Luan van tot nghiep CHUYÊN mục CHÍNH TRỊ và QUỐC tế của MẠNG ĐIỆN TỬ VIETNAMNET TRONG CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI TỪ 12007 ĐẾN NAY - Pdf 34

Bộ giáo dục và đào tạo

Học viện Chính trị - hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

chuyên mục chính trị và quốc tế của báo mạng điện tử vietnamnet
trong công tác thông tin đối ngoại đối với
cộng đồng ngời việt nam ở nớc ngoài từ 1/2007 đến nay

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: THÔNG TIN ĐốI NGOạI

Ngời hớng dẫn:
h.S vũ hoài
Hà Nội - tháng 6/2010


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời, là
nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp
phần tăng cường quan hệ Quốc tế, hữu nghị giữa nhân dân ta với các
nước”.[22;123] Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 4 triệu người
Việt Nam đang sinh sống ở khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó
hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển. Phần đông bà con có cuộc
sống ngày càng ổn định và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất
định trong đời sống kinh tế, xã hội ở nước sở tại. Cuộc sống của cộng đồng
người Việt có ảnh hưởng ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các
nước sở tại với Việt Nam. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
(NVNONN) là cộng đồng phức tạp về thành phần xã hội, xu hướng chính

hoạt động được một năm và hai chuyên mục chính này đã trở thành tâm
điểm của độc giả Việt kiều. Với những ưu điểm vượt trội như: nguồn thông
tin chính thống, cập nhật nhanh, có tính định hướng xã hội, tính tương tác
cao, tính đa phương tiện, khả năng liên kết lớn, khă năng lưu trữ và tìm
kiếm dễ dàng, hai chuyên mục Chính trị và Quốc tế của báo mạng điện tử
Vietnamnet đã trở thành nguồn cung cấp thông tin không thể thiếu cho
cộng đồng NVNONN.
Vì vậy, công tác TTĐN của Đảng và Nhà nước Việt Nam với cộng
đồng người Việt không chỉ là một trong những chính sách đối ngoại của ta
mà còn là một nghệ thuật liên kết cộng đồng dân tộc Việt trong và ngoài
nước. Mặt khác, thông qua đó ta có thể phát triển đất nước, có thêm điều
kiện để hội nhập kinh tế trong giai đoạn mới và nâng cao vị thế của Việt
Nam trên chiến trường quốc tế. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về công tác này
sẽ cung cấp cho sinh viên cái nhìn khách quan và cơ bản nhất về việc thực
hiện công tác TTĐN của một trong số những phương tiện truyền thông của
Việt Nam là báo mạng điện tử Vietnamnet.
Yêu cầu lí luận
Đề tài này xuất phát từ nền tảng kiến thức cơ bản được trang bị trong
nhà trường và yêu cầu đòi hỏi của ngành học Thông tin đối ngoại đặt ra
cho sinh viên. Khi nghiên cứu về đề tài này có thể nắm rõ chính sách
đường lối đối ngoại của Đảng trong đó có đường lối chính sách đối với
3


cộng đồng NVNONN, đồng thời yêu cầu vận dụng kiến thức cơ sở để đi
sâu và nắm bắt tình hình thực tế và tìm hiểu một trong những kênh thông
tin quan trọng cho cộng đồng NVNONN là các chuyên mục của những
trang báo mạng điện tử.
Yêu cầu thực tiễn
Thực tế cho thấy nhu cầu được thông tin của cộng đồng

