Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp phát triển đất nước thời kỳ đổi mới - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM VĂN HÙNG

VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM
Ở NƯỚC NGOÀI TRONG SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN
ĐẤT NƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ TẤT TỐ

Hà Nội - 2011

1
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU

1.1.1.3. Từ năm 1975 đến nay
15
18
19
1.1.2. Sự phân bố khu vực định cư và những đặc điểm cơ bản
của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay

23
1.1.2.1. Số lượng và phân bố khu vực định cư
1.1.2.2. Đặc điểm cơ bản của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
23
30
1.2. Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài

33
1.2.1. Chính sách trước thời kỳ đổi mới
33
1.2.2. Chính sách thời kỳ đổi mới
37

2
Chương 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI
VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI VÀO CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN
ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 45
2.1. Tiềm lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước người
45

83
84
Chương 3: MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI
PHÁP ĐỂ PHÁT HUY TIỀM NĂNG, THẾ MẠNH CỦA CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI ĐÓNG GÓP VÀO SỰ
NGHIỆP PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI
88
3.1. Đánh giá về vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài trong sự nghiệp phát triển đất nước trong thời gian qua

88
3.1.1. Ưu điểm
88
3.1.2. Hạn chế
90

3
3.2. Một số kinh nghiệm của Việt Nam trong việc phát huy vai trò
của cộng đồng NVNONN trong công cuộc phát triển đất nước

93
3.2.1. Xây dựng chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước
93
3.2.2. Công tác thông tin, tuyên truyền đến với cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài

94

PHỤ LỤC
108
116 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN AC
Chương trình con lai
(American Children – AC)
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTT
Công nghệ thông tin
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CPA
Kế hoạch hành động toàn diện
(Comprehensive Plan of Action – CPA)
GS
Giáo sư
HO

phát triển, văn hoá, chế độ chính trị xã hội khác nhau, trong đó 4/5 định cư
ở tại các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Nhật Bản, các nước
Tây Bắc Âu cộng đồng NVNONN có tiềm lực to lớn về tri thức và kinh
tế: hơn 300.000 trí thức với trình độ đại học, chuyên gia kỹ thuật, ngày
càng có nhiều người thành đạt trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
kinh tế - xã hội sở tại, không ít người giữ những vị trí quan trọng trong bộ
máy chính quyền nước sở tại, các tổ chức quốc tế, tập đoàn kinh tế, doanh
nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; hàng chục vạn doanh nghiệp của
người Việt Nam ở nước sở tại (riêng ở Mỹ có hơn 170.000 doanh nghiệp).
Trong đời sống hội nhập với nước sở tại, cộng đồng NVNONN luôn
nêu cao tinh thần tự tôn dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, luôn gắn
bó với Tổ quốc Việt Nam. Với truyền thống yêu quê hương, luôn hướng về
cội nguồn, cộng đồng NVNONN đã và đang có những đóng góp đáng kể
cho công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước thời kỳ CNH-HĐH,
đồng thời góp phần tạo dựng cầu nối mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác
giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Nhiều doanh nghiệp, cá nhân
kiều bào đã tích cực tham gia đầu tư và hợp tác kinh doanh ở trong nước,
hỗ trợ các tổ chức và doanh nghiệp trong nước tìm kiếm và mở rộng quan
hệ đối tác với bên ngoài. Tính đến quý 3 năm 2010, các doanh nghiệp của
Kiều bào “đã có trên 3.228 doanh nghiệp của kiều bào đang kinh doanh ở
trong nước với tổng vốn khoảng 5,7 tỉ Mỹ”[86]. Về kiều hối chính thức
hàng năm của bà con Việt Kiều gửi về cho thân nhân trong nước hàng năm
tăng không ngừng. Bên cạnh những hoạt động kinh tế, nhiều kiều bào đã
thể hiện tấm lòng tương thân, tương ái của dân tộc, hỗ trợ đồng bào trong

