Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LƯƠNG NGỌC VINH
VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở HOA KỲ
ĐỐI VỚI MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM VÀ HOA KỲ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ THẾ QUẾ

1.2.1. Quá trình hình thành 18
1.2.2. Hiện trạng của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ 20
1.3. Đặc điểm của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 21
1.3.1. Về thành phần chủng tộc 22
1.3.2. Về tôn giáo, tín ngưỡng 22
1.3.3. Về kinh tế 22
1.3.4. Về văn hoá 26
1.3.5. Về chính trị 31
1.4. Tiểu kết: 33
Chương 2: Vài trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam –
Hoa Kỳ 35
2.1. Chính sách của chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ đối với cộng đồng
người Việt ở Hoa Kỳ 35
2.1.1. Chính sách của Chính phủ Việt Nam đối với cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài 35
2.1.2. Chính sách của chính phủ Hoa Kỳ đối với cộng đồng người Việt ở Hoa
Kỳ 41
2.2. Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị - ngoại
giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật 46

ii

2.2.1. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao 47
2.2.2. Trên lĩnh vực kinh tế - đầu tư, viện trợ nhân đạo 50
2.2.3. Trên các lĩnh vực văn hoá - xã hội, giáo dục, khoa học - kỹ thuật 57
2.3. Những mặt hạn chế của cộng đồng 61
2.3.1. Đối với Hoa Kỳ 62
2.3.2. Đối với quê hương Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 64
2.4. Tiểu kết 67
Chương 3: Một số biện pháp nhằm phát huy vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ

quan hệ ngoại giao giữa hai nước đã từng là kẻ thù trong chiến tranh. Kể từ đó cho tới
nay, quan hệ giữa Viêt Nam và Hoa Kỳ trên tất cả các lĩnh vực như buôn bán, đầu tư,
ngoại giao, văn hóa… đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Chỉ trong vòng 15 năm
(1995 - 2010), quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những bước tiến quan trọng. Đây là
kết quả của những nỗ lực không ngừng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Hiện nay, Hoa Kỳ và Việt Nam vẫn đang tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển hơn
nữa quan hệ ngoại giao giữa hai nước vì lợi ích chung của nhân dân hai nước. Trong nỗ
lực chung của nhân dân Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển của mối quan hệ Việt
Nam – Hoa Kỳ, chúng ta không thể không kể đến những đóng góp và vai trò quan
trọng của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.
Vậy, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ được hình thành và phát triển như thế nào? Họ
đã có những đóng góp như thế nào cho mối quan hệ giữa Việt Nam, quê cha đất tổ của
họ và Hoa Kỳ, nơi họ đang sinh sống và làm việc? Để phát huy hơn nữa vai trò của
cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với việc duy trì và phát triển hơn nữa mối quan
hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chính phủ Việt Nam và bản thân cộng đồng cần phải làm
gì? Giải quyết được những vấn đề nêu trên có vai trò rất quan trọng đối với việc tiếp
tục thúc đẩy và phát huy vai trò của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với sự phát
triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong tương lai. Do đó, việc nghiên cứu về vai
trò của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ là
một việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn ở nhiều phương diện khác nhau.
Về phương diện lịch sử, việc nghiên cứu về vai trò của cộng đồng người Việt
Nam tại Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ góp phần nêu bật và khẳng

2
định tầm quan trọng cũng như vai trò đặc biệt của cộng đồng, góp phần khẳng định
đường lối lãnh đạo và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ
nói riêng, đồng thời giúp chúng ta hiểu được những thành tựu trong công tác vận động
Việt Kiều của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới hiện nay.
Về phương diện thực tiễn, việc nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc củng cố và

