Sử dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích sự biến động và dự báo lợi suất của 1 số cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 67

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Sau chiến thắng mùa xuân 30-4-1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam, nước nhà thống
nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta bắt tay vào công cuộc xây dựng lại đất nước.
Sau hơn 10 năm phấn đấu, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhưng nhìn
chung nước ta vẫn nằm trong tình trạng của một nước nông nghiệp lạc hậu kinh tế kém phát
triển, đời sống nhân dân còn khó khăn.Trước thực trạng đó, tại Đại hội Đảng lần VI năm
1986, nhiều chính sách, biện pháp đã được thông qua nhằm đổi mới toàn diện nền kinh tế đưa
nước ta thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Nội dung chính là xoá bỏ nền kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp, thiết lập nền kinh tế hàng hoá theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường đã chia thành hai khu vực: khu vực có vốn tìm nơi đầu tư và
khu vực cần vốn để đầu tư vào sản xuất và kinh doanh. Trong điều kiện đó đòi hỏi sự ra đời
thị trường tài chính. Hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính biểu tượng của nền kinh tế
hiện đại là thị trường chứng. khoán - Đó là nơi diễn ra các quá trình: Phát hành, mua bán các
loại tài sản tài chính. Thị trường chứng khoán là một hoạt động kinh tế xã hội chứa đựng nhiều
rủi ro nhưng cũng hứa hẹn những khoản lời hấp dẫn.
Ở nước ta thị trường chứng khoán ra đời năm 2000. Do còn mới mẻ nên nhiều nhà
đầu tư chưa đánh giá được sự biến động lợi suất của các tài sản tài chính trên thị trường vì
chưa lượng hóa được rủi ro chính vì vậy mà họ còn dè dặt, lo ngại khi tham gia vào thị trường
chứng khoán. Để có thể hòa nhập vào thị trường tài chính khu vực và quốc tế, thị trường
chứng khoán Việt Nam cần đạt được những yêu cầu nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đại, trong đó việc đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên viên giỏi là hết sức cần thiết, đặc biệt là đội
ngũ phân tích để tư vấn cho các nhà đầu tư .
Là sinh viên năm cuối khóa đào tạo chính quy chuyên ngành toán kinh tế, em đã được
trang bị những kiến thức cơ bản về kinh tế lượng... em chọn chuyên đề tốt nghiệp: Sử dụng
mô hình kinh tế lượng trong phân tích sự biến động và dự báo lợi suất của một số cổ phiếu
trên thị trường Chứng khoán Việt Nam
Trong khuôn khổ một bài chuyên đề thực tập, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do khả
năng còn nhiều hạn chế và đây là lần đầu tiên em được tiếp xúc với những vấn đề mang tính
chất thực tiễn, nên bài viết không thể tránh khỏi một số thiếu sót. Em rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp từ các thầy giáo, cô giáo để chuyên đề hoàn chỉnh hơn và có ý nghĩa

huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Hoạt động của thị trường chứng khoán là hoạt động nhạy cảm, nhiều yếu tố tích cực,
song cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro.Chính vì vậy chung ta phải đi vào phân tích biến
động giá cổ phiếu và biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Với những lý do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn, em đã đi sâu nghiên
cứu và lựa chọn đề tài “ Sử dụng mô hình kinh tế lượng trong phân tích sự biến động và
Sinh viên:HOÀNG HỮU SƠN
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
dự báo lợi suất của một số cổ phiếu ” để viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp nhằm mục đích
góp phần tạo nên những căn cứ khoa học và thực tiễn để làm cơ sở cho việc tính toán và vận
dụng chỉ số giá VN-Index trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
* Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình tham khảo tài liệu em đã thừa kế được phương pháp nghiên cứu phân tích của
Cheng. F.Lee và W. P. Loypd.
Hai ông đã ước lượng mô hình cho ngành công nghiệp dầu mỏ với cổ phiếu của 7 công ty :
Imperial oil, Sun oil, Standard of ohio, Union oil, Phillips petroleum, Shell oil, Standard of
indiana.Chính vì vậy em đã áp dụng vào chuyên đề tốt nghiệp dựa trên cơ sở của hai ông
Sinh viên:HOÀNG HỮU SƠN
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH SỰ BIẾN ĐỘNG VÀ DỰ
BÁO LỢI SUẤT CỔ PHIẾU
I/ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm về thị trường Chứng khoán
Thị trường Chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là
nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán Chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này
được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được Chứng khoán lần đầu từ những
người phát hành và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các Chứng khoán đó