6
nước qua các hoạt động từ thiện, nhân đạo, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai,
nạn nhân chất độc dioxin, ủng hộ quỹ vì người nghèo, giúp xây dựng
trường học, trạm xá, cầu đường cho bà con vùng sâu vùng xa
Những đóng góp của cộng đồng NVNONN được Nhà nước đánh giá

nghiệp phát triển đất nước, chủ yếu là các tác giả đề cập trên một số công
trình khoa học, bài viết ở một giai đoạn nhất định hoặc một vấn đề cụ thể.
Tác giả luận văn xin đề cập đến một số đề tài, công trình khoa học tiêu biểu
viết về cộng đồng NVNONN sau:
Về sách:
- Tác giả Trần Trọng Đăng Đàn: Người Việt Nam ở nước ngoài, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Qua 12 chương sách, 662 trang, tác
giả đề cập đến nhiều vấn đề: Từ việc xác định phạm vi đối tượng nghiên cứu
đến các mặt, lĩnh vực khác nhau trong đời sống của người Việt Nam ở nước
ngoài như đời sống văn hóa, văn nghệ của NVNONN, vấn đề pháp lý kiều dân
và NVNONN, người Việt Nam ở khu vực Liên Xô cũ và Đông Âu… tác giả
Trần Trọng Đăng Đàn còn có công trình “Người Việt ở nước ngoài không chỉ
có Việt kiều”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Viện Nghiên cứu Đông Nam Á xuất bản: Vai trò của Cộng đồng
người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam - Lào của Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008 gồm 3 chương với 255 trang. Công trình
nghiên cứu này, tác giả đã dựng lại quá trình hình thành cộng đồng người
Việt ở Lào, phân tích thực trạng của cộng đồng người Việt hiện nay trên
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục và vai trò của cộng đồng người Việt
trong hợp tác chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam - Lào.
- Viện Nghiên cứu Đông Nam Á: Việt kiều Thái Lan trong mối
quan hệ Thái Lan - Việt Nam” của hai tác giả Trịnh Diệu Thìn và
Thanyathip Sripana, sách do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành tại
Hà Nội năm 2006. Cuốn sách dài 421 trang, với 6 chương đề cập tới các
nội dung sau: Quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt Nam vào
Vương quốc Thái Lan; Phong trào đấu tranh của Việt kiều Thái Lan giai

8
đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; chính sách của chính phủ Thái Lan
đối với cộng đồng Việt kiều; Việt kiều hồi hương trong những năm đầu

lôi kéo, tác động của các thế lực thù địch đối với lưu học sinh Việt Nam
du học tự túc.
- Đề tài Luận văn Thạc sĩ “Chính sách của Việt Nam đối với người
Việt Nam ở nước ngoài trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Bảo
Chung, bảo vệ năm 2008 tại Học viện Ngoại giao. Đề tài này phân tích rõ
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng NVNONN
trong thời kỳ đổi mới và có những kiến nghị những chính sách cần thiết để
tiếp tục tăng cường công tác vận động NVNONN.
Báo và Tạp chí:
Nhiều bài viết của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhà báo về cộng
đồng NVNONN đăng trên một số tạp chí, báo, website… với nhiều nội
dung về cộng đồng NVNONN như trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Thông
tin đối ngoại, Tạp chí Hữu nghị, Tạp chí Quê hương…
Nhìn chung đa số các đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến cộng
đồng NVNONN đã thực hiện chưa đi sâu phân tích về vai trò của cộng đồng
NVNONN trong công cuộc phát triển đất nước trong thời kỳ hiện nay. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu Đề tài Luận văn “Vai trò của cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp phát triển đất nước thời kỳ đổi mới” sẽ
đóng góp một phần thông tin tư liệu phân tích về tiềm lực của cộng đồng
NVNONN, những đóng góp của kiều bào trong công cuộc xây dựng đất nước
hiện nay; đánh giá về vai trò của cộng đồng kiều bào đối với sự nghiệp phát
triển đất nước trong hơn 20 năm đổi mới và đưa ra một số đề xuất những giải
pháp kiến nghị để phát huy tối đa tiềm năng to lớn của kiều bào trong việc
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích rõ tiềm lực của cộng đồng NVNONN hiện nay và những
đóng góp cộng đồng NVNONN vào sự nghiệp phát triển đất nước trong

10

11
kỳ đổi mới” (từ 1986-2010), trong đó đặt trọng tâm nghiên cứu vai trò
của cộng đồng NVNONN trong công cuộc xây dựng đất nước từ 2004
đến nay, đây là thời điểm ban hành Nghị quyết 36 NQ/TW của Bộ Chính
trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết đã thể
hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với công tác này và
khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng luôn coi cộng đồng
NVNONN là bộ phận không thể tách rời, một nguồn lực của cộng đồng
dân tộc Việt Nam.
- Về mặt nội dung: Luận văn sẽ khái quát quá trình hình thành,
phát triển và những chính sách cơ bản của Nhà nước Việt Nam đối với
cộng đồng NVNONN. Phân tích những đóng góp của cộng đồng
NVNONN trong công cuộc xây dựng đất nước trên những lĩnh vực kinh
tế, khoa học – công nghệ - giáo dục và đào tạo, văn hóa, chính trị. Từ
đó, đánh giá vai trò của cộng đồng NVNONN, thấy rõ được vai trò
không nhỏ của bà con kiều bào trong công cuộc CNH-HĐH đất nước và
đưa ra những giải pháp kiến nghị để phát huy hiệu quả những tiềm năng
của kiều bào đối với việc xây dựng đất nước.
Đề tài Luận văn này chỉ đề cập vai trò của cộng đồng NVNONN trên
lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, chính trị, không đề cập
được toàn bộ các lĩnh vực đóng góp của kiều bào trong công cuộc xây dựng
đất nước.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn:
Các vấn đề trong luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và
phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu luận văn:
- Các nguyên tắc và nhận thức luận Mác xít, cụ thể là phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở


13
Chương 1: Khái quát sự hình thành, phát triển và chính sách của Nhà
nước Việt Nam về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Chương 2: Những đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài vào công cuộc phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp để phát
huy tiềm năng, thế mạnh của cộng đồng NVNONN đóng góp vào sự nghiệp
phát triển đất nước trong thời gian tới.
Phần kết luận: Những bài học rút ra trong việc phát huy vai trò của
cộng đồng NVNONN và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa
vai trò của kiều bào trong sự nghiệp phát triển đất nước trong thời gian tới.

của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ
đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”[52, điều 3]. Đây là khái niệm

15
rộng nhất, bao hàm tất cả các đối tượng người Việt Nam đang sinh sống ở
nước ngoài không phụ thuộc vào yếu tố quốc tịch hay cư trú.
Trong bài Luận văn này, để rút gọn trong khi viết và đôi lúc để
nhấn mạnh ý nghĩa tình cảm dân tộc, đồng bào (hơn là tính pháp lý) một
số chỗ vẫn sử dụng khái niệm "kiều bào" hoặc "Việt kiều” thay cho
"người Việt Nam ở nước ngoài".
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài
1.1.1. Sự hình thành cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
1.1.1.1. Trước năm 1945
Người Việt Nam di cư hoặc bị đưa ra nước ngoài từ trong thời kỳ
xa xưa. Từ thời 1000 năm Bắc thuộc, chính quyền phong kiến phương
Bắc thường bắt Giao Chỉ cống nạp thợ thủ công giỏi, nô dịch và sự phát
triển giao thương buôn bán giữa các nước hoặc chiến tranh loạn lạc,
nhiều người Việt ra nước ngoài rồi ở lại. Bên cạnh đó, trong quá trình
khai hoang và di cư tự nhiên để tránh thiên tai, mất mùa,…, người Việt
đã di chuyển đến những vùng đất thuộc Trung Quốc, Lào, Campuchia
ngày nay. Một trong những mốc đầu tiên đánh dấu sự hình thành cộng
đồng NVNONN là “từ thế kỷ thứ XIII hoàng tử Lý Long Tường, con trai
thứ hai của vua Lý Anh Tông, đã sang Cao Ly (bán đảo Triều Tiên ngày
nay) tị nạn, tránh sự tàn sát của nhà Trần vào năm 1226 [83, tr.15]. Có
thể nói, dòng họ Lý Hoa Sơn với hơn 1.000 người là cộng đồng đầu tiên
của NVNONN. Trong các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp theo, sử
sách còn ghi lại một số lần ra đi khác như trường hợp của ông Nguyễn
An, “vào thời nhà Minh xâm chiếm nước ta, một số nhà sư, thợ thuyền
đã bị bắt đưa về Trung Quốc. Ông Nguyễn An có thể là một trong số

các nước với nhau, buôn giao thương… các cuộc di cư chủ yếu mang tính
tự phát, lẻ tẻ, người Việt sau đó thường hoà nhập nhanh chóng vào cộng
đồng dân cư bản địa, qua nhiều thế hệ đã trở thành người bản xứ, ít còn
thấy dấu tích người Việt.