học trở lên ”.
2
Sđd, tr. 20

3
Thức, 2008); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1995 - 2005” của Trần Nam Tiến (Viện
Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ, 2008); “Người Việt Nam ở nước ngoài” và “Người
Việt Nam ở nước ngoài không chỉ có Việt Kiều” của Trần Trọng Đăng Đàn (NXB
Chính trị Quốc gia, 1997 và 2005); “Người Việt ở Mỹ” của Thông tấn xã Việt Nam
(Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 29/04/2005); “Luật nhập cư của Mỹ và người Việt
Nam nhập cư ở Mỹ” của Đỗ Thị Diệu Ngọc (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 03 -
2006); “Người làm cầu nối giao thương Việt Mỹ” của Thanh Mai (Tạp chí Quê hương,
số Xuân 2009); “Những người Việt thành đạt tại Mỹ” của Nguyễn Ngọc Chính (Tạp
chí Việt Mỹ, số 33 -2010), “Hợp lực giữa doanh nghiệp trong nước và Việt Kiều để
đưa hàng vào Mỹ” của Vĩnh Nguyên (Tạp chí Thương mại, số 25 - 2005); “Đầu tư của
Việt Kiều - những tín hiệu vui” của Kim Dung (Tạp chí Tài chính - Ngân hàng, số 272
- 2005); “Phát huy tiềm năng tri thức người Việt Nam ở nước ngoài vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế” của Nguyễn Thanh Sơn
(Tạp chí Cộng sản, số 795 - tháng 1/2009); “Tiềm lực Việt Kiều chưa được khai thác
hiệu quả” của Trịnh Thị Thu Hà (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 03 - 2009)… Đáng
chú ý có bài “Vài trò tích cực của cộng đồng người Việt tại Mỹ đối với quan hệ Việt –
Mỹ” của Trần Bách Hiếu (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 11-2009). Bài viết này đã đi
sâu phân tích và đánh giá khá toàn diện về vài trò của cộng đồng người Việt tại Mỹ đối
với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Cụ thể tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của
cộng động người Việt đối với từng chủ thể cụ thể là đối với Mỹ, đối với Việt Nam và
cuối cùng là đối với quan hệ Việt – Mỹ. Đây là bài viết có nội dung tương đối sát với
nội dung đề tài luận văn. Cần phải nói rằng trong luận văn của mình, tôi đã có những
kế thừa đáng kể từ bài nghiên cứu này. Tóm lại, các nội dung về cộng đồng người Việt
ở Hoa Kỳ được trình bày trong các ấn phẩm trên đây tập trung vào các vấn đề liên quan
đến lịch sử hình thành và phát triển, hiện trạng, đời sống văn hoá, tinh thần cũng như

người Việt tại Hoa Kỳ và vai trò cũng như những đóng góp của họ đối với mối quan hệ
Việt Nam - Hoa Kỳ. Trên cơ sở kế thừa những công trình đã có cũng như những công
trình mà tôi chưa có điều kiện đưa vào phần tài liệu tham khảo do khuôn khổ có hạn

5
của luận văn, người viết cố gắng phát triển thêm những gì tiếp cận được để hoàn tất
luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu Vai trò của của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
đối với mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ là nhằm tái hiện một bức tranh toàn cảnh về
cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, những đặc tính căn bản của cộng đồng trong quá
trình lịch sử từ khi hình thành đến nay và vai trò của họ đối với với mối quan hệ Việt
Nam và Hoa Kỳ ở một số lĩnh vực cụ thể như chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, trên
cơ sở tập hợp, hệ thống hoá và trình bày các sự kiện về hoạt động cũng như những
đóng góp của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ một cách khoa học, có chọn lọc và phân
tích. Luận văn cũng nghiên cứu và tìm hiểu những tác động tích cực và tiêu cực của
cộng đồng này đối với quá trình bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và trong
quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ hai nước có quan hệ phát triển và bài học nào cần
lưu ý và điểm mạnh nào cần phát huy trong chính sách của Việt Nam nhằm tranh thủ
những đóng góp của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ trong giai đoạn sắp tới. Qua đó,
luận văn có thể cung cấp một nguồn tư liệu hữu ích cho độc giả, học giả và các nhà
nghiên cứu có quan tâm đến công tác nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ nói riêng, cũng như vai trò
và đóng góp của họ đối với việc thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam và quê hương
thứ hai của họ, Hoa Kỳ.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn tập trung tìm hiểu về lịch sử hình thành cộng
đồng người Việt ở Hoa Kỳ, những đặc điểm nổi bật của cộng đồng, các chính sách của
chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ đối với cộng đồng, vai trò, vị thế của họ trong xã hội
Hoa Kỳ, vai trò và những đóng góp của họ đối tiến trình phát triển mối quan hệ song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ trên các lĩnh vực như chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn

