Tìm hiểu công tác XĐGN ở tỉnh Viêng chăn nước CHDCND Lào - Pdf 33

LỜI CẢM ƠN
Trải qua một quá trình học tập và rèn luyện trong nhà trường, cùng với
sự giúp đỡ của các giảng viên em đã có được những kiến thức, kỹ năng cơ
bản phục vụ cho công tác sau này.
Để có được kết quả đó em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ Lãnh
đạo của Học viện, các thầy cô trong Ban đào tạo, cùng toàn thể các giảng viên
đã giúp đỡ em có được kiến thức cũng như những trải nghiệm trong quá trình
học tập.
Em xin gửi lời cảm ơn tới ThS. Trịnh Ngọc Thu giảng viên Bộ môn
QLNN về đô thị và nông thôn của Học viện Hành chính, đã tận tình hướng
dẫn em để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ,
công chức của Ủy ban nhân dân tỉnh Viêng chăn đã tạo điều kiện cho em
được tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài của mình tại Quý cơ quan. Đặc biệt cảm
ơn tới các chuyên viên tại Sở lao động xã hội Viêng chăn đã quan tâm giúp
đỡ, cung cấp tài liệu để em hoàn tất bản báo cáo này.
Trân trọng cảm ơn.

CÁC TỪ VIẾT TẮT
1


XĐGN:

Xóa đói giảm nghèo

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa

CBCC:

Trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường như hiện nay, vấn đề XĐGN
càng khó khăn và phức tạp hơn so với thời kỳ trước. Muốn đạt được hiệu quả
thiết thực nhằm giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo, nâng cao mức sống cho người
dân thì mỗi địa phương, mỗi vùng phải có chương trình XĐGN riêng phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội của mình nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Viêng chăn là một tỉnh thuộc miền trung nước Lào, giáp thủ đô Viêng
chăn, trong những năm gần đây được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà
nước CHDCND Lào, sự nỗ lực cố gắng của lãnh đạo và nhân dân toàn tỉnh
4


nên tình hình kinh tế - xã hội đã có những bước chuyển biến tích cực, sản xuất
phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo đói
hàng năm giảm từ 2-3%. Tuy nhiên, Viêng chăn vẫn là tỉnh nghèo, có tỷ lệ hộ
nghèo cao và thu nhập trung bình thấp so với các tỉnh khác trên đất nước.
Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của Viêng chăn
như vậy, Tỉnh đã có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải
pháp nào để đẩy mạnh quá trình xoá đói giảm nghèo, từng bước ổn định đời
sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ
vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo. Đây là vấn đề rất bức thiết đối
với tỉnh cần sớm được nghiên cứu giải quyết .Xuất phát từ thực tiễn đó em
chọn đề tài: “ Tìm hiểu công tác XĐGN ở tỉnh Viêng chăn nước CHDCND
Lào” làm khóa luận tốt nghiệp của mình, để từ đó có được đánh giá khách
quan, tạo cơ sở góp phần nâng cao hiệu quả XĐGN tại đây trong giai đoạn
tới.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác xoá đói
giảm nghèo
- Phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân đói nghèo của tỉnh

một điểm chung nghèo đói đó là: không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ
bản tối thiểu của con người.
Nghèo đói cũng chia ra hai cấp độ là nghèo và đói. Có rất nhiều quan
niệm khác nhau về nghèo:
Nghèo được định nghĩa theo "mức độ thích đáng, số tiền chi cho lương
thực" của Samuelson. Hay là "nghèo là nói đến một mức tối thiểu được sinh
tồn không được thỏa mãn" của ChantalEuzeby. Hoặc định nghĩa của công ty
ADUKI (Thụy Điển) "Họ là những người không có khả năng tiếp cận hoặc
kiểm soát các nguồn lực xã hội, kinh tế, chính trị và do đó không có khả năng
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người một cách có phẩm giá". Hoặc
một định nghĩa khác về nghèo "về cơ bản sự nghèo khổ được xác định trong
mối tương quan xã hội... Sự nghèo đói không phải hoàn toàn là mức sống
tuyệt đối. Cơ sở thực của nó là tâm lý. Người nghèo là những người cảm thấy
bị tước đoạt những cái mà người khác trong xã hội được hưởng thụ, những cái
mà họ cho rằng chính họ cũng có phần.
Ở Malaysia quan niệm về nghèo đó là các hộ gia đình có thu nhập thấp
hơn PLI (mức nghèo-những nhu cầu tối thiểu về thực phẩm, ăn, mặc, chỗ ở và
những chi tiêu thông thường khác cần thiết). Những hộ nghèo là những hộ gia
đình không tận dụng được những cơ hội của sự phát triển kinh tế, do không
được trợ cấp giáo dục hoặc có sở hữu đất đai hoặc các tài sản có thể đem lại
thu nhập.