17
Từ cuối thế kỷ 19, dưới ách đô hộ và chính sách bóc lột thuộc địa
của thực dân Pháp, nhiều người Việt Nam bị bắt đi làm phu đồn điền,
phu mỏ ở các nước láng giềng như Lào, Campuchia và một số thuộc địa
khác của Pháp ở châu Phi và châu Đại Dương. “Năm 1891, 800 người
Việt Nam đầu tiên đã đặt chân đến Tân Đảo, đó là những người bị thực
dân Pháp đưa đi lưu đày dưới hình thức tù khổ sai. Đến năm 1939 đã có
12.000 người Việt Nam tới Tân Đảo làm phu mỏ theo hợp đồng“ [83,
tr.15], sau khi hết hợp đồng họ đã ở lại Tân đảo. Khi Pháp xâm lược
nước ta với mục đích dập tắt các phong trào yêu nước của các thân sĩ, trí
thức yêu nước và các vị vua có tư tưởng chống Pháp bị đưa đi lưu đầy ở
các thuộc địa của Pháp như Vua Hàm Nghi bị lưu đầy ở Angeri, Vua
Thành Thái và Duy Tân bị lưu đầy tới đảo La Réunion. Trong thời gian
này nhiều trí sĩ yêu nước tổ chức các phong trào yêu nước với tư tưởng
tiến bộ như phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu đưa những thanh
niên yêu nước đến Nhật Bản học tập, đến năm 1908, số du học sinh du
học lên đến 200 người.
“Trước năm 1946, có tới 60.000 người Việt Nam sinh sống tại
Lào“[83, tr.15] và khoảng 10.000 người ở Thái Lan đã có mặt từ trước hình
thành nên cộng đồng người Việt khá đông, họ là những người sang từ thời
Cần Vương, thời Đông Du vì bị chế độ phong kiến Việt Nam đàn áp và sau
cuộc bạo động Xô viết – Nghệ, người Việt Nam tập trung tại mười tỉnh
Đông Bắc của Thái Lan. Tại Trung Quốc, cộng đồng người Việt Nam bao
gồm chủ yếu là phụ nữ (chiếm tới 85%), bị đưa sang Trung Quốc làm con ở,
nàng hầu; một số là công nhân do thực dân Pháp đưa sang làm việc; số khác

“Tại Pháp, trước năm 1954 có khoảng 3.600 người, nhưng đến năm 1975,
con số này đã tăng lên 35.000 người“[08]. Tại Mỹ và Úc, cho tới trước
năm 1975 có khoảng vài ngàn người Việt. Ngoài ra, người Việt còn sinh
sống rải rác ở một số nước châu Âu và Bắc Mỹ. Số người Việt Nam đến
các nước Âu, Mỹ, Nhật trong thời gian chiến tranh chống Mỹ phần lớn là
để học tập, một phần trốn đi chống quân dịch. Cho đến khi Mỹ thất bại ở

19
miền Nam Việt Nam, toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ thì cả một
làn sóng di cư ồ ạt từ Việt Nam ra nước ngoài, mà trước hết là đến Mỹ,
Canada, Úc, Pháp, đã làm cho số lượng NVNONN tăng vọt. Số người
rời khỏi Việt Nam ngay trước hoặc sau ngày 30/4/1975 phần lớn là các
binh lính, sĩ quan quân đội ngụy Sài Gòn; các nhân viên trung cấp, cao
cấp của chính quyền ngụy và gia đình, thân nhân của họ.
Bên cạnh đó, từ năm 1950, sau khi Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại
giao với các nước XHCN, Việt Nam cũng đã gửi đi đào tạo tại Liên Xô và
các nước xã hội chủ nghĩa khác (một số nước Đông Âu, Trung Quốc, Bắc
Triều Tiên, Cuba ) hàng chục ngàn lượt sinh viên, nghiên cứu sinh. Phần
lớn những người này sau khi hoàn thành chương trình đào tạo đã trở về Việt
Nam, tuy nhiên, cũng có một số lượng nhỏ được bạn giữ lại để đào tạo cao
hơn hoặc làm việc trong các trung tâm nghiên cứu; một số người ở lại kết
hôn với công dân của các nước bạn. Theo báo cáo của Đại sứ quán Việt Nam
tại Liên Xô thì đến năm 1980 chỉ có khoảng 1.000 người Việt Nam ở lại
Liên Xô theo diện này.
Như vậy, những năm từ cuối thế kỷ 19 đến trước năm 1975, số
NVNONN dần dần tăng lên, đôi khi có những đợt ra đi tương đối đông; địa
bàn cư trú ngoài các nước láng giềng còn mở rộng sang cả châu Âu, châu
Mỹ, châu Phi, châu Đại Dương. Cộng đồng người Việt Nam ở một số nước
đã hình thành rõ nét, với quy mô từ vài ngàn đến vài chục ngàn người.
1.1.1.3. Từ năm 1975 đến nay

chủ yếu bằng đường thủy, được gọi là “thuyền nhân”. “Cơ quan Cao ủy
Liên hợp quốc cho biết: Từ giữa năm 1975 đến tháng 2/1985, các nước
phương Tây đã tiếp nhận 555.573 thuyền nhân từ các tỉnh, thành thuộc
miền Nam Việt Nam đến” [26, tr.25]; Từ giữa năm 1978, số lượng người
vượt biên tăng đột biến, trong đó đáng kể là số người Hoa hoặc người
Việt gốc Hoa ở miền Nam phần lớn hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ do
bất mãn với chính sách cải tạo công thương nghiệp của Nhà nước ta. Mặt
khác, những căng thẳng ngày càng tăng trong quan hệ Việt - Trung và sự