hương Việt Nam và Hoa Kỳ.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, người viết sử dụng hai phương pháp
chính là phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gíc để giải quyết những vấn đề do đề
tài đặt ra. Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác như

7
nghiên cứu quan hệ quốc tế, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để phân tích các
sự kiện một cách khoa học và có hệ thống.
Tất cả các phương pháp trên đều được thực hiện trên nền tảng cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những nguồn tài liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm:
Nguồn tài liệu quan trọng và mang tính chính thống là các văn kiện của Đảng và
Nhà nước về đối ngoại, về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, về quan hệ giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ. Nguồn tài liệu này được khai thác và sử dụng triệt để để phục vụ
cho luận văn. Đặc biệt, người viết cũng chú ý đến những nhận định của những bài viết,
bài phát biểu các tham luận ở các hội nghị hội thảo quốc tế, các cuộc trả lời phỏng vấn
báo chí của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước có liên quan đến cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ nói riêng,
vai trò và đóng góp của họ đối với việc phát triển mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Tuy những bài phát biểu, trả lời phỏng vấn hoàn toàn không phải là công trình nghiên
cứu, nhưng ở một khía cạnh nào đó đếu thể hiện rõ quan điểm và đánh giá của Đảng và
Nhà nước ta về cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ và vai trò quan trọng của họ.
Nguồn tài liệu thứ hai là các công trình nghiên cứu từ các trung tâm nghiên cứu
trong và ngoài nước về cộng đồng người Việt nói chung và cộng đồng người Việt tại
Hoa Kỳ nói riêng và những đóng góp của họ trong sự phát triển mối quan hệ Việt Nam
- Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá giáo dục đặc biệt là
các nghiên cứu từ đầu những năm 1990 đến nay. Nguồn tài liệu này được các nhà
nghiên cứu sử dụng, thể hiện trong các cuốn sách tham khảo, luận án, luận văn, những
công trình nghiên cứu, những bài báo khoa học, những bài báo trên các tạp chí chuyên
9
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở HOA KỲ

1.1. Khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Hòa Kỳ
1.1.1. Giai đoạn từ 1975 trở về trước
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã manh nha từ thế kỷ 19, năm 1832, khi Edmund
Robert, đặc phái viên của tổng thống Hoa Kỳ, Andrew Jackson (1829 - 1837), được
giao nhiệm vụ đến đàm phán và ký kết một Hiệp ước thương mại với Nam Kỳ. Dưới
thời vua Tự Đức, năm 1873, Bùi Viện được cử sang Hoa Kỳ nhằm đề nghị Hoa Kỳ
giúp đỡ Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. Tuy nhiên, vì những lý do lịch
sử mà cả hai cuộc viếng thăm nêu trên đều không đạt được mục đích như mong đợi.
Dù vậy, đây cũng có thể được xem là những tiếp xúc ngoại giao đầu tiên giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ trở thành một cường quốc, có vai trò
chi phối các nước tư bản khác trên thế giới. Thấy được điều đó, Đảng, Chính phủ ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệt để tranh thủ ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với các nước tư
bản khác trong việc công nhận về mặt ngoại giao đối với nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Cụ thể, thời kỳ Cách mạng tháng Tám – 1945, Hồ Chủ Tịch đã 8 lần gửi
thông điệp, thư, điện cho Tống thống, Ngoại trưởng và Chính phủ Hoa Kỳ tha thiết đề
nghị Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Việt Nam và ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm

