Sự vận dụng lý luận của lê nin về CNTBNN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam - pdf 19

Download miễn phí Tiểu luận Sự vận dụng lý luận của lê nin về CNTBNN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam



Việc nghiên cứu và vận dụng TBNN đã được đặt ra ở Việt nam từ những năm 50 (ở miền Bắc) và cả nước từ sau năm1975. Trong quá trình đổi mới chúng ta đặt kinh tế TBNN ở vị trí thứ ba trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta. Kinh tế TBNN không chỉ được coi như là một thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, mà nó còn mang những ý nghĩa như những “nấc thang trung gian cần thiết” để liên các thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong nước, kể cả tầng lớp tiểu tư sản hướng sự phát triển đó theo tay lái nhà nước XHCN.
 



Để tải bản Đầy Đủ của tài liệu, xin Trả lời bài viết này, Mods sẽ gửi Link download cho bạn sớm nhất qua hòm tin nhắn.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

c cách mạng XHCN chỉ có thể thắng lợi triệt để với hai điều kiện: Điều kiện thứ nhất là có sự ủng hộ kịp thời của cách mạng XHCN ở một số nước tiên tiến. Điều kiện thứ hai: Là sự thoả thuận giữa giai cấp vô sản đang thực hiện sự chuyên chính của mình hoạc đang nắm chính quyền nhà nước với đại đa số nông dân. Lê nin khẳng định: chừng nào cách mạng chưa nổ ra ở các nước khác thì chỉ có thoả thuận với nông dân mới có thể cứu vãn được cuộc cách mạng XHCN. Đó là lý do phải quay về tư bản nhà nước.
Sự thoả thuận giữa hai giai cấp này sau khi kết thúc nội chiến đã trở nên không vững chắc vì nông dân không hài lòng với hình thức quan hệ hiện có, không muốn có hình thức quan hệ ấy nữa và không muốn tiết tục sống mãi như thế. Do đó phải thiết lập những mối quan hệ mới thông qua các hoạt động kinh tế và phải thoả mãn được những yêu cầu của nông dân. về thực chất có thể thoả mãn tiểu nông bằng hai việc: Phải có sự tự do trao đổi nhất định và phải kiếm ra hàng hoá và lương thực.
Chính sách tự do trao đổi là nhằm “kiếm ra hàng hoá” căn cứ vào tâm lý của người tiêu dùng. Nhờ chính sách tự do buôn bán mà kích thích người nông dân, vì lợi ích của bản thân mà tạo ra nhiều nông sản, hàng hoá, chính sách tự do buôn bán là sự thoả thuận với nông dân một cách thực tế, khéo léo, khôn ngoan và mềm dẻo. Cũng chính từ chính sách tự do trao đổi trong nông dân và chính sách đó mà xuất hiện hai vấn đề dẫn đến CNTBNN.
Trước hết, tự do trao đổi là tự do buôn bán , mà tự do buôn bán tức là lùi lại CNTB. Lê nin đã dự kiến trước như vậy nhưng không phải vì thế mà ta có thể ngăn cấm được. Từ đó thấy được sự cần thiết phải “dung nạp” CNTB. ở đây diễn ra một điều mà chính Lê nin cũng phải nói “ hình như là ngược đời: CNTB tư nhân lại đóng vai trò trợ thủ cho CNXH, có thể sử dụng CNTB tư nhân để xúc tiến CNXH”. Muốn không để thay đổi bản chất của mình, nhà nước vô sản chỉ có thể thừa nhận cho CNTB được phát triển trong một chừng mực nào đó và tư bản tư nhân phải phục tùng sự điều tiết của nhà nước, phải tìm cách hướng chúng vào con đường của CNTBNN bằng một tổ chức của nhà nước và những biện pháp có tính chất nhà nước từ bên trên. Vậy, trong điều kiện nhà nước vô sản, tự do trao đổi, tự do buôn bán tất dẫn đến sự phục hồi của CNTB dưới hình thức chủ yếu là CNTBNN.
Trong điều kiện một nước mà CNTB tư sản chiếm ưu thế, hàng hoá chỉ có thể có được từ nông dân, từ nông nghiệp, như vậy, phạm vi trao đổi chỉ diễn ra trong phạm vi hàng hoá nông sản điều đó sẽ kích thích nông dân, nông nghiệp phát triển .Do đó, phải có những hàng hoá mà nông dân cần đó là những sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp. Nhưng tình hình trong nước không thể giải quyết ngay vấn đề này “nếu không có sự giúp đỡ của tư bản nước ngoài...”. theo Lê nin cần “du nhập” CNTB từ bên ngoài bằng những hợp đồng buôn bán với nước tư bản lớn, bằng chính sách tô nhượng tóm lại bằng những hình thức khác nhau của CNTBNN.