7


Bănglađét, một trong những nước nghèo nhất lại có quan niệm về
nghèo với nghĩa bao quát hơn. Nghèo ở đây được quan niệm là bị tước đoạt
về kinh tế - xã hội và tâm lý xảy ra trong nhân dân hoặc trong các nước thiếu
khả năng quản lý và sử dụng các nguồn lực nhằm duy trì và tạo ra mức sống
tối thiểu cho từng cá nhân hoặc cộng đồng. Kết quả của nó là không có khả

ổn định, không có khả năng tiếp cận về giáo dục, y tế và điều kiện đi lại gặp
khó khăn. Hoặc quan niệm khác, nghèo không chỉ là mức thu nhập, tiêu dùng
thấp và mức độ thấp của các thành quả trong giáo dục, y tế, trạng thái dinh
dưỡng mà còn bao gồm tủi nhục-bạo lực, rủi ro, không có tiếng nói và không
có quyền lực.
Quan niệm về đói (với ý nghĩa biểu hiện trực tiếp là đói ăn, thiếu lương
thực, thực phẩm để duy trì sự tồn tại của con người) thường chỉ có ở các nước
nghèo, chậm phát triển. Đói cũng có hai dạng: đói kinh niên và đói gay gắt
chỉ mức độ và tính chất của đói. Như vậy, đói là nấc thấp nhất của nghèo. Đã
lâm vào tình trạng đói thì đương nhiên ở vào tình trạng nghèo.
Đói theo quan niệm ở Lào là sự đói ăn, thiếu lương thực, thực phẩm để
nhằm duy trì nhu cầu tồn tại của con người. Trong cuộc sống hàng ngày, đói
bao giờ cũng gắn liền với nghèo, do nghèo mà không thể giải quyết được sự
thiếu ăn, thiếu lương thực, không có điều kiện trao đổi, mua bán với các cá
nhân khác trong cộng đồng, khi mà bản thân không tự đáp ứng đủ lương thực,
thực phẩm cho nhu cầu cần thiết.
Nhưng ở dạng nào đi chăng nữa thì nghèo vẫn có quan hệ mật thiết với
đói. Nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là một tình trạng hiển nhiên của
nghèo, nên nghèo kéo dài thì dễ lâm vào tình cảnh đói rách, khốn khó cùng
quẫn.
Việc đưa ra các khái niệm nghèo và đói cả về định tính và định lượng
nhằm phân định mức độ nghèo và tìm ra các giải pháp giảm nghèo. Tuy nhiên
trong xã hội, chúng ta thường hay gặp các khái niệm như đói nghèo; nghèo
khổ; giàu nghèo và phân hóa giàu nghèo... Các khái niệm nêu trên là các cách
tiếp cận khác nhau về nghèo đói.
Việc đánh giá nghèo đói chỉ có ý nghĩa trong phạm vi nhất định với
một không gian và thời gian nhất định như xét nghèo đói trong phạm vi một
nước, một vùng, miền và trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Nó không
phải là chuẩn mực chung nhất, có tính tuyệt đối cho tất cả các quốc gia trong
tất cả các giai đoạn lịch sử. Khi các điều kiện trên thay đổi thì khái niệm và

nhập, nâng cao mức sống từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở
tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống theo thời gian.
+ XĐGN thực chất là cuộc tấn công chống nghèo đói. Cho đến nay trên
thế giới đã có nhiều quốc gia thành công trong cuộc chiến tranh chống đói
10


