Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay thị trường chứng khoán không còn là một đề tài mới mẻ
ở Việt Nam. Sau sự ra đời của Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, thì đề tài chứng khoán đã
thực sự bùng nổ, các công ty chứng khoán, tổ chức bảo lãnh phát hành,…với
hàng loạt các dịch vụ liên quan đến chứng khoán xuất hiện. Chỉ trong một thời
gian ngắn thị trường chứng khoán đã thực sự phát triển và hầu như ở đâu người ta
cũng nói đến chứng khoán.
Tuy nhiên, đầu tư chứng khoán không phải là một lĩnh vực dễ dàng và nó chứa
đựng nhiều rủi ro. Để thành công các nhà đầu tư cần có những kiến thức nhất
định về chứng khoán và dự báo được những diễn biến giá trong tương lai. Hiện
nay có hai trường phái chính trong phân tích chứng khoán là phân tích cơ bản và
phân tích kĩ thuật. Phân tích cơ bản dựa trên việc phân tích hoạt động của tổ chức
phát hành chứng khoán trong khi phân tích kĩ thuật dựa trên chuỗi giá cổ phiếu
trong quá khứ với một hệ thống các đồ thị và công cụ hỗ trợ. Thông thường
người ta áp dụng cả hai phương pháp này để cho kết quả tốt nhất.
Hiện nay các phương pháp phan tích kĩ thuật trên thế giới đã rất phát triển và cho
những kết quả phân tích khá chính xác. Hiện nay phương pháp này cũng đã được
áp dụng một cách phổ biến ở các công ty chứng khoán ở Việt Nam. Vì vậy, em
đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:
”Phân tích kĩ thuật và ứng dụng một số chỉ báo để tính tóan đối với một số cổ
phiếu trên thị trường chứng khóan Việt Nam.”
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Em xin chân thành cảm ơn TS. Hoàng Đình Tuấn cùng các anh chị trong công ty
cổ phần công nghệ thông tin tài chính Thiên Lang (SIRIFIN) đã giúp đỡ em trong
quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề này.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NỘI DUNG
Chương I: Một số vấn đề lý thuyết trong phân tích kĩ thuật
1. Giới thiệu tổng quan về thị trường chứng khoán và phân tích kĩ thuật
sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệ
thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói
riêng và thị trường tài chính nói chung.
b. Các quan điểm về phân tích kĩ thuật
Nguyên lý thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định “trong
tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ mắc phải trong quá
khứ” (Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator)
Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánh
đúng giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánh
giá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế. Giá của
bất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chỉ ra mối quan hệ thực tế giữa
cung và cầu mà là phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu.
Vậy “Phân tích kĩ thuật” là gì? Bản thân trong những người sử dụng phân tích kỹ
thuật cũng không có một sự thống nhất về quan điểm về bản chất của phân tích
kỹ thuật vì phân tích kỹ thuật có thể dược hiểu thuần túy là một khoa học mà
cũng có thể được hiểu là một nghệ thuật.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hiểu một cách rộng nhất thì phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tình
trạng “sức khỏe hiện tại của toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mục
đích là nhằm dự báo biến động tương lai của giá bằng cách dựa trên những kinh
nghiệm có được với các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đã
xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. Giả
thuyết căn bản trong phân tích kỹ thuật là những kiến thức đã có về giá và hình
mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham khảo” nhằm xác định giá có xu
thế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể.
Nick và Barbara Apostolous định nghĩa về phân tích kĩ thuật là quá trình dự báo
biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến
động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá”. Tuy
nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tương
đương với phân tích cơ bản - là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay hàng
khả năng biến động về giá cổ phiếu sau khi đã bỏ qua các yếu tố thuộc phân tích
cơ bản và những yếu tố không thực sự có ảnh hưởng. ”
Còn theo Edward và Magee tác giả cuốn sách “Technical Analysis of Stock
Trend” thì: “Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường là
dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những
thay đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng khoán bất kì hay với
chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy
luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cuối cùng Steven B. Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A
to Z”đã định nghĩa một cách ngắn gọn như sau: “Phân tích kỹ thuật là việc
nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động đầu tư…”
c. Những giả định cơ sở
Phân tích kỹ thuật là sự nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu thông qua
việc sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán các xu thế biến động của giá
trong tương lai.