thường hóa quan hệ với Việt Nam. Thiện chí này được Thủ tướng Phạm Văn Đồng
tuyên bố lại trong kỳ họp quốc hội vào tháng 7/1975 rằng Việt Nam mong muốn bình
thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Đây có thể nói chính là những động thái đầu tiên thể
hiện thiện chí hòa giải của Việt Nam. Nhưng đáp lại thiện chí đó, Hòa Kỳ lại một lần
nữa tiếp tục thi hành chính chính sách thù địch, gây khó khăn và cản trở quá trình bình
thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; và hơn thế nữa tiếp tục đẩy mạnh các
hoạt động bao vây, cô lập và cấm vận chống một nhà nước Việt Nam độc lập, thống
nhất, có chủ quyền.

3
Robert S. McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Hồ Chí Hạnh
dịch, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 313

11
Ngay sau ngày 30/04/1975, Hoa Kỳ đã tuyên bố, không thiết lập quan hệ ngoại
giao với nước Việt Nam thống nhất; mở rộng phạm vi áp đặt lệnh cấm vấn đối với
miền bắc Việt Nam từ năm 1964 ra toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; phong tỏa toàn bộ tài
sản trị giá khoảng 70 – 75 triệu đô la Mỹ của chính quyền ngụy quyền Sài Gòn tại Mỹ.
Từ năm 1978, cho rằng “Việt Nam xâm lược Campuchia”, Hoa Kỳ đòi Việt
Nam rút quân khỏi Campuchia. Mọi liên hệ trực tiếp Việt Nam – Hoa Kỳ lại bị đình trệ
và trở nên căng thẳng. Hoa Kỳ thực hiện cấm vận quốc tế đối với nước ta, thông qua
việc thi hành chính sách “siết chặt đinh ốc”, cùng với các thế lực phản động quốc tế
đẩy mạnh hơn việc phong tỏa, cô lập, bao vây, cấm vận Việt Nam, gây thêm khó khăn
cho Việt Nam khi vừa thoát ra khỏi chiến tranh, chưa kịp hàn gắn các vết thương do
chiến tranh để lại.
Sau sự kiện Việt Nam rút hết quân tình nguyện khỏi Campuchia và Hiệp định
Paris về hòa bình ở Campuchia, được ký kết ngày 23/10/1991, với sự tham gia của cả
Hoa Kỳ, Việt Nam và nhiều nước khác cùng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã thực hiện
một số hành động thiện chí bước đầu nhằm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam
như: Tuyên bố hủy bỏ lệnh cấm du lịch có tổ chức vào Việt Nam, đồng thời cho phép

Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao
Trong 15 năm qua, kể từ ngày hai nước tuyên bố bình thường hóa và thiết lập
quan hệ ngoại giao, lĩnh vực chính trị - ngoại giao có thể nói là lĩnh vực diễn ra các
hoạt động sôi nổi nhất với hàng loạt các cuộc tiếp xúc và thăm viếng lẫn nhau giữa hai
nước đã diễn ra, nhằm thúc đẩy quan hệ song phương lên những tầm cao mới. Các
chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đến Mỹ phải kể đến
như đoàn của Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm (1998, 2000), Phó Thủ tướng
Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (2001), Phó Thủ tướng Vũ Khoan (2003), Thủ tướng
Phan Văn Khải (6/2005), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia
Khiêm (3/2007); Chủ tịch Nguyễn Minh Triết (7/2007), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
(6/2008) và nhiều đoàn cấp cao khác. Phía Mỹ cũng cử nhiều đoàn cấp cao thăm Việt
Nam: Ngoại trưởng W. Christopher (1995); Cố vấn an ninh quốc gia A. Lake (1996);
Ngoại trưởng M. Albright (1997); Bộ trưởng Quốc phòng W. Cohen (2000); Tổng
thống Bill Clinton (tháng 11/2000); Ngoại trưởng C. Powell (2001); Chủ tịch Hạ viện