nghèo, song bài học kinh nghiệm rút ra từ những sự thành công đó lại rất
phong phú, đa dạng, thậm chí rất khác nhau.
1.3. Khái niệm về công tác xóa đói giảm nghèo
Nói về công tác XĐGN, đã có rất nhiều quan niệm đưa ra nhưng chủ
yếu tập trung vào một số quan niệm sau:
Công tác XĐGN là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp
nhằm thực hiện mục tiêu hỗ trợ như điều kiện căn bản ( ăn, ở, đi lại, học
hành…) để người nghèo có thể tồn tại và phát triển để dần đạt tới mức trung
bình như các thành viên khác trong cộng đồng.
Công tác XĐGN là quá trình đưa chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước vào việc nâng cao chủ trương, chính sách cho người dân đặc biệt là
hộ nghèo, xã nghèo trên cả nước. Thông qua các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các địa phương giúp đỡ người
nghèo, xã nghèo phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, nâng cao mức thu nhập
và các nhu cầu thiết yếu khác, qua đó từng bước giúp hộ nghèo, từng bước rút
ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng các địa phương, đặc biệt là giữa
thành thị và nông thôn, giữa các dân tộc trong cả nước.
Để làm tốt công tác này, chúng ta phải có nhận thức đúng đắn và thống
nhất quan điểm XĐGN là giúp đỡ người nghèo vươn lên để thoát khỏi nghèo,
đói chứ không phải trợ cấp hoặc mang tính chất bố thí cho người nghèo, cho
người nghèo "cái cần câu chứ không phải cho họ xâu cá". Để công tác XĐGN
đạt hiệu quả phải tích cực tuyên truyền vận động, giúp đỡ người nghèo, cung
cấp tiền vốn, phương tiện sản xuất, hướng dẫn họ cách thức làm ăn để họ tự

* Chuẩn nghèo ở Lào
Ở Lào chuẩn nghèo biến động qua 3 vùng sinh thái khác nhau đó là
vùng đô thị, vùng nông thôn đồng bằng và vùng nông thôn miền núi. Về thời
gian chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và nó biến đổi theo trình độ phát
triển kinh tế xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử.
Căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương. Bộ Lao động và
Phúc lợi xã hội đã 3 lần công báo ( Pháp lệnh của thủ tướng chính phủ số 10
TTg) chuẩn nghèo được tính theo thu nhập bình quân đầu người giai đoạn
2006-2010 có mức chuẩn nghèo như sau: Những người có thu nhập đưới mức
12


quy định sau được xếp vào nhóm hộ nghèo (Quyết định số 43/2009/QĐKHĐT)
+ Vùng nông thôn miền núi: 180.000 kíp/ người/tháng( 2,16
triệu/người/ năm)
+ Vùng nông thôn đồng bằng: 240.000 kíp/người/tháng(2,88
triệu/năm/người)
Mức bình quân:192.000 kíp/người/tháng(2,304 triệu/ năm/ người)
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội và kết quả thực hiện
chương trình XĐGN các tỉnh, thành phố có thể nâng chuẩn hộ nghèo cao hơn
so với quy định trên đây với 3 điều kiện:
Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh, thành phố cao hơn thu nhập
bình quân đầu người cả nước.
Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh, thành phố thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo chung của
cả nước.
Sự cân đối được nguồn lực và đủ nguồn lực hỗ trợ hộ nghèo, người
nghèo.
Ngoài ra Lào còn có tiêu chí xác định huyện đặc biệt khó khăn nếu đáp
ứng được 5 yêu cầu sau:
Vị trí địa lý của huyện ở xa trung tâm kinh tế xã hội, xa đường quốc lộ,

cấu kinh tế chưa cân đối thu nhập quốc dân chủ yếu từ khu vực sản xuất
nông, lâm, thủy sản. Đặc biệt là xuất khẩu tài nguyên khoáng sản, tài nguyên
rừng. Quy mô nền kinh tế còn quá nhỏ và manh mún, công nghệ trình độ sản
xuất còn lạc hậu lại xuất phát từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
lên đây là một trong những nguyên nhân vô cùng quan trọng tới năng lực của
nền kinh tế nói chung công tác XĐGN nói riêng của Lào cũng như tỉnh Viêng
chăn.
- Nhân tố thuộc về người nghèo
+ Trình độ dân trí, tỷ lệ tăng dân số và phong tục tập quán của bản thân
các hộ đói và nghèo là những nhân tố trực tiếp tác động đến đói nghèo.
14