TTĐN đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài từ tháng 1 năm
2007 đến nay”.
2. Tình hình nghiên cứu
Đây là một đề tài mà chưa có bất cứ một nghiên cứu nào đầy đủ và
rõ ràng. Đặc biệt là nghiên cứu riêng về một hay hai chuyên mục nào đó
của một trang báo mạng điện tử nhằm vào đối tượng cụ thể là cộng đồng
NVNONN. Tính đến thời điểm này chỉ có những nghiên cứu riêng lẻ,
những lí luận chung về công tác TTĐN, cộng đồng NVNONN và các đặc
trưng cơ bản của báo mạng điện tử :
Về công tác TTĐN bao gồm: “Công tác thông tin đối ngoại sau 3
năm thực nghị quyết Đại hội Đảng IX và phương hướng nhiệm vụ công tác
TTĐN hai năm 2004 – 2005”, của Đặng Đình Lâm.“Đối ngoại Việt Nam –
truyền thống và hiện đại” của TS. Nguyễn Mạnh Hùng và TS. Phạm Minh
Sơn năm 2008. “Thông tin đối ngoại – lí luận và thực tiễn” của TS Phạm
Minh Sơn năm 2009. “Đài truyền hình Việt Nam với công tác thông tin đối
ngoại” của Vũ Hiền. Cùng với sự ra đời của Tạp chí thông tin đối ngoại,
có rất nhiều bài viết, phân tích về thông tin đối ngoại của Việt Nam hiện
nay: “TTĐN góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế” của Hồng
Vinh năm 2006, “Thành tựu nổi bật và những nhiệm vụ chủ yếu của công
tác TTĐN trong tình hình mới” của Phạm Xuân Thâu năm 2006.
Cộng đồng NVNONN là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm, được Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện
một số công trình nghiên cứu. Có thể kể đến đề tài “Việc dạy tiếng Việt
cho người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn hiện nay” năm 2009
trong đó có những nghiên cứu về đặc điểm và số liệu cụ thể về cộng đồng
5


người Việt Nam ở nước: “Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đầu
thế kỷ XXI – Số liệu và bình luận” của TS. Trần Trọng Đăng Đàn tháng 2

6


Đề tài tập trung nghiên cứu vào hai chuyên mục Chính trị và Quốc
tế của báo mạng điện tử Vietnamnet trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm
2007 đến nay. Đây là hai chuyên mục nhỏ của trang báo mạng điện tử
Vietnamnet nhưng lại đảm đương một nhiệm vụ khá lớn trong công tác
TTĐN với một khối lượng độc giả là cộng đồng NVNONN khá lớn, thông
tin có uy tín đã được khẳng định. Đề tài nghiên cứu về công tác TTĐN của
hai chuyên mục này với những thành tựu và hạn chế trong thời gian hoạt
động.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về hoạt động báo
chí đối ngoại nói chung và báo điện tử nói riêng trong công tác thông tin
đối ngoại. Việc nghiên cứu đề tài chủ yếu dựa trên các phương pháp phân
tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn, đặc biệt nhấn mạnh việc tổng kết
thực tế. Ngoài ra, do đề tài cần nhiều số liệu nên có dùng đến phương pháp
điều tra, khảo sát, thống kê.
6. Đóng góp mới về mặt khoa học
- Làm sáng tỏ hơn nữa cơ sở lý luận về công tác TTĐN với cộng
đồng NVNONN trên hai chuyên mục Chính trị và Quốc tế của báo mạng
điện tử Vietnamnet.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động công tác TTĐN của hai
chuyên mục Chính trị và Quốc tế của báo mạng điện tử Vietnamnet qua
các bài viết từ năm 2007 đến nay.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp để nâng cao chất lượng
của hoạt động TTĐN với cộng đồng NVNONN qua hai chuyên mục
Chính trị và Quốc tế của báo mạng điện tử Vietnamnet.
7. Kết cấu đề tài

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TTĐN VÀ CỘNG ĐỒNG
NVNONN
1.1. Lý luận chung về công tác thông tin đối ngoại
1.1.1.

Khái niệm TTĐN
Thông tin là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng

phổ biến và khái quát nhất trong công tác TTĐN, ta có thể hiểu:
“Thông tin là tin tức, thông báo, tri thức về một sự vật hay một
tượng được chức đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa
chọn và sử dụng qua các phương tiện thích hợp” [31;16]. Còn “Đối ngoại” là
“đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về đường lối, chính sách, sự giao
thiệp của Nhà nước, của một tổ chức, phân biệt với đối nội” [40;..]. Vì vậy, ta
có thể cho rằng thông tin đối ngoại là dạng thông tin được truyền ra nước
ngoài, phục vụ công tác đối ngoại của Nhà nước hay một tổ chức.
9