Việt Nam.
Trong khoảng 5 năm từ năm 1995 đến năm 2000, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã ban hành các nghị định, quyết định liên quan đến việc tổ
chức và hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên ở nước ta. Ngày 11/7/1998,
Chính phủ ban hành nghị định số 48/1998/NĐ-CP quy định việc phát hành chứng khoán ra
công chúng, giao dịch chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán và thị trường
chứng khoán trên nước ta.,Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 127/1998/ QĐ - TTg về việc
thành lập Trung tâm giao dịch chứng khoán, 2 trung tâm giao dịch chứng khoán dự kiến thành
lập là Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên vào thời điểm này quyết định của Thủ tướng chính phủ mới chỉ
là trên giấy tờ vì lúc đó chưa hội có đủ những điều cần thiết để có thể thành lập Trung tâm
giao dịch chứng khoán. Ngày 1/8/1998, Chủ tịch Ủy ban chứng khoán ra quyết định số
128/1998/QĐ-UBCK ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng
khoán khẳng định Trung tâm giao dịch chứng khoán là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Ủy
ban chứng khoán Nhà nước, có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng; kinh
phí hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán do ngân sách Nhà nước cấp. Ngày
13/10/1998, UBCKNN ra thông tư số 01/1998/TT-UBCK hướng dẫn Nghị định số
48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng…Đến
ngày 28/7/2000 Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã đi vào hoạt
động, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế nước ta.
3. Chức năng của thị trường chứng khoán
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty
phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
Sinh viên:HOÀNG HỮU SƠN
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương
cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế,
phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.

chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty . Trên thị trường thứ cấp, các
nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bản chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị
trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm một lợi nhuận cao nhất, và
giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
4.2. Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị trường.
Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quy định của
chuung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử
phạt nếu vi phạm những quy định đó.
4.3. Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hoá trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm tra trực tiếp
được các thông tin có liên quan. Vì vậy thị trường chứng khoán phải được xây dựng trên cơ sở
hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các bên phát hành chứng khoán có nghĩa vụ
cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liên quan tới tổ chức phát hành, tới
đợt phát hành. Công bố thông tin được tiến hành khi phát hành lần đầu cũng như theo các chế
độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các thông tin có liên quan. Vì vậy thị trường chứng
khoán phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo luật định, các bên
phát hành chứng khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin
có liên quan tới tổ chức phát hành, tới đợt phát hành. Công bố thông tin được tiến hành khi
phát hành lần đầu cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan
khác.
Nguyên tắc này nhằm bảo vệ người đầu tư, song đồng thời nó cũng hàm nghĩa rằng
một khị đã được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đầu tư phải chịu
trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình.
4.4. Nguyên tắc trung gian
Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch được thực hiện thông qua tổ chức trung
gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường chứng khoán sơ cấp các nhà đầu tư thường
không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trương
thứ cấp, các nhà môi giới mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng.

5.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước.
Sinh viên:HOÀNG HỮU SƠN
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
- Sở giao dịch chứng khoán.
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán…
6. Hàng hóa tham gia thị trường Chứng khoán
6.1. Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với
thu nhập và tài sản của một công ty cổ phần.
- Cổ phiếu thường:
Nếu một công ty chỉ được phép phát hành một loại cổ phiếu, nó sẽ phát hành cổ phiếu
thương. Cổ phiếu thường mang lại cho cổ đông các quyền sau:
+ Quyền hưởng cổ tức
Cổ phiếu thường không quy định cổ tức tối thiểu hay tối đa mà cổ đông được nhận. Tỷ
lệ cũng như hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh
và vào chính sách của công ty.
Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông thường chỉ được nhận những gì còn lại sau
khi công ty trang trải xong tất cả các nghĩa vụ như thuế, nợ và cổ phiếu ưu đãi.
+ Quyền mua cổ phiếu mới
+ Quyền bỏ phiếu
- Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi thường không cho cổ đông quyền bỏ phiếu, song lại định một tỷ lệ cổ
tức tối đa so với mệnh giá.
Trong điều kiện bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ nhận được lượng cổ tức cố định theo
tỷ lệ đã định. Trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận để trả theo tỷ lệ đó, nó sẽ trả
theo khả năng có thể, nhưng một khi cổ đông ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cổ đông thường
cũng chưa được trả.
6.2. Trái phiếu

