…………..o0o…………..
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Khả năng , lợi ích và lộ trình của
việc ra đời một đồng tiền chung cho
các nước ASEAN
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 1 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
LỜI NÓI ĐẦU
Thế giới đã được chứng kiến một sự kiện kinh tế kỳ diệu trong thập kỷ vùa
TC K18-A1
Với khoá luận này, tôi xin trình bày về cơ sở lý luận ra đời một đồng tiền
chung, quá trình hình thành liên minh tiền tệ châu Âu, từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm cho ASEAN nói riêng cũng như bất kỳ một khu vực nào mong
muốn hình thành một liên minh tiền tệ nói chung và những vấn đề của Việt nam
trong tiến trình hội nhập hướng tới hình thành một đồng tiền chung. Từ những
phân tích đó, cùng với đánh giá tình hình thực tế ở
Đông Nam á hiện nay, có thể
đi đến kết luận rằng một liên minh tiền tệ tương tự như liên minh tiền tệ châu Âu
sẽ ra đời ở ASEAN trong tương lai không xa. Bố cục cụ thể của khoá luận gồm
ba chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận ra đời một đồng tiền chung .
Chương II: Khả năng , lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền
chung ASEAN.
Ch
ương III:Giải pháp nhằm hình thành những điều kiện cơ bản cho một
đồng Tiền chung ASEAN và các vấn đề của Việt nam .
Do trình độ còn hạn chế, khóa luận không khỏi có những sai sót và bất cập.
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp phê bình từ phía thầy cô và các bạn. Cuối
cùng, tôi xin nói lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS. Nguyễn Phúc Khanh, người
đã tận tình hướng dẫn và có những ý kiến , đóng góp quý báu giúp đỡ tôi thực
hiệ
n khóa luận này.
Nam định , ngày 01 tháng 5 năm 2003 .
Sinh viên : Bùi Quốc Thái .
TC K18-A1.
độ cao hơn với các mối Quan hệ kinh tế quốc tế phức tạp và đa dạng.
Các bên tham gia các liên kết kinh tế quốc tế có th
ể là các Quốc gia hoặc
các tổ chức doanh nghiệp thuộc các nước khác nhau.
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 4 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
Như vậy liên kết Kinh tế quốc tế là một qúa trình khách quan bởi nó là kết
quả của quá trình vận động mang tính quy luật, xuất phát từ yêu cầu phát triển
lực lượng sản xuất và quốc tế hoá đời sống kinh tế do tác động của cách mạng
Khoa học kỹ thuật. Mặt khác, liên kết Kinh tế quốc tế cũng là một quá trình chủ
quan bởi nó là kết quả của những hoạt động c
ủa các quốc gia trong việc phối hợp
nền kinh tế của các quốc gia đó, làm cho các nền kinh tế thích ứng với nhau, dần
dần hình thành một chỉnh thể kinh tế có cơ cấu tối ưu, có năng suất lao động cao.
Liên kết Kinh tế quốc tế hay nhất thể hoá Kinh tế quốc tế là một khái niệm
được tranh luận tương đối nhiều, ý kiến chia rẽ tương đối lớn trên các diễn
đàn
kinh tế thế giới, trong những năm gần đây. Nhìn từ mặt hàm nghĩa thì từ liên kết
Kinh tế quốc tế (Integration) là bắt nguồn từ chữ Latinh Intergratio, ý của nó là
chỉ việc liên hiệp hoặc hoà nhập các bộ phận khác nhau lại thành một chỉnh thể.
Về nghĩa rộng thì nhất thể hoá kinh tế thế giới có hai tầng bậc lớn là vi mô và vĩ
mô. Về mặt vi mô thì buổi đầu s
ớm nhất chỉ là giữa các doanh nghiệp với nhau
thông qua các hình thức độc quyền như Cácten, Tờ rớt, ... để kết hợp lại thành
một thể liên hiệp kinh tế mới. Về mặt vĩ mô là chỉ sự liên hiệp kinh tế giữa các
nước và khu vực khác nhau trong cùng một Châu lục hoặc giữa các Châu lục
thông qua ký kết các điều ước hay Hiệp định, lập ra các chuẩn tác hoạt động
chung để thực hi
Thứ ba: Xu thế tập đoàn hoá khu vực tạo đi
ều kiện thúc đẩy sự hợp tác
giữa các nước ngày càng sâu sắc. Tập đoàn hoá khu vực cho phép giải quyết
những vấn đề kinh tế, thương mại có liên quan đến lợi ích của các nước ở quy
mô quốc tế. Chính quá trình đó đã góp phần thúc đẩy liên kết chặt chẽ hơn giữa
các quốc gia.
