Nghiên cứu Quá trình tuần hoàn và chu chuyển tư bản - pdf 19

Download miễn phí Tiểu luận Nghiên cứu Quá trình tuần hoàn và chu chuyển tư bản



MỤC LỤC
Phần I: MỞ ĐẦU
Phần II : NỘI DUNG
A – Cơ sở lý luận
I – Tuần hoàn của tư bản
1 – Khái niệm
2 – Các giai đoạn tuần hoàn
3 – Các hình thái của tuần hoàn và sự thống nhất giữa chúng
4 – Lưu thông
II – Chu chuyển của tư bản
1 – Thời gian chu chuyển và số vòng chu chuyển
2 – Tư bản cố định và tư bản lưu động
3 – Chu chuyển chung, chu chuyển thực tế và tỷ suất giá trị thặng dư
hàng năm
4 – Các thời kỳ chu chuyển của tư bản
5 – Việc chi phí lưu thông
B – Sự vận dụng vấn đề tuần hoàn vào chu chuyển tư bản ở Việt Nam
I – Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam trước và sau đổi mới
1- Đặc điểm xã hội Việt Nam trước và sau đổi mới (1986)
2 - Quan điểm kinh tế thị trường, định hướng XHCN ở Việt Nam
3 - Các chính sách của nhà nước
II- Thực trạng doanh nghiệp Việt Nam
1- Thực trạng
2 - Những vấn đề còn tồn tại
3 - Nguyên nhân
III – Vấn đề thu hút và sử dụng vốn trong doanh nghiệp Việt Nam
1 - Vấn đề thu hút và sử dụng vốn
2 - Sử dụng như thế nào để có hiệu quả
IV – Giải pháp
1 - Về vốn
2 - Về quản lý doanh nghiệp và việc sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Phần III : KẾT LUẬN
 