13
D. Hastert (tháng 4/2006); Bộ trưởng Quốc phòng D. Rumsfeld (6/2006); Bộ trưởng
Tài chính H. Paulson (9/2006); Ngoại trưởng C. Rice, Tổng thống G. Bush (11/2006)
Tiêu biểu cho các hoạt động thăm viếng diễn ra sôi nổi là chuyến thăm chính
thức của Tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton đến Việt Nam vào tháng 11/2000. Đây là
một sự kiện lớn trong lịch sử quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ nói chung và quan hệ chính
trị - ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ nói riêng. Đây là chuyến thăm đầu tiên trong lịch
sử của một tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đến nước Việt Nam độc lập và thống
nhất. Trong các cuộc gặp gỡ với tổng thống Bill Clinton, các nhà lãnh đạo của Việt
Nam đều khẳng định quan điểm của Việt Nam, sẵn sàng “khép lại quá khứ để hướng
đến tương lai” trong quan hệ với Hoa Kỳ và mong muốn xây dựng một mối quan hệ
bình thường, hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Thành tựu nổi bật nhất trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên lĩnh vực chính trị
- ngoại giao, kể từ sau chuyến thăm chính thức Việt Nam của tổng thống Bill Clinton,
chính là chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Việt Nam, Phan Văn Khải từ

triệu đô la Mỹ
5
. Nhìn chung, thời điểm trước khi Hiệp định Thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ (ký ngày 12/07/2000) có hiệu lực, thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm khoảng 7%
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Điều này cho thấy kim ngạch buôn bán
hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn rất nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng của
hai nước.
Sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực (10/12/2001),
quan hệ buôn bán giữa hai nước đã có những bước phát triển nhảy vọt, đặc biệt là ở
lĩnh vực xuất khẩu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ. Theo Niên giám thống kế của Việt Nam
năm 2009, khối lượng hàng hóa của Việt Nam vào Mỹ đã gia tăng khoảng 69 lần trong
giai đoạn 1995 – 2008, từ mức 170 triệu đô la Mỹ lên khoảng 11,8 tỷ đô la Mỹ, và tốc
độ tăng trung bình năm là 41%. Khối lượng hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ cũng
có sự gia tăng mạnh mẽ. Trong giai đoạn này nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ tăng
khoảng 20 lần trong giai đoạn 1995-1998, từ mức 130 triệu đô la lên mức 2,63 tỷ đô la,
và tốc độ tăng trung bình hàng năm là 32,5%.

4
Nguyễn Hữu Cát, Lê Thu Hằng (1995), “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Mỹ: thuận lợi và khó khăn”,
Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 4, tr. 40-45
5
Nguyễn Anh Tuấn (2001), Quan hệ kinh tế của Mỹ và Nhật Bản với Việt Nam từ 1995 đến nay, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, tr. 62

15
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trên thực tế như là một động lực
thực sự cho thương mại giữa hai quốc gia và quan hệ buôn bán đã có những bước đột
phá với sự gia tăng khối lượng hàng hóa trao đổi giữa hai nước một cách nhanh chóng.
Sự gia tăng mạnh mẽ của xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ chứng tỏ
Việt Nam hoàn toàn có lợi thế cạnh tranh trên thị trường này và thị trường Hoa Kỳ là