Ngày 26/4/2000, thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 10/2000/CT- Ttg
về tăng cường quản lí và đẩy mạnh công tác TTĐN trong đó nêu :“Thông
tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng và đối
ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong công
cuộc đổi mới của Việt Nam, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa của dân
tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá
Việt Nam; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ bạn bè Quốc
tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[31;17] Như vậy, cái đích mà công tác TTĐN
hướng tới không chỉ là cung cấp thông tin, đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông

luật đó. Việt Nam ngày càng tìm hiểu sâu, rộng về thế giới và cũng để thế
giới hiểu rõ về Việt Nam, qua đó tìm kiếm các cơ hội hợp tác và phát triển.
Do vậy công tác TTĐN ngày càng lớn mạnh và bức thiết hơn bao giờ hết:
TTĐN làm cho thế giới hiểu về con người, đất nước, giá trị vật chất, tinh
thần của Việt Nam, về đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi
mới của Việt Nam, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
TTĐN cũng làm cho nhân dân Việt Nam đón nhận những thành tựu
khoa học kĩ thuật, kinh nghiệm quản lí, sản xuất và những tinh hoa văn hóa
của các dân tộc trên thế giới. TTĐN cũng góp phần xây dựng tình đoàn kết
giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Đặc biệt là đối
với nước ta, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử lớn lao mang tính quốc
tế hơn bao giờ hết. Ngoài ra, TTĐN còn đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc
gia, làm rõ quan điểm của Việt Nam về các vấn đề toàn cầu như môi
trường, dân số, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo…TTĐN đấu tranh dư luận,
loại bỏ những thông tin sai lệch, những luận điệu bôi xấu, xuyên tạc.
Trong từng giai đoạn và địa bàn cụ thể, TTĐN có những nội dung
trọng tâm khác nhau, tuy nhiên có nội dung cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt
động TTĐN. Đối với đất nước ta, trong giai đoạn hiện nay thì TTĐN có
một số những nội dung cơ bản như sau:
“Giới thiệu rộng rãi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
ta cũng như những thành tựu đã đạt được trong những năm đổi mới” [31;31].
11


Theo đó, nội dung thông tin phải thể hiện qua những điểm cơ bản: làm rõ
chủ trương, đường lối chính sách về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, rộng mở, các chính
sách phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Những thông tin này
góp phần làm cho thế giới hiểu đúng và rõ về tình hình mọi mặt và công

nước và con người Việt Nam với thế giới, tiếp thu có chọn lọc các giái trị
nhân văn, khoa học tiến bộ của nước ngoài. Ngăn ngừa sự xâm nhập các
sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy. Giúp đỡ cộng đồng người nước
ngoài ở Việt Nam hiểu biết về tình hình nước nhà, thu nhận tư tưởng và
sản phẩm văn hóa từ trong nước, nêu cao lòng yêu nước…”[15]
“Đấu tranh với những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc về Việt
Nam của các thế lực chống đối, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn
bộ lãnh thổ quốc gia”[31;40]. Trong tình hình hiện nay, tuy hòa bình, hợp tác
vẫn là xu thế hàng đều trong quan hệ quốc tế nhưng các thế lực chống đối
không phải đã từ bỏ âm mưu muốn lật đổ chế độ chính trị, xã hội nước ta.
Trên thực tế, chiến lược Diễn biến hòa bình ngày càng can thiệp vào tất cả
các lĩnh vực trong đời sống nước ta. Vì vậy, TTĐN phải có nhiệm vụ là
tiếng nói đại diện cho cả đất nước với quốc tế, chủ động và kịp thời bác bỏ
những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc về Việt Nam. Trên mặt trận
không tiếng súng chống diễn biến hòa bình này, vai trò của hoạt động
TTĐN là vô cùng to lớn, đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ thành quả cách
mạng, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta quyết tâm
đi theo.
“Thông tin quốc tế”.[31;42] Nội dung của TTĐN phải đáp ứng được
nhu cầu về thông tin vô cùng to lớn của con người là nội dung của chính
sách đối ngoại của chính phủ nước mình hay sự kiện chính trị, xã hội…
diễn ra trên toàn thế giới, các quốc gia, dân tộc khác. Vì vậy, nội dung của
hoạt động TTĐN đóng vai trò như một chiếc cầu nối đời sống trong nước
với nhịp điệu sôi động bên ngoài, kết nối nhân dân Việt Nam với nhân dân
toàn thế giới. Việc cung cấp thông tin có tính định hướng không chỉ giúp
người dân có lập trường quan điểm, thái độ đúng đắn với các vấn đề, sự
13