21
kích động của Trung Quốc cũng là nguyên nhân khiến nhiều người Hoa
ở cả miền Nam lẫn miền Bắc Việt Nam trở về Trung Quốc hoặc vượt
biên đến Hồng Công. Từ giữa năm 1978 đến giữa năm 1979 đã có
khoảng 230.000 người Hoa vượt biên.
Trong nửa đầu thập niên 1980, do Chính phủ ta chủ trương cho
phép công dân xuất cảnh hợp pháp đi định cư ở nước ngoài theo các
chương trình hoặc thỏa thuận đã cam kết, tình hình người vượt biên đã
giảm đáng kể. Tuy nhiên, từ năm 1987, tình hình ra đi bất hợp pháp lại
trở nên phức tạp do số người được xuất cảnh hợp pháp theo Chương
trình ra đi có trật tự - ODP bị hạn chế, cộng với những khó khăn kéo dài
chưa được khắc phục của mười năm khủng hoảng kinh tế - xã hội ở
trong nước. Thành phần ra đi lúc này không chỉ giới hạn ở miền Nam,
người Hoa, dân thường mà lan sang cả cán bộ, công chức ở miền Bắc và
miền Trung. Số người vượt biên, vượt biển dồn tụ lại ở các trại tị nạn tại
các nước Đông Nam Á, Hồng Công (Trung Quốc) chờ đợi để được các
nước phương Tây tiếp nhận. Trước tình hình đó, Liên hợp quốc đứng ra
tổ chức Hội nghị quốc tế về người tị nạn Đông Dương. Tại Hội nghị, các
nước đã thống nhất được một loạt các thoả thuận, hình thành Kế hoạch
hành động toàn diện - CPA. Theo Kế hoạch này, những người đủ tiêu
chuẩn ty nạn thì được cho đi tái định cư ở nước khác, những người

như nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp hoặc chưa tốt nghiệp đã ở
lại làm ăn sinh sống. Những người này sau đó còn làm cầu nối đưa một số
lượng lớn bà con họ hàng, bạn bè từ Việt Nam sang cư trú, làm ăn. Ngoài ra,
từ năm 1997, với các quy định về xuất cảnh thông thoáng hơn, hàng năm
có thêm hàng ngàn công dân của ta sang Nga, Séc, Ba Lan và một số nước
Đông Âu khác theo hình thức du học, thăm thân, du lịch rồi ở lại.
Các Hiệp định về hợp tác chuyên gia mà Việt Nam ký với một số
nước châu Phi như Algeria, Angola, Mozambique…, từ đầu những 1980,
Việt Nam đã cử hàng ngàn lượt chuyên gia, trong đó có 3.000 chuyên gia
giáo dục sang giảng dạy tại các nước này. Các nước tiếp nhận chuyên gia

23
Việt Nam nhiều nhất là Algeria (700 lượt người), Angola (trên 550 lượt
người), Congo, Mozambique… Sau khi hết hạn hợp đồng, một số chuyên
gia Việt Nam ở lại Angola làm ăn, sinh sống, dần dần đưa thêm người nhà
và lao động tự do sang tham gia hoạt động kinh tế và dịch vụ.
Sau khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, việc hợp tác xuất
khẩu lao động giữa Việt Nam với nhiều nước đã được tiến hành, do vậy
số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ký kết giữa
các công ty của Việt Nam với các nước ngày càng tăng. Trong thời gian
từ cuối những năm 1990 đến nay đã có hàng trăm nghìn lượt lao động
Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng. Các thị trường xuất khẩu
lao động chính của Việt Nam là Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn
Quốc, Nhật Bản và một số nước ở khu vực Trung Đông, Đông Âu. Hiện
nay, Việt Nam không ngừng mở rộng thị trường xuất khẩu lao động sang
các nước ở khu vực Bắc Mỹ, Tây Âu và châu Úc.
Một số năm gần đây phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài gia tăng
nhanh chóng. Hiện nay có khoảng 150.000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung
Quốc, trên 100.000 phụ nữ lấy chồng Đài Loan (Trung Quốc) và khoảng
20.000 phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc bên cạnh một số lượng không nhỏ phụ nữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status