phép lên tới 9,8 tỷ đô la Mỹ, chiếm 45% tổng số vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt
Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ thời gian qua đã góp phần quan trọng
trong việc bổ sung nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và phát triển
kinh tế. Bên cạnh đó các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hoa Kỳ vào Việt Nam
còn góp phần không nhỏ vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng
cao năng lực sản xuất.
Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Quan hệ hợp tác trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
không ngừng được mở rộng và nâng cao. Hai bên đã thỏa thuận và ký kết nhiều văn
bản về hợp tác thực thi quỹ giáo dục dành cho Việt Nam. Càng ngày càng có nhiều du
học sinh và sinh viên Việt Nam đến học tập tại các trường của Hoa Kỳ. Hàng năm quỹ
học bổng Fulbright và Quỹ Giáo dục Việt Nam của Hoa Kỳ đã tài trợ cho hơn 100 sinh
viên Việt Nam theo học cao học tại Hoa Kỳ, đặc biệt là các ngành khoc học và công
nghệ. Chương trình Fulbright tại Việt Nam là chương trình lớn nhất ở châu Á. Đồng
thời cũng không ít sinh viên và giáo sư Mỹ đến Việt Nam theo các chương trình trao
đổi giáo dục của các quỹ này.
Đại sứ đương nhiệm của Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak, khi mới
đến nhậm chức đã từng tuyên bố, một trong những ưu tiên hàng đầu của ông là tăng
gấp đôi số sinh viên Việt Nam sang học tập tại Mỹ. Và cho đến nay kết quả thực tế đã
vượt hơn mong đợi. Theo ông Michael Michalak, số sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ
du học đã tăng gấp 3 lần trong 3 năm qua và hiện con số đó là 13.000 sinh viên. Việt
Nam hiện đứng thứ 8 xét về số sinh viên đang theo học ở Mỹ
7
. Con số này không chỉ
nói nên việc có thêm nhiều sinh viên Việt Nam đang được hưởng các cơ hội học tập
tuyệt vời tại Mỹ mà còn thể hiện việc tăng cường dài hạn mối quan hệ song phương
giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ.

7

ngày càng phát triển. Tuy chặng đường phía trước còn khó khăn, nhưng sự phát triển
của quan hệ hai nước trong thời gian vừa qua cho thấy mối quan hệ này là một nhu cầu
khách quan, đáp ứng nguyện vọng của Chính phủ và nhân dân hai nước, góp phần vào

18
việc xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hoà bình, mang lại lợi ích cho cả hai bên, đồng
thời góp phần vào việc xây dựng sự phồn thịnh, hoà bình trên phạm vi toàn cầu. Quan
hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có được những bước phát triển tốt đẹp như hiện nay là nhờ sự
nỗ lực lớn của cả hai bên trong đó có phần đóng góp không nhỏ của cộng đồng người
Việt ở Hoa Kỳ.

1.2. Lịch sử hình thành của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
8

1.2.1. Quá trình hình thành
Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
9
là những người có nguồn gốc dân tộc Việt đã
và đang định cư tại Hoa Kỳ. Cộng đồng này bao gồm cả những người vẫn còn mang
quốc tịch Việt Nam hoặc những người đã có quốc tịch Hoa Kỳ, họ còn được gọi là
người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American) hay Việt kiều Mỹ. Sự hình thành cộng
đồng người Việt ở Hoa Kỳ là một quá trình kéo dài nhiều trong nhiều năm. Tuy nhiên,
chúng ta có thể chia thành ba đợt nhập cư.
Đợt nhập cư ồ ạt lần thứ nhất diễn ra ngay sau khi chính quyền Sài Gòn (cũ)
sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng ngày 30/04/1975 với khoảng 125 nghìn đến
130 nghìn người, phần lớn là những người có quan hệ thân thiết với Mỹ và nguỵ quyền
Sài Gòn, có trình độ tay nghề và học vấn cao. Họ được vận chuyển bằng máy bay đến
các căn cứ của Mỹ ở Philppines, Đảo Wakes và Guam rồi từ đó chuyển đến các trại tị
nạn ở California, Arkansas, Florida và Pennsylvania để học tập và làm quen với văn
hoá Mỹ trong sau tháng trước khi được đưa đi định cư ở các miền của nước Mỹ. Tuy