kiện trên thế giới mà còn là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách, các

14


việc vạch rõ âm mưu của địch và bày tỏ thái độ, lập trường của ta. Hợp đối
tượng: đối tượng là nhân dân trên các nước khác nhau trên thế giới. Vì vậy
phải làm cho công tác tuyên truyền đối ngoại sát nhu cầu.
Ngày 26/4/2000, thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 10/2000/CT-Ttg
về tăng cường quản lí và đẩy mạnh công tác TTĐN và nhấn mạnh :
- “Tất cả các bộ ngành, địa phương, các cấp đều có trách nhiệm chỉ
đạo và tổ chức thực hiện công tác TTĐN trong phạm vị quản lí của mình.
- Công tác TTĐN cần được triển khai trên diện rộng, song có trọng
tâm, trọng điểm, trước hết là đối với láng giềng, và các nước trong khu
vực, cộng đồng NVNONN, ưu tiên cung cấp thông tin định hướng cho
người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc, du lịch, học tập và
các nhà Việt Nam học trên thế giới.
- Tổ chức, phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của nhiều lực
lượng làm công tác TTĐN: giữa các lực lượng chuyên trách nòng cốt với
cơ quan đại diện của ta ở nước ngoài, các đoàn ra nước ngoài, người Việt
Nam sinh sống và làm việc tại nước ngoài, cũng như bạn bè quốc tế, giữa
thông tin đối ngoại và thông tin đối nội, giữa hoạt động TTĐN với hoạt
động chính trị, văn hóa, kinh tế, giữa ngoại giao nhà nước và đối ngoại
Đảng, đối ngoại nhân dân, giữa cơ quan Trung Ương và địa phương,
giữa các cơ quan Nhà Nước với các doanh nghiệp”[16]
1.2. Đặc điểm cộng đồng NVNONN
1.2.1.

Tình hình cộng đồng NVNONN tại một số địa bàn
Kể từ khi tiến hành đổi mới đã có nhiều người ra nước ngoài làm

chuyên gia, đi tu nghiệp, lao động, học tập, đoàn tụ gia đình…tạo điều kiện

Thái Lan hay các nước phát triển như Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Bỉ…
• Tại Lào:
Có thể thấy cộng đồng người Việt Nam tại Lào hình thành khá sớm,
trong thời kỳ Pháp thuộc, do cuộc sống khó khăn, nạn đói hoành hành, một
bộ phận dân các tỉnh miền Trung đã sang Lào sinh cơ lập nghiệp. Hiện nay
cộng đồng người Việt tại Lào có khoảng 20.000 người. Do được sự quan
tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện của Chính phủ Lào, cộng đồng người Việt Nam
16


ở Lào đã phát huy được bản chất thông minh, cần cù, khéo léo vốn có
trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở quy mô vừa và nhỏ. Đáng chú ý ở
một số địa phương có đông người Việt, hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu của người Việt đạt nhiều kết quả. Tại các tỉnh và thành phố,
Vientiane, Pakse, Savannakhet.. đều có Hội người Việt Nam, hoạt động
khá mạnh tại từng địa phương. Nhiều Hội đã tổ chức khá tốt việc dạy và
học tiếng Việt cho con em, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, hoạt động
hướng về đất nước luôn được Hội quan tâm duy trì thường xuyên.