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

ian mua + thời gian bán.
Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Trình độ thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả trên thị trường.
- Khoảng cách tới thị trường.
- Trình độ phát triển của giao thông vận tải ...
Trong thời gian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, nhìn chung không tạo ra giá trị thặng dư cho tư bản. Tuy nhiên sự tồn tại của nó là tất yếu và có vai trò quan trọng vì đó là đầu vào và đầu ra của sản xuất, cung cấp các điều kiện cho sản xuất và thực hiện tiêu thụ sản phẩm. Rút ngắn thời gian lưu thông làm cho tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông giảm xuống, tăng được lượng tư bản đầu tư cho sản xuất, đồng thời còn rút ngắn thời gian chu chuyển, làm cho quá trình sản xuất được lặp lại nhanh hơn tạo được nhiều giá trị và giá trị thặng dư, làm tăng hiệu quả của tư bản.
Do chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như vậy, nên thời gian chu chuyển của các tư bản khác nhau là rất khác nhau.
b - Số vòng chu chuyển.
Thời gian chu chuyển của tư bản dài ngắn khác nhau nên muốn tính toán và so sánh chúng người ta thường tính tốc độ chu chuyển của các tư bản trong cùng một khoảng thời gian nhất định thường là một năm, xem tư bản đã quay được mấy vòng
Ta có công thức:
Trong đó: n – số vòng chu chuyển
CH – thời gian trong một năm (12 tháng)
ch – thời gain chu chuyển một vòng của tư bản
Ví dụ: Tư bản thứ nhất có thời gian chu chuyển 6 tháng, tư bản thứ hai có thời gian chu chuyển 8 tháng thì số vòng chu chuyển trong năm của hai tư bản đó là:
Hay tư bản thứ nhất chu chuyển nhanh hơn tư bản thứ hai.
2. Tư bản cố định và tư bản lưu động.
Tham gia vào quá trình sản xuất gồm có tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra sản phẩm. Căn cứ vào cách chu chuyển giá trị của các bộ phận tham gia vào sản xuất mà người ta chia tư bản sản xuất ra thành tư bản cố định và tư bản lưu động.
Tư bản cố định là bộ phận tư bản được sử dụng toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của nó chỉ chuyển từng phần vào sản phẩm. Đặc điểm của tư bản cố định là về hiện vật, nó luôn luôn bị cố định trong quá trình sản xuất chỉ có giá trị của nó là tham gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm hơn nữa nó cũng chỉ lưu thông từng phần, còn một phần bị cố đình trong tư liệu sản xuất, phần này không ngừng giảm xuống cho tới khi nó chuyển hết giá trị vào sản phẩm. Thời gian mà tư bản cố định chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm bao giờ cũng dài hơn thời gian một vòng tuần hoàn .
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản khi tham gia vào quá trình sản xuất nó chuyển toàn bộ giá trị sang sản phẩm. Đó là bộ phận tư bản bất biến dưới hình thái nguyên nhiên liệu... Bộ phận tư bản khả biến, xét về cách chu chuyển cũng giống như bộ phận tư bản bất biến lưu động nên cũng được xếp vào trung bình lưu động. Như vậy, xét theo nguồn gốc và giá trị thặng dư thì tư bản chia thành tư bản bất biến và tư bản khả biến, còn khi xem xét về cách chu chuyển giá trị thì tư bản được chia thành tư bản cố định và tư bản lưu động. Căn cứ để phân chia không phải do đặc tính tự nhiên của chúng mà ở sự khác nhau về cách chu chuyển giá trị, được quyết định bởi chức năng của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất.
Trong thực tế sự phân biệt giữa tư bản cố định và tư bản lưu động đôi khi rấtkhó. Sự phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động là đặc điểm riêng của tư bản sản xuất. Tư bản cố định chu chuyển chậm hơn tư bản lưu động, trong khi tư bản cố định chu chuyển được một vòng thì tư bản lưu động có thể chu chuyển được nhiều vòng.
Xác định tư liệu sản xuất là tư bản cố định hay tư bản lưu động phải căn cứ vào chức năng cuả nó trong quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất tư bản cố định bị hao mòn dần.
Ví dụ:
Một cỗ máy từ chỗ mới nguyên vẹn bị hao mòn dần trong quá trình sử dụng cuối cùng chỉ còn là một đống sắt vụn.
Đó chính là hao mòn về giá trị sử dụng. Đôi khi đối với hao mòn vật chất giá trị của nó cũng bị giảm dần do đã chuyển từng phần sang sản phẩm, đó là hao mòn về giá trị. Những sự hao mòn đó gọi là hao mòn hữu hình_ tức là hao mòn do sử dụng trong sản xuất, do phá hoại của thiên nhiên gây ra. Ngoài hao mòn hữu hình, tư bản cố định còn bị hao mòn vô hình _ tức là nói về những trường hợp máy móc tuy còn tốt nhưng đã bị mất giá do có những máy móc tốt hơn hiện đại hơn xuất hiện. Nó là hao mòn thuần tuý về mặt giá trị.
Nguyên nhân của hao mòn hữu hình:
- Năng suất lao động tăng lên do đó làm giảm giá trị của những chiếc máy cũ tuy giá trị sử dụng cuả chúng còn nguyên vẹn hay mới chỉ hao mòn một phần.
- Tiến bộ của khoa học kĩ thuật được ứng dụng đã tạo ra những máy móc tối tân hơn, có công suất cao hơn các máy móc cũ. Tình hình này làm cho các máy móc cũ tuy giá trị sử dụng còn nguyên vẹn nhưng giá trị bị giảm đi nhiều.
Hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình của tư bản cố định đều được tính chuyển vào giá trị của sản phẩm, lưu thông sản phẩm chuyển hoá thành tiền và hình thành quỹ khấu hao dùng để đổi mới tư bản cố định khi đến kỳ tái tạo nó dưới hình thái hiện vật. Tư bản cố định phải được bảo quản chu đáo để tránh những hao mòn bất thường và nâng cao hiệu quả của nó. Việc bảo quản được thực hiện một phần ngay trong việc sử dụng, bảo tồn và chuyển giá trị của nó vào sản phẩm. Việc bảo quản này là một cồng hiến tự nhiên không mất tiền của lao động sống. Do đó phải có những chi tiêu đặc biệt để bảo dưỡng, tu bổ và sửa chữa tài sản cố định. Chi phí bảo quản và sửa chữa đó được phân phối bình quân vào suốt cuộc đời phục vụ trung bình cuả tư bản cố định và tính vào giá cả sản phẩm sản xuất ra. Số tư bản chi cho bảo quả, sửa chữa xét về nhiều điểm là một thứ tư bản có tính chất đặc biệt, không thể xếp vào tư bản cố định cũng không thể xếp vào tư bản lưu động. Nhưng vì là bộ phận trong chi phí thường ngày nên nó được xếp vào tư bản lưu động, trừ những chi phí sửa chữa lớn có tính chất thay thế hay đổi mới tư bản cố định thì được tính vào quỹ khấu hao tài sản cố định.
Trong CNTB hiện đại, tư bản cố định có quy mô rất lớn. Các chi phí bảo quản sửa chữa, thay thế bảo đảm điều kiện cho nó hoạt động cũng rất lớn nên thu hồi nhanh tư bản cố định càng có ý nghĩa quan trọng trong cạnh tranh. Do tác động của khoa học công nghệ hiện đại tư bản cố định càng có nguy cơ hao mòn vô hình, vì vậy các nhà tư bản phải tìm mọi cách để khấu hao nhanh tư bản cố định. Tỷ lệ khấu hao thường được tính rất cao ngay từ những năm đầu chế tạo sản phẩm mới, lợi dụng giá cả sản phẩm cao của đầu chu kỳ sản phẩm sau đó giảm dần khấu hao cùng với việc giảm giá sản phẩm cuối chu kỳ.
3 - Chu chuyển chung, chu chuyển thực tế của tư bản ứng trước và tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm.
a. Chu chuyển chung.
Chu chuyển chung của t
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status