Thuật ngữ “biến động của thị trường” ám chỉ ba yếu tố biến động chính cung cấp
thông tin cho quá trình Phân tích kỹ thuật là giá, khối lượng giao dịch và số
lượng hợp đồng chưa tất toán ( open interest).
Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kĩ thuật:
-Biến động giá thị trường phản ánh tất cả
-Giá thị trường dịch chuyển theo xu thế
- Lịch sử sẽ tự lặp lại
1.3.1. Biến động thị trường phản ánh tất cả
Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật. Mọi lý thuyết, phân tích khác
muốn được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Các nhà
Phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như
tâm lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. . . đều được
phản ánh rõ trong giá thị trường. Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến
chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá. Những bức tranh này
chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá. Việc áp dụng những
mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn
tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm
lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi. Như thế giả định
này có thể được phát biểu là : “Chìa khóa để nắm bắt tương lai nằm trong việc
nghiên cứu quá khứ” hay “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ”
1.4. Các loại biểu đồ
Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rất nhiều
các loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng
một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng then
chắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candlestick chart).
1.4.1. Biểu đồ dạng đường (line chart)
Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trường chứng
khoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành
khoa học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và xã hội…và nó cũng
là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất. Nhưng hiện nay
trên thị trường chứng khoán do khoa học kỹ thuật phát triển, diễn biến của thị
trường chứng khoán ngày càng phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn
với độ lệch khá cao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiệu quả thấp trong phân tích cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng
nhất là trên các thị trường chứng khoán hiện đại. Hiện nay nó chủ yếu được sử
dụng trên các thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn,
khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên hoặc nhiều lần
trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như thị trường chứng
khoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục.Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ
sử dụng, lý do chính là vì nó được sử dụng trên tất cả các thị trường chứng khoán
trên khắp thế giới từ trước tới nay.
đường dao động bên trên hoặc bên dưới đường zero, không có bất cứ giới hạn
trên hay dưới nào. MACD là một chỉ báo xung lượng cho biết mức độ dao động
của giá cổ phiếu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.1. Biểu thức MACD
MACD chuẩn là chênh lệch giữa trung bình trượt mũ (EMA) 12 ngày và 26 ngày
của chứng khoán. Đây là biếu thức được sử dụng trong rất nhiều chương trình
phân tích kĩ thuật, xuất hiện trong rất nhiều các cuốn sách phân tích kĩ thuật. Sử
dụng các trung bình trượt ngắn hạn sẽ tạo ra các chỉ báo nhanh hơn và nhạy cảm
hơn, trong khi các trung bình trượt dài hạn sẽ tạo ra các chỉ báo chậm hơn. Đế
thực hiện các mục tiêu của bài viết này, chúng ta sẽ sử dụng đường MACD
truyền thống để giải thích.
Trong 2 đường MA tạo nên MACD, thì đường EMA12 ngày là đường nhanh hơn
còn EMA 26 ngày là đường chậm hơn. Giá đóng cửa được sử dụng để tính các
MA. Thông thường, đồ thị EMA 9 ngày của đường MACD được sử dụng như
một đường tín hiệu. Điểm giao cắt tăng giá xuất hiện khi MACD di chuyển bên
trên đường EMA 9 ngày của nó, và điểm giao cát giảm giá xuất hiện khi MACD
di chuyển bên dưới đường EMA 9 ngày của nó.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.2. Cách sử dụng
MACD đo lường chênh lệch giữa 2 đường EMA. MACD dương chỉ ra rằng EMA
12 ngày ở trên EMA 26 ngày. Nếu MACD dưong và đang tăng, thì khoảng cách
giữa 2 đường EMA ngày càng mở rộng. Điều này chỉ ra tỉ lệ thay đổi của MA
nhanh cao hơn của MA chậm. Momentum dương đang tăng thể hiện một chu kì
tăng giá. Nếu MACD âm và đang đi xuống, thì khoảng cách giữa MA nhanh và
MA chậm dang mở rộng. Đường momentum âm đang ngày càng giảm thì báo
hiệu một chu kì giảm giá.Các điểm giao cắt giữa MACD và đường zero xuất hiện
khi đường MA chậm cắt đường MA nhanh.