Tại Mỹ:

Cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ có khoảng 1,3 triệu người, chiếm
½ số người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài. Cộng đồng người Việt có
mặt ở hầu hết 50 bang nước Mỹ. Cộng đồng người Việt tại Mỹ là một cộng
đồng trẻ, hội nhập nhanh và đã đạt được nhiều thành tích đáng kể: trình độ
học vấn của thế hệ trẻ cao hơn thế hệ đi trước; đội ngũ trí thức trẻ có nhiều
tiềm năng. Số này chủ yếu tập trung trong các ngành khoa học và kinh tế
mũi nhọn như cơ khí chế tạo, tin học viễn thông, vũ trụ, y học, sinh học,
quản lý vụ cao có uy tín trong các hãng, xưởng, trường học, cơ sở nghiên

Cộng đồng người Việt tại Australia là một cộng đồng trẻ, trên 50% ở
độ tuổi dưới 35. Hiện số lượng kiều bào tại Australia ước tính vào khoảng
300 000 – 350 000 người, so với số lượng người từ những ngày đầu nhập
cư vào Australia vào giữa những năm 70 là khoảng 500 người thì đã có
bước tăng nhảy vọt. Cộng đồng người Việt tại Australia tập trung sinh
sống chủ yếu ở các thành phố lớn như Sydney và Melbourne (chiếm tới
một nửa số người). Tuy là cộng đồng trẻ nhưng kiều bào Việt Nam ở
Australia đã biết phát huy sức mạnh cộng đồng và tích cực hòa nhập với
môi trường đa văn hóa của Australia, sống đoàn kết tương trợ lẫn nhau và
nhiều người đã thành công, đạt nhiều thành tích trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội Australia.
Tuy nhiên do tàn dư ảnh hưởng của lịch sử để lại nên cộng đồng
người Việt Nam tại Australia vẫn tồn tại nhiều cá nhân có hiềm khích, thù
hận với Tổ quốc, duy trì việc tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước
ngay tại địa bàn Australia và trong nước bằng các website xuyên tạc, đưa
18


tin sai lệch thiếu khách quan về tình hình đất nước. Điều này gây ảnh
hưởng không nhỏ tới khối đại đoàn kết dân tộc và mong muốn khép lại
chiến tranh, tập trung xây dựng phát triển cuộc sống của đại bộ phận bà
con kiều bào.


Tại Pháp

Cộng đồng người Việt Nam tại Pháp là một trong những cộng đồng
người Việt phát triển lớn mạnh và thành đạt nhất ở nước ngoài. Đây là
cộng đồng có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, tập trung nhiều nhà
trí thức, nhà khoa học thành đạt ngay trên đất Pháp và có mong muốn cống

về kinh tế. Hiện nay, có một bộ phận người Việt Nam sống lâu năm hay
định cư ở nước ngoài làm kinh tế giỏi và trở thành những doanh nhân
thành đạt, muốn đầu tư về cho đất nước, vừa mang lại lợi ích cho bản thân
lại làm giàu cho quê hương và thể hiện sự gắn bó với đất nước. Nắm bắt
được nhu cầu này, Đảng và nhà nước ta đã thực hiện chú trọng thông tin về
tình hình kinh tế và môi trường kinh doanh trong nước một cách cụ thể, cởi
mở, tạo điều kiện hết mức cho các doanh nhân kiều bào đóng góp đầu tư
xây dựng đất nước.
Thứ ba, nhóm thông tin về các Luật, nghị định, thủ tục hành chính
liên quan tới người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là nhóm thông tin quan
trọng, cần thiết, vốn gây nhiều trở ngại khó khăn với kiều bào do thiếu
thông tin. Nhất là thời gian gần đây khi ngày càng có nhiều hơn số lượng
kiều bào trở về quê hương, thì nhu cầu đi lại, thủ tục chuyển đổi quốc tịch,
điều kiện xin visa …là những thông tin hết sức cần thiết. Đây là nhóm
thông tin chuyên biệt, đòi hỏi cơ quan tuyên truyền cần nắm vững, để
không những cung cấp đầy đủ thông tin mà còn giải đáp thắc mắc, tránh
gây thêm trở ngại, tạo lòng tin cho người Việt Nam ở nước ngoài.
1.2.3. Một số tổ chức, cơ quan của Việt Nam có liên quan đến cộng đồng
NVNONN

