉ còn lại phần rủi
ro hệ thống được đo bằng tích sai lệch của chứng khoán đó với danh mục thị
20
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP KHOA TOÁN KINH TẾ
trường. Đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất đối với mỗi chứng
khoán riêng lẻ như trên được gọi là đường TTCK được thể hiện dưới đây:
Đồ thị: Đồ thị biểu diễn đường SML
Mô hình định giá tài sản vốn(CAPM) như sau:
E(R
i
) = R
f
+ β(E(R
m
) - R
f
)
Đây chính là mối qua hệ giữa rủi ro và lợi suất ước tính của từng
chứng khoán riêng lẻ được thể hiện dưới phương trình. Phương trình này cho
thấy với giả thiết về thị trường vốn nếu trên, lỗi suất kỳ vọng của mỗi chứng
khoán có quan hệ tỷ lệ thuận với hệ số rủi ro hệ thống (β). Chứng khoán có
hệ số bêta càng cào thì yêu cầu lợi suất phải càng cao. SML được coi là một
tiêu chí chuẩn mực để đánh giá một phương án đầu tư. Với việc chấp nhận
một độ rủi ro nhất định đối với một phương án đầu tư. SML cho chúng ta

nh giỏ cho nhng chng khoỏn cú nguy c ri ro. CAPM cho rng ri ro
h thng l mi quan tõm i vi cỏc nh u t vỡ chỳng khụng th loi b
c bng bin phỏp a dng hoỏ u t. Cú rt nhiờu nhng lý thuyt khỏc
nhau c s dng trong vic nghiờn cu u t theo danh mc u t, tuy
nhiờn mu cht ca vic u t theo danh mc l vic chỳng ta nghiờn cu
nhng c trng ca ti sn ti chớnh nhng cỏch thc dựng xỏc nh ri
ro m ti sn ú em li v vic xỏc nh xem liu mt ti sn ti chớnh ang
c ỏnh giỏ ỳng giỏ tr hay trờn giỏ tr hoc ngc li. ng thi nghiờn
cu nhng nhõn t cu thnh nờn mt danh mc u t, nhng c trng ca
vic u t vo mt danh mc so vi vic u t vo nhng ti sn ti chớnh
riờng l
E( R
i
) = r
f
+
i
[E(R
M
) r
f
]
E( R
i
) : lợi suất kì vọng của cổ phiếu i
r
f
: li sut phi ri ro trờn th trng.
E(R
M

là tập
thông tin bao gồm giá của cổ phiếu tính đến thời điểm t.
Động thái giá cổ phiếu là quá trình diễn biến giá theo thời gian.
* Đặc điểm của động thái giá:
- S
t
> 0
- Xét về dài hạn, quá trình giá { S
t
} có xu thế tăng do có sự tăng trưởng
của cổ tức và thu nhập nên quá trình lợi suất tương ứng { r
t
} cũng có xu thế
tăng về dài hạn.
- Trong 1 khoảng thời gian ngắn và điều kiện bình thường của thị trường
thì giá cổ phiếu có thay đổi nhỏ. Xét trong khoảng thời gian dài hơn mức độ
biến động giá lớn hơn.
* Đặc điểm của quĩ đạo giá:
- Do quá trình giá thay đổi diễn biến với thời gian rời rạc tương ứng với
việc ta cập nhật thị giá tại từng thời điểm nên quĩ đạo giá sẽ là đường gấp
khúc liên tục.
- Quỹ đạo giá không cắt trục hoành.
- Tại 1 thời điểm t bất kì trên trục thời gian khoảng chênh lệch giữa giá
trị trung bình tại t với giá trị ban đầu càng lớn nếu chúng ta càng đi xa.
- Khoảng cách giữa 2 quỹ đạo giá sẽ tăng theo thời gian:

t’
>
t
nếu t’ > t

phải học hành hay nghiên cứu gì nữa. Ở đây không có gì đảm bảo là chúng
ta sẽ thắng lớn trong một vụ buôn cổ phiếu nhờ vào hiểu biết về chuyển động
Brown, bởi vì nó chỉ đơn giản là đem lại cho chúng ta một cách tiếp cận để
hiểu về sự vận động của các thị trường cổ phiếu. Tuy nhiên, dù sao thì lý
thuyết về chuyển động Brown cũng giúp chúng ta có khả năng tốt hơn trong
việc phát triển các chiến thuật đầu tư cũng như đánh giá rủi ro.
- Mô hình dạng rời rạc:
S
t
= .S
t
t + . S
t
.
t
.
Trong đó:
24


σµ
,
ε
µ
σ
σ
µ
( )
σµ


.dt + . S
t
.dB (1)
Quá trình giá cổ phiếu tuân theo mô hình GBM nếu thoả mãn (1)
: drift rate
: volatility or variance rate
Xét quá trình giá cổ phiếu {S
t
} được mô phỏng bằng (1) thì với x
t
= lnS
t
áp
dụng công thức Itô cho x
t
ta có:
Công thức Itô dạng liên tục: dx
t
=
2
dt + dB
2
{x
t
}là quá trình ngẫu nhiên tổng quát.
Dạng rời rạc: x
t
=
2
.

: < 1
Nếu giả thiết H
0
được chấp nhận thì quá trình ln của giá cổ phiếu là quá
trình ngẫu nhiên (random walk) và cũng có nghĩa là quá trình S
t
tuân theo
mô hình GBM.
b) Ước lượng các tham số:
ước lượng phương trình (2) bằng phương pháp OLS thu được
0
,
25

Trích đoạn Đỏnh giỏ sơ bộ về bốn cổ phiếu được chọn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status