+ Một sự thiếu hiểu biết về cung cách làm ăn và đương nhiên là thiếu
tự chủ trong định hướng hành động, trong cuộc sống của mỗi gia đình sẽ là hệ
quả của sự đói nghèo.
+ Chấp nhận mọi sự mặc cảm, tự ty phó thác cho số phận, và do đó sự
cố gắng trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về sản xuất, đời sống, sinh đẻ
có kế hoạch, về văn hóa xã hội theo các chương trình quốc gia, các dự án kinh
tế- xã hội, hiệu quả mang lại không xứng về mức đầu tư.
+ Ngoài ba nhân tố cơ bản trên đói nghèo còn có những nhân tố khác
ảnh hưởng như: dịch bệnh, chiến tranh, tuy sự ảnh hưởng của từng nhân tố
còn phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng vùng khác
nhau có sự ảnh hưởng khác nhau. Song giữa các nhân tố luôn là một sự hòa
quện gắn bó tác động đến đói nghèo.
+ Giảm đói nghèo không chỉ đối với hộ nghèo và người nghèo đói, mà
còn đối với cả quốc gia, do đó đối với mỗi quốc gia muốn XĐGN cần phải có
chiến lược tăng trưởng kinh tế tốc độ cao, bền vững và phân phối thu nhập
công bằng, tương đối bình quân, vì sự bình quân trong phân phối sẽ triệt tiêu
động lực phát triển làm cho xã hội nghèo đi.

Giữa những năm 20 của thế kỷ XX, sau khi sơ thảo lần thứ nhất luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tiếp thu và vận dụng được kiến thức cốt lõi chủ nghĩa Mác-Lênin.
Người đã xây dựng nên lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc chống thực
dân. Hồ Chí Minh khẳng định con đường cứu nước của mình: "Giải phóng
dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, gắn việc giải phóng dân tộc với
giải phóng giai cấp vô sản". Người đã gắn liền độc lập dân tộc với CNXH,
ham muốn tột bậc của người là "Đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được hưởng cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc". Người rất thương
yêu, quý trọng con người. Thương yêu con người ở Hồ Chí Minh theo tinh
thần làm cho nước nhà thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân pháp
bằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh
đạo. Sau Cách mạng thắng lợi chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm đặc biệt
chăm lo đến đời sống của nhân dân. Theo Người, phải phát triển kinh tế,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, đi đối với thực hành
tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Người đã khẳng định chính sách
16


của Đảng và Chính phủ là: "Phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân.
Nhưng việc cải thiện đời sống của nhân dân phải do nhân dân tự làm, không ỷ
lại, chờ đợi Chính phủ"; "Nâng cao đời sống nhân dân đồng thời công bằng xã
hội" . Người đã kêu gọi toàn dân ra sức tăng gia sản xuất đối với thực hành
tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, nhường cơm sẻ áo cho nhau,
quyên góp gạo để cứu đói. Nhất là trong kháng chiến chống Pháp (1947), Hồ
Chí Minh đã chủ trương phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế,
vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Ngay từ hồi ấy, Người đã có tư tưởng sâu sắc
với XĐGN. Do vậy, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam, Đặc biệt từ Đại hội VI đến Đại hội X luôn luôn được kế thừa, bổ sung
sáng tạo, nâng cao để phù hợp với quy luật khách quan, tiếp cận được với xu

vấn đề nghèo đói cho nhân dân. Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới đến nay,
nhiều chính sách đã thực sự phát huy tác động tích cực, như chính sách về
ruộng đất, nhân dân có quyền hoàn toàn tự chủ trong sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm; chính sách tạo vốn cho sản xuất nông nghiệp; chính sách thị trường;
chính sách giao đất, rừng; chính sách về đổi mới quá trình sản xuất nông
nghiệp; chính sách phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; chính sách phát triển
giáo dục và y tế khu vực nông thôn; chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài
trong khu vực kinh tế nông thôn … Những chính sách này, thực sự đã trở
thành những "đòn bẩy" thu hẹp dần khoảng cách về chất lượng cuộc sống của
người dân giữa nông thôn, vùng sâu, vùng xa và thành thị song cũng thực
hiện được sự công bằng xã hội, nhất là giải quyết được về công ăn việc làm
cho người lao động và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
2.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách
mạng Lào về xóa đói giảm nghèo.
- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói giảm nghèo
Tư tưởng nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện trong các
văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX và X.
+ Cùng với quan điểm đổi mới tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công
tác XĐGN, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giới, giảm sự phân hóa
giàu, nghèo;
+ Khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp, đi đối với XĐGN bền
vững, chủ động phát triển nông nghiệp nông thôn vì 90% người nghèo sống ở
vùng nông thôn;
18