20


Với tiêu chí xác định cộng đồng NVNONN là một bộ phận không
tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố
quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta
với các nước khác trên thế giới. Đảng và Nhà nước ta luôn tạo mọi điều
kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh
sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ
gắn bó với quê hương, đất nước.

ngoại và các đoàn của kiều bào về thăm Tổ quốc.
Qua những đặc điểm trên có thể thấy cộng đồng NVNONN
không chỉ là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của đất nước ta mà
còn đóng một vai trò thiết yếu trong quá trình phát triển đất nước và hội
nhập thế giới. Chính từ những đặc điểm này mà Đảng và Nhà nước ta luôn
chủ trương hoàn thiện công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Đẩy
mạnh và phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở kết hợp việc
xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động
trong nước với các hoạt động ở nước ngoài. Bảo vệ quyền lợi của
NVNONN là một trong những hoạt động chính của Đảng và Nhà nước ta
trong giai đoạn hoàn thiện và củng cố công tác đối với cộng đồng người
Việt.
1.3.

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác

TTĐN đối với cộng đồng NVNONN.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của cộng đồng và ý nghĩa
của công tác TTĐN với cộng đồng NVNONN, Đảng và Nhà nước ta đã đặt
ra yêu cầu phải tăng cường công tác TTĐN. Có rất nhiều những văn bản
pháp lí thể hiện chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta, trong
đó không thể không kể đến:
Chỉ thị số 11 CT/TW ngày 13/6/1992 của Ban Bí thư về đổi mới và
tăng cường công tác TTĐN khẳng định công tác TTĐN có một nội dung
quan trọng là “thông tin cho cộng đồng người Việt Nam nhất là ở những
khu vực Tây Âu, Bắc Mĩ, Liên Xô và Đông Âu.”
22


Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị ra ngày 29/11/1993 về chính sách


CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHUYÊN MỤC CHÍNH
TRỊ VÀ QUỐC TẾ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIETNEMNET
2.1. Khái quát về chuyên mục Chính trị và Quốc tế của báo mạng điện
tử Vietnamnet
2.1.1. Khái quát về báo mạng điện tử Vietnamnet
Báo mạng điện tử Việt Nam đã ra đời hơn 10 năm với bước khởi đầu
là những trang báo đầu tiên như: Quehuong, Vnexpress, Vietnamnet,
Vneconomy... Với sự phát triển trong khoảng thời gian ít ỏi đó, báo mạng
điện tử đã cập nhật nhanh chóng tất cả các diễn biến trong đời sống chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của cả nước và đạt được những thành tựu đáng
kể. Đặc biệt nhất là thành tựu trong việc thực hiện công tác thông tin đối
ngoại cho một bộ phận công dân Việt Nam - cộng đồng NVNONN. Sự phủ
sóng toàn cầu của Internet đã khiến cho khoảng cách giữa các vùng miền,
các quốc gia thu hẹp hơn bao giờ hết. Với những ưu việt mà các loại hình
báo chí khác không có được, báo mạng điện tử đã khắc phục được hầu hết
những nhược điểm khi đưa tin ra nước ngoài và trở thành phương tiện
truyền thông tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Ngay cả truyền hình VTV4 dành cho người Việt ở nước ngoài của Đài
truyền hình Việt Nam cũng không thể đáp ứng nhu cầu thông tin cho cộng
đồng này về mặt nhanh nhạy của thông tin. Bởi vì tất cả các chương trình
truyền hình đều cần khoảng thời gian nhất định để thu thập, xử lí và sản
xuất. Báo in được sản xuất dù là trong nước hay ngoài nước thì đều không
thể so sánh với báo mạng điện tử về mặt thời gian, chi phi sản xuất, khả
năng lưu trữ và bảo quản. Còn báo phát thanh thì với nhược điểm vốn có
của mình, cũng không đáp ứng được nhu cầu thông tin cho cộng đồng
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status