2.1.3. Lợi ích của MACD
Một trong những lợi ích cơ bản của MACD là nó kết hợp các khía cạnh của
hiện sự bán siêu và mua siêu, MACD không có bất cứ giới hạn trên hay dưói nào
ràng buộc sự biến động của nó. MACD có thể tiếp tục mở rộng vượt quá cực
điểm trong quá khứ.
MACD tính toán sai lệch tuyệt đối giữa 2 trung bình trượt và không thể hiện sai
lệch tương đối. MACD được tính toán bằng cách lấy một trung bình trượt trừ đi
cái còn lại. Khi một chứng khoán tăng giá, chênh lệch (cả âm và dương) giữa 2
trung bình trượt được dự tính sẽ tăng. Điều này gây khó khăn cho việc so sánh
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các MACD trong những chu kì thời gian dài, đặc biệt là các chứng khoán biến
động theo hàm mũ.
Có một lựa chọn đó là sử dụng dao động giá, thể hiện chênh lệch tương đối giữa
2 trung bình trượt:
(EMA 12 ngày –EMA 26 ngày )/EMA 26 ngày
Kết quả chênh lệch tương đối có thể được so sánh trong chuỗi thời gian dài hơn.
Đối với các thời kì ngắn hạn, MACD và phương pháp dao động giá về cơ bản là
tương tự nhau. Hình dáng đường,sự fân kì các điểm cắt giữa các đường trung
bình trượt và các điểm cắt đường hướng tâm đối với MACD và phương pháp dao
động giá là hoàn toàn đồng nhất.
2.1.5. Những ý kiến tán thành và phê phán MACD
Khi Appel phát triển mô hình MACD, có hàng trăm chỉ báo phân tích kĩ thuật
mới được giới thiệu. Trong khi rất nhiều chỉ báo kĩ thuật ra đời và bị loại bỏ,
MACD vẫn tồn tại với thời gian. Các tư tưởng cơ bản phía sau cách sử dụng của
nó rất rõ ràng, và cách xây dựng của nó rất đơn giản, nó vẫn là một trong những
chỉ báo đáng tin cậy. Tính hiệu quả của MACD sẽ rất khác nhau với rất nhiều
chứng khoán và thị trường khác nhau. Tuỳ theo từng chứng khoán và thị trường
khác nhau cần lựa chọn độ trễ của MA cho thích hợp. Như đối với tất cả các chỉ
báo, MACD không phải là không thể sai được và nên được sử dụng cùng với các
công cụ phân tích kĩ thuật khác.
2.1.6. MACD- biêủ đồ (MACD-Histogram)
Năm 1986, Thomas Aspray đã phát triển MACD-biểu đồ (MACD-H). Aspray lưu
trước điểm giao cắt trung bình trượt tăng giá (bullish).
Trên điểm thứ 2, đường MACD tiếp tục đạt các đỉnh mới nhưng MACD-H thể
hiện 2 đỉnh bằng nhau. Mặc dù không fải là một trường hợp lý thuyết của phân kì
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dương, điểm đáy bằng nhau chứng tỏ thất bại trong khả năng dự báo của đường
MACD.
Phân kì dương được hình thành khi MACD-H thể hiện một điểm đáy cao hơn và
MACD tiếp tục thấp hơn nữa.
Phân kì âm được hình thành khi MACD-H biểu diễn một đỉnh thấp hơn và
MACD tiếp tục tăng lên.