2.2. Vai trò của CNTBNN trong nền kinh tế Nga.
Bản thân CNTBNN là sự “kết hợp, liên hợp, phối hợp Nhà nước Xô viết, nền chuyên chính vô sản với CNTB”, là “ một khối với CNTB ở bên trên” và đương nhiên sẽ không có CNTBNN, nếu không có những điều kiện cho họ, điều kiện ấy theo Lênin, chính là những “cống vật”. Trong điều kiện trên thế giới chỉ có mình chính quyền Xô viết, xung quanh là cả 1 hệ thống các nước tư bản, muốn tồn tại, chính quyền Xô viết không thể bỏ qua sự thật ấy. Khi thực hiện CNTBNN, nhà tư bản được lập lại, được “du nhập” “không phải vì lợi ích củng cố chính quyền Xô viết, mà vì lợi ích của bản thân họ”. Chính Lênin còn dự kiến cả khả năng sự phân chia lợi ích đó thoạt đầu có lợi nhiều cho các nhà tư bản dưới hình thức “trả giá” cho sự lạc hậu, cho sự kém cỏi của mình. Vấn đề là không cần che giấu sự thật: phải nộp “cống vật”. Nhưng đối với nhà nước vô sản thì sự dung nạp và du nhập CNTB sẽ mang lại nhứng lợi ích cơ bản và lâu dài.
Sự phát triển của CNTB do nhà nước vô sản kiểm soát và điều tiết có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc nền nông nghiệp. Nhờ việc tăng nhanh lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã hội, thoát khỏi khủng hoảng, thoát khỏi tình cảnh giảm sút tín nhiệm của nông dân đối với chính quyền Xô viết, khắc phục tình trạng trộm cắp của công...
Bằng sự “du nhập” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài mà tăng nhanh lực lượng sản xuất, tăng lên ngay hay trong một thời gian ngắn. Cải thiện đời sống công nhân và nông dân, nền đại công nghiệp sẽ được phục hồi.
CNTBNN là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu tư sản và TBCN. CNTBNN là một bước tiến lớn, nhờ nó mà chiến thắng được tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế, hiện tượng lỏng lẻo, nhứng thói quen, địa vị kinh tế của giai cấp. Cũng chính vì thế mà CNTBNN sẽ đưa nước Nga lên CNXH bằng con đường chắc chắn nhất.
CNTBNN là công cụ để khắc phục được “kẻ thù chính trong “nội bộ” đất nước, kẻ thù của các biện pháp kinh tế” của chính quyền Xô viết. Đó là bọn đầu cơ, gian thương, bọn phá hoại độc quyền của nhà nước. CNTBNN còn được xem là công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ nghĩa.
Thông qua CNTB và CNTBNN mà giai cấp công nhân có thể học tập được cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức một nền sản xuất lớn. CNTBNN thông qua sự “du nhập” của tư bản từ bên ngoài là hình thức du nhập tiến bộ kỹ thuật hiện đại, qua đó có được trình độ trang bị cao của CNTB.
CNTBNN thông qua sự phát triển của nó mà phục hồi được giai cấp công nhân. Nếu CNTB được lợi thế thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng lên và giai cấp vô sản cũng theo đó mà lớn mạnh lên.
2.3 Điều kiện cần có để vận dụng các hình thức kinh tế TBNN:
Để sử dụng CNTBNN: Để sử dụng CNTBNN cần có những giới hạn, điều kiện để sự phát triển của các quan hệ thị trường và các quan hệ TBCN nói chung và các quan hệ CNTBNN nói riêng không nguy hại cho định hướng XHCN cần có những giới hạn và điều kiện then chốt là:
Chính quyền nhà nước phải nằm trong tay giai cấp công nhân và nhà nước quy định khuôn khổ cho sự phát triển của CNTBNN.
Nhà nước phải nắm các đỉnh cao kinh tế để điều tiết nền kinh tế. Chấp nhận điều kiện của CNTB để tạo điều kiện cho CNTBNN phát triển và phát huy tác dụng. Sử dụng sức mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần từ đó vận dụng tất cả các hình thức kinh tế TBNN.
Kiên định về định hướng CNXH và độc lập kinh tế trong quan hệ với CNTB nước ngoài.
2.4 Các hình thức kinh tế TBNN vận dụng ở Nga:
2.4.1 Tô nhượng
Tô nhượng là một giao kèo, một sự liên kết, liên minh giữa chính quyền nhà nước Xô viết, nghĩa là nhà nước vô sản với CNTBNN, chống lại thế lực tự phát tiểu tư hữu. Tô nhượng là chính quyền X...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status