1. Sự cần thiết sử dụng mô hình phân tích sự biến động của lợi suất và dự báo lợi
suất của một số cổ phiếu .
Nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán mục đích chính là để sinh lời vốn của
mình bỏ ra đầu tư. Nếu lợi suất của chứng khoán càng cao thì khả năng sinh lời càng lớn và
ngược lại. Bởi vậy nếu chúng ta phân tích đúng sự biến động của lợi suất và dự báo đúng lợi
Sinh viên:HOÀNG HỮU SƠN
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
suất của chứng khoán trong tương lai thì chúng ta sẽ có thể đầu tư hợp lý để đạt được lợi
nhuận cao nhất.
2.Chuỗi thời gian
2.1. Khái niệm chuỗi thời gian
Chuỗi thời gian là một biến số được quan sát theo một trinh tự thời gian nào đó. Y
t

giá trị quan sát của chuỗi ở thời kỳ (hoặc thời điểm) t.
2.2. Khái niệm chuỗi thời gian dừng và không dừng
* Chuỗi Y
t
dừng nếu
Var(Y
t
) = σ
2
với với ∀t
E(Y
t
) = µ với ∀t
COV(Y
t

với với ∀t
E(Y
t
) = µ với ∀t
COV(Y
t
,Y
t+k
) = γ
k
với ∀t
Sinh viên:HOÀNG HỮU SƠN
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
Để kiểm định tính dừng này, một trong các kiểm định là kiểm định dựa trên hàm tự
tương quan ρ
k
Box - Pierce đã đưa ra kiểm định về sự bằng không đồng thời của các hệ số tương
quan:
Giả thiết H
o
: ρ
1
= ρ
2 =
ρ
m =
0
H
1

χ
H
o
bị bác bỏ nếu Q nhận được từ mẫu lớn hơn
)(
2
m
α
χ
2.4.2. Kiểm định nghiệm đơn vị
Xét mô hình: Y
t
= ρ Y
t-1
+ u
t
Trong đó u
t
nhiễu trắng tức là u
t
là yếu tố ngẫu nhiên có trung bình bằng không, phương sai
không đổi và hiệp phương sai bằng không.
Nếu ρ = 1 thì Y
t
là một bước ngẫu nhiên và Y
t
là một chuỗi không dừng. Do đó để
kiểm định tính dừng của Y
t
ta kiểm định giả thiết:

ρ
=
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Toán kinh tế
H
o
: δ = 0
Nếu H
o
được chấp nhận thì ∆Y
t
= Y
t
- Y
t-1
= u
t
, chuỗi ∆Y
t
là chuỗi dừng.
Dickey - Fuller (DF) đưa ra tiêu chuẩn kiểm định:
H
o
: ρ = 1 (Chuỗi không dừng)
H
1
: ρ ≠ 1 (Chuỗi dừng)
Ước lượng mô hình: Y
t
= ρ Y
t-1

∆Y
t
= δY
t-1
+ u
t

∆Y
t
= β
1
+ δY
t-1
+ u
t

Đối với các mô hình trên H
o
: δ = 0 (Chuỗi không dừng hay có nghiệm đơn vị). Nếu các
u
t
lại tự tương quan thì cải biên mô hình:
Tiêu chuẩn DF áp dụng cho mô hình này được gọi là tiêu chuẩn ADF.
3. Ứng dụng mô hình CAMPM - Hệ phương trình đệ quy
Cheng. F.Lee và W. P. Loypd đã ước lượng mô hình cho ngành công nghiệp dầu mỏ
với cổ phiếu của 7 công ty : Imperial oil, Sun oil, Standard of ohio, Union oil, Phillips
petroleum, Shell oil, Standard of indiana.
R
1t
= α

32
R
2t + γ
3
R
mt
+u
3t
R
4t
= α
4
+ β
41
R
1t
+ β
42
R
2t
+ β
43
R
3t
+ γ
4
R


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status