+ XĐGN là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà
nước, XĐGN là một cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, là phong trào của các
cấp, nhất là ở địa phương, cơ sở;
+ Hoàn thành được hệ thống chính sách và chương trình mục tiêu XĐGN;

tồn tại ở mọi quốc gia, kể cả những quốc gia giàu có cũng có người nghèo,
nhưng đáng quan tâm hơn là tình trạng đói nghèo ở những nước nghèo. Đối
với nước CHDCND Lào để thực hiện chương trình XĐGN có hiệu quả cần
dựa trên một số quan điểm cơ bản của Đảng như sau:
Thứ nhất, xóa đói giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà
nước là yếu tố quan trọng bảo đảm sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội, đó
cũng là nhiệm vụ rất nặng nề của toàn xã hội hiện nay.
Đảng, Nhà nước Lào đã đẩy mạnh cuộc vận động xóa đói giảm
nghèo, coi đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn xã hội. Hiện nay cần phải
tuyên truyền, giáo dục, nâng cao hơn nữa nhận thức của mọi cán bộ, đảng
viên ở tất cả các ngành, các cấp trong các tầng lớp dân cư về ý nghĩa kinh
tế, chính trị, xã hội của vấn đề xóa đói giảm nghèo. Với tầm cỡ to lớn và
khó khăn phức tạp của nó, xóa đói giảm nghèo không thể chỉ dùng ở các
chủ trương, đường lối chung, mà phải có sự phối hợp đồng bộ, nhất quán từ
chủ trương, đường lối của Đảng, các chính sách, biện pháp cụ thể của Nhà
nước các cấp, đến sự nỗ lực của mỗi cá nhân người lao động.
Thứ hai, xóa đói giảm nghèo là sự kết hợp, thống nhất giữa các biện
pháp về kinh tế với chính sách xã hội và giữ vững ổn định chính trị.
Đói nghèo trước hết là vấn đề kinh tế, đồng thời cũng là vấn đề xã
hội nhức nhối. Nó tác động sâu sắc vào các quan hệ xã hội, làm phát sinh
và lây lan các tệ nạn, làm mất ổn định xã hội và có thể làm mất ổn định về
chính trị. Đặc biệt nếu phân hóa giàu nghèo vượt quá giới hạn an toàn sẽ
biến thành phân hóa giai cấp và xung đột giai cấp, làm suy giảm sự bền
vững của chế độ chính trị, xã hội. Vì vậy, xóa đói giảm nghèo không phải
chỉ có các chính sách, biện pháp phát triển kinh tế mà còn gắn liền với các
chính sách xã hội, đặt trong tổng thể của sự ổn định chính trị.
Cần đặc biệt chú trọng bảo vệ lợi ích, quan tâm tới đời sống của các
tầng lớp cơ bản trong xã hội như công nhân, nông dân, trí thức các lực
lượng bảo vệ an ninh cho chế độ. Đây chính là cơ sở xã hội của chế độ
chính trị, không được để xảy ra hiện tượng người lao động bị bần cùng hóa,

Nguồn tài chính của Nhà nước là rất quan trọng, song không thể chỉ trông
chờ vào một nguồn đó, nhất là trong điều kiện ngân sách quốc gia còn nghèo, mà
phải huy động mọi nguồn tài chính có thể cho xóa đói giảm nghèo. Nguồn đầu
tư của Nhà nước cho xóa đói giảm nghèo chỉ có kết quả và ý nghĩa tích cực, khi
21


nó được đặt trong tổng thể các nguồn lực vật chất huy động từ đóng góp của
toàn xã hội. Bằng cách phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao
hiệu quả sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, chứ không phải
bằng bao cấp tiêu dùng cho người nghèo, hộ nghèo.
Thứ năm, mở rộng và khai thác hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài
cho xóa đói giảm nghèo.
Mở rộng khai thác hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài là sự bổ trợ
quan trọng cho các nguồn lực trong nước trong công cuộc xóa đói giảm
nghèo. Trong xu thế hội nhập, mở cửa với khu vực và thế giới, chúng ta có
nhiều khả năng tìm kiếm các đối tác, phát triển các dự án phối hợp, các tài
trợ và các viện trợ nhân dân đạo cho chương trình xóa đói giảm nghèo.
Trong quá trình hợp tác này, chúng ta phải biết quản lý điều phối khoa học,
kiểm tra chặt chẽ để sử dụng, khai thác nguồn lực bổ trợ này một cách có
hiệu quả. Như vậy, xóa đói giảm nghèo cũng được đặt trong quá trình mở
rộng hợp tác, tranh thủ khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực từ
các nước, các tổ chức quốc tế bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú.
Thứ sáu, cần khuyến khích mọi người làm giàu, đồng thời ưu tiên
xóa đói giảm nghèo ở các đối tượng chính sách và các vùng đặc biệt.
Xóa đói giảm nghèo không phải là chủ trương riêng, tách biệt khỏi các
giải pháp phát triển kinh tế, xã hội mà luôn luôn nằm trong tổng thể của các
quá trình phát triển. Các hộ nghèo tồn tại bên cạnh các hộ không nghèo, các
vùng nghèo tồn tại bên cạnh các vùng không nghèo, giữa hai bộ phận này
luôn luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận

sở phân tích các ý tưởng và kinh nghiệm sắn có, báo cáo này kiến nghị các
hành động trên ba lĩnh vực sau:
+ Mở rộng cơ hội: Mở rộng cơ hội kinh tế cho người nghèo bằng cách
đẩy mạnh tăng trưởng nói chung và tích lũy tài sản cho họ (như đất đai hay
giáo dục); đồng thời tăng thêm mức lợi suất từ những tài sản này thông qua sự
kết hợp các hành động mang tính thị trường và phi thị trường.
+Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo được tham gia vào đời sống
chính trị: Các thể chế nhà nước có trách nhiệm và nhạy bén hơn đối với người
nghèo, tăng cường sự tham gia của người nghèo vào các quá trình chính trị và
23


ra quyết định ở địa phương, dỡ bỏ các hàng rào xã hội là hậu quả của sự phân
biệt giới, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo và địa vị xã hội.
+Tăng cường an sinh: Giảm bớt nguy cơ dễ bị tổn thương cho người
nghèo trước sự ốm đau, các cú sốc kinh tế, mất mùa, những sai lầm do chính
sách gây ra, thiên tai, bạo lực, đồng thời giúp họ hạn chế được các cú sốc bất
lợi khi chúng xảy đến.
Một phần lớn của nội dung này là phải đảm bảo có được một mang lưới
an sinh hiệu quả để giảm thiểu tác hại của thiên tai định họa.

3.2. Quan điểm của một số nước đang phát triển trên thế giới về XĐGN.
Chính sách để giảm bớt đói nghèo ở các nước nói chung: Nhiều nước
đã sử dụng chính sách và biện pháp như sau:
Một là: Cải cách nông nghiệp và phân phối lại ruộng đất.
Ở nhiều nước đang phát triển đã thực hiện cải cách ruộng đất với các
biện pháp khác nhau. Khả năng tiếp cận đất đai đóng vai trò quan trọng trong
việc giảm đói nghèo; đồng thời việc cải cách ruộng đất đã góp phần hạn chế
sự chiếm hữu ruộng đất lớn của địa chủ. Một người đàn ông nghèo ở Nigiêria
nói: ''Tất cả khó khăn của chúng tôi bắt nguồn từ việc thiếu đất. Nếu chúng

người nghèo, làm tăng năng suất hoặc tạo ra việc làm cho họ.
Bốn là: Chính sách marketing, cải tiến các điều kiện thị trường là điều
kiện thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng nông thôn.
Năm là: Chính sách giá cả và hối đoái, Nhà nước thường can thiệp vào
hệ thống giá với mục tiêu giảm sự tách biệt giữa khu vực công nghiệp và
nông nghiệp.
Sáu là: Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất như khuyến khích xây
dựng các nông trại, các hình thức hợp tác xã, các tổ chức kinh tế tập thể.
Bảy là: Công nghiệp hóa nông thôn, xây dựng các công trình công
cộng, các cơ sở chế biến được coi là biện pháp quan trọng làm giảm sự phân
hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn.
Tám là: Giáo dục và đào tạo, vốn nhân lực cũng như vốn vật chất có
thể đem lại nguồn thu nhập qua thời gian. Nền giáo dục tiểu học phổ cập
không mất tiền là cách thức chủ yếu để tái phân bổ nguồn nhân lực cho lợi ích
tương đối của người nghèo.
25


Trích đoạn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Có chính sách hỗ trợ và giải quyết việc làm Thu hút đầu tư trong nước và nước ngoà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status