1. 6 .2. Cách sử dụng
T. Aspray tạo ra MACD-H như một công cụ để dự đoán các điểm giao cắt giữa
các MA trong mô hình MACD. Sự phân kì giữa MACD và MACD-H là công cụ
chính được sử dụng để dự đoán các điểm giao cắt giữa các MA. Phân kì dương
trên MACD-H chỉ ra rằng MACD đang gia tăng và có thể gần tới điểm giao cắt
trung bình trượt tăng giá. Phân kì âm trong biểu đồ MACD-H chỉ ra rằng MACD
đang suy yếu, và nó báo trước một điểm cắt trung bình trượt giảm giá trên
MACD.
Trong cuốn sách Technical analysis of financial markets, J.Murphy đã khẳng
định lợi ích lớn nhất của MACD-H đó là nhận biết được trong những thời kì nào
khoảng cách giữa MACD và EMA 9 ngày hoặc mở rộng hoặc thu hẹp. Nói rộng
ra, khoảng cách được mở rộng chỉ ra rằng momentum tăng và khoảng cách thu
hẹp chỉ ra rằng momentum giảm. Thường thì một sự thay đổi trên MACD-H sẽ
xuất hiện trước bất cứ sự thay đổi nào trong đường MACD.
2.1. 6 .3. Các dấu hiệu
Dấu hiệu chính được khái quát bởi biểu đồ MACD là sự phân kì xuất hiện trước
điểm giao cắt giữa các đường MA. Một dấu hiệu tăng giá được dự báo khi xuất
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiện 1 phân kì dương và khi có 1 điểm cắt đường trung tâm bullish (làm tăng
giá). Một dấu hiệu giảm giá được dự báo khi có một phân kì âm và điểm cắt
đường MA. Với những kiến thức này, các nhà kinh doanh và nhà đầu tư có thể
chuẩn bị tốt hơn trước những thay đổi có tính chất xu thế có thể xảy ra trong
tương lai.
MACD-H có thể được ứng dụng trong các đồ thị theo ngày, tuần, tháng.(Chú ý:
Việc này có thể đòi hỏi việc kết hợp một số thời kì để xây dựng đường MACD
gốc: các đường MA ngắn hơn và nhanh hơn có thể là cần thiết đối với các đồ thị
theo tuần hoặc theo tháng). Sử dụng đồ thị theo tuần có thể xác định đường xu
thế cơ bản một cách rõ ràng. Khi đường xu thế đã được xác định rõ ràng thì có
thể sử dụng đồ thị theo ngày để xác định thời điểm chiến lược để gia nhập hoặc
rút lui khỏi thị trường.
Trong cuốn Technical Analysis of the financial markets, J.Murphy tán thành
phương pháp đầu tư 2 bước này để loại trừ những hoạt động kinh doanh đi ngược
lại xu thế chính. Biểu đồ MACD theo tuần có thể được sử dụng để khái quát dấu
hiệu theo chu kì dài để thiết lập xu hướng kinh doanh. Sau đó chúng ta sẽ chỉ
xem xét những dấu hiệu ngắn hạn phù hợp với xu thế chính. Nếu xu thế dài hạn
là bullish, thì chỉ những phân kì âm cắt đường trung tâm bearish là có ý nghĩa với
MACD-H. Nếu xu thế dài hạn là bearish, chỉ những phân kì dương cắt đường
trung tâm bullish được xem xét là có giá trị.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.6.6 . Hạn chế của MACD histogram
MACD-H là một chỉ báo của một chỉ báo hoặc một phái sinh của một phái sinh.
MACD là phái sinh bậc một của giá chứng khoán, và biểu đồ MACD là phái sinh
bậc 2 của giá chứng khoán. Là phái sinh bậc 2, MACD-H khác biệt nhiều hơn so
với đường giá thực của chứng khoán. Chỉ báo sai khác càng lớn so với giá chứng
khoán thực, các dấu hiệu sai lệch càng lớn.Cần nhớ rằng đây là một chỉ báo của
một chỉ báo. MACD-H không nên so sánh trực tiếp với giá thực của chứng
khoán.
Do MACD-H được xây dựng để dự đoán trước các dấu hiệu của MACD, sẽ dẫn
đến việc bắt đầu trước khi sự việc xuất hiện. MACD-H nên được sử dụng cùng
với những công cụ khác trong phân tích kĩ thuật. Việc này giúp cho việc phản