335
4,340
172,820
280,728
286,145
0
50,000
100,000
150,000
200,000
250,000
300,000
Sồ người
1951-1960 1961-1970 1971-1980 1981-1990 1991-2000
Thời gian
Bảng 1.1: Dòng người Việt Nam nhập cư vào Mỹ (bao gồm cả tị nạn) 1951-2000
Nguồn: Phòng Thống kê Nhập cư, Bộ An ninh Nội địa,
Niên giám Thống kê Nhập cư 2003, tháng 9/2004, bảng 2, trang 14.20
Tổng cộng đã có khoảng 362 ngàn người đi theo “Chương trình ra đi có trật tự”
(Orderly Departure Program - ODP), kết thúc năm 1994 và khoảng 190 ngàn sỹ quan,
binh lính chính quyền Sài Gòn cũ cùng thân nhân và gia đình đi theo “Chương trình
đoàn tụ gia đình” (Humanitarian Operation - HO) được nhập cư vào Mỹ. “Chương
trình đoàn tụ con lai” (Amerasian Homecoming Program) cũng đưa được 84 ngàn
người gồm trẻ lai và người nuôi dưỡng sang Mỹ định cư
11
. Thời gian gần đây, số

Anaheim: 10.025 (chiếm hơn 3% tổng số dân); Fountain Valley: 7.088 (chiếm 12,8%
tổng số dân); Irvine: 4.414 (chiếm 8% dân số thành phố), Santa Ana: 19.226 (chiếm 5,6
% dân số thành phố)
12
.
Qua số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy, trong số hơn 1 triệu người Việt ở
Hoa Kỳ thì gần một nửa trong số họ sinh sống tại bang California. Phần còn lại sống
thành từng cụm hoặc rải rác ở các bang khác trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.
Ngườì Việt Nam không phải là nhóm cộng đồng nhập cư sớm nhất và đông nhất
vào Hoa Kỳ nhưng được coi là cộng đồng thành công nhanh chóng nhất. Trong vòng
hơn 30 năm, kể từ ngày cộng đồng được hình thành với số đông trên đất Hoa Kỳ, một
môi trường xa lạ về ngôn ngữ, văn hoá giờ đây cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đã
dần hoà nhập vào xã hội Hoa Kỳ và khẳng định được vị thế nhất định trong đời sống
kinh tế và xã hội Mỹ. Nhiều người Mỹ gốc Việt đã gặt hái được những thành công nhất
định trên đất Mỹ và hiện đang công tác, học tập hay nắm giữ các vị trí quan trọng trong
các tập đoàn lớn, các trường đại học danh tiếng hay cơ quan hàng đầu của Hoa Kỳ như:
Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA), Boeing, Microsoft, Đại học Harvard, Đại
học Stanford, Đại học California, ở Berkeley Theo đánh giá của người Mỹ, ở một
môi trường cạnh tranh khắc nghiệt như Mỹ thì sự thành công của cộng đồng người Việt
là một điều đáng khâm phục.

1.3. Đặc điểm của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ là nhóm chủng tộc mới được hình thành trong
xã hội Mỹ, với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng kể từ đợt nhập cư ồ ạt đầu tiên
năm 1975. Tính đến năm 2005, họ là cộng đồng dân tộc gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ,
sau người Mỹ gốc Hoa (2.882.257 người), người Mỹ gốc Ấn (2.319.222 người) và
người Mỹ gốc Philippines (2.282.872 người)
13
và xếp trên Triều Tiên (1.246.240


người khó khăn, như trong trường hợp cơn bão Katrina ở bang New Orleans năm 2005.
Ngoài ra, 8.000 người Thượng ở Mỹ đều là tín đồ của đạo Tin Lành và mức độ nhiệt
tình tôn giáo của họ khá cao, tuy nhiên, do nhiều hạn chế về điều kiện dân trí, kinh tế
nên họ chưa gây ảnh hưởng trong cộng đồng người Việt nói chung.
1.3.3. Về kinh tế

14
Theo US Census Bureau, American Community Survey, 2005

Trích đoạn Trên các lĩnh vực văn hoá xã hội, giáo dục, khoa họ c kỹ thuật Đối với quê hương Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Mặt tích cực và nguyên nhân Đối với chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đảm bảo sự công bằng cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status