Thứ tư: Quốc tế hoá một cách cao độ lực lượng sản xuất dẫn đế
n phân công
lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu sắc, các nước tiến hành chuyên môn hóa
nhằm đạt tới quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất. Các quốc gia sẽ tập trung
vào một số ngành và sản phẩm nhất định mà họ có lợi thế rồi trao đổi với các
nước khác. Ngày nay, các nước không chỉ trao đổi sản phẩm đã hoàn thiện với
nhau mà thậm chí còn trao đổi từng bộ phận sản phẩm. Bởi vậ
y mới có tình trạng
một loại hàng hoá có thể được sản xuất ở nhiều nước khác nhau, mỗi nơi một bộ
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 6 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
phận theo khả năng chuyên môn hoá của từng nước. Chẳng hạn để sản xuất ra
chiếc máy bay Boeing có tới 650 công ty trên thế giới tham gia và được đặt ở
hơn 30 nước. Ôtô Ford cũng vậy có tới 165 công ty ở hơn 20 nước tham gia sản
xuất ...Tính thống nhất của nền kinh tế thế giới làm cho toàn bộ quá trình sản
xuất như một dây chuyền “dây chuyền quốc tế” cả về phạm vi và quy mô. Chính
vì vậ
y các liên kết kinh tế quốc tế ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu liên kết với nhau
để cùng phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới.
1.2 Các hình thức của Liên kết kinh tế quốc tế
Có 2 hình thức :
- Liên kết lớn (Macro Intergration)
hạn chế về mậu dịch khác giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, liên minh thuế
quan có điểm khác với khu vực mậu dịch t
ự do là các nước thành viên còn có
một biểu thuế quan chung áp dụng với các nước ngoài khối.
Thị trường chung (Common Market)
Thị trường chung là một liên minh quốc tế áp dụng các biện pháp tương tự
như liên minh thuế quan trong việc trao đổi thương mại nhưng nó đi xa thêm một
bước là cho phép di chuyển ở cả tư bản và lao động tự do giữa các nước thành
viên với nhau và từ đó tạo điều kiện cho sự
hình thành thị trường thống nhất theo
nghĩa rộng.
Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) từ năm 1992 theo loại hình này.
Liên minh kinh tế (Economic Union)
Liên minh kinh tế là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước
thành viên thực hiện thống nhất và hài hoá các chính sách kinh tế - tài chính -
tiền tệ giữa các nước thành viên. Giữa các nước cho phép tự do di chuyển hàng
hoá, dịch vụ, sức lao động và tư bản.
Khối đồng minh Benelux là một liên minh kinh tế giữa ba n
ước Bỉ, Hà Lan,
Luxembua kể từ năm 1960, liên minh Châu Âu - EU từ năm 1994 cũng được coi
là một liên minh kinh tế .
Liên minh tiền tệ (Monetary Union)
Đây là hình thức phát triển cao của liên kết kinh tế quốc tế trong đó các
nước thành viên phải phối hợp chính sách tiền tệ với nhau và cùng thực hiện một
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 8 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khối. Trong liên minh tiền tệ, người ta
thực hiện thống nhất các giao dịch tiền tệ giữa các thành viên, thống nhất về
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 9 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
có một đồng tiền riêng của mình đều là một khu vực tiền tệ. Vấn đề mà
R.Mundell và R.Mc Kinnon đặt ra là liệu nước đó có phải là một khu vực tiền tệ
tối ưu hay không, hay nói cách khác, liệu nước này có những đặc điểm cho phép
nó sử dụng một cách tối ưu đồng tiền của mình hay không. Nếu câu trả lời là
không thì thứ nhất, từng vùng của nước đó có phát triển tốt hơn n
ếu sử dụng
đồng tiền riêng của vùng hay không. Và thứ hai, liệu nước đó có lợi hơn khi
tham gia vào một khu vực tiền tệ lớn hơn thay vì sử dụng đồng tiền riêng của
nước mình hay không. Để trả lời hai câu hỏi này, Mundell và Kinnon đã phát
triển thành lý thuyết trong đó nêu lên khái niệm và các tiêu chuẩn của một khu
vực tiền tệ tối ưu.
Một khu vực tiền tệ tối ưu là một khu v
ực "tối ưu" về mặt địa lý trong đó
phương tiện thanh toán là một đồng tiền chung hoặc là một số đồng tiền mà giá
trị trao đổi của chúng được neo cố định với nhau với khả năng chuyển đổi vô hạn
cho cả các giao dịch vãng lai và các giao dịch về vốn, nhưng tỷ giá hối đoái của
chúng lại biến động một cách hài hoà với các nước khác trên thế giới.
1
"Tối ưu"
được xác định về mặt mục tiêu kinh tế vĩ mô là duy trì cân bằng cả bên trong và
bên ngoài. Cân bằng bên trong đạt được tại điểm thoả hiệp tối ưu giữa lạm phát
và thất nghiệp và cân bằng bên ngoài là sự duy trì trạng thái cán cân thanh toán
cân bằng.
2.2 Các đặc điểm của một khu vực tiền tệ tối ưu
a.Sự linh hoạt về giá cả và tiền lương:
Giả sử m
ột khu vực gồm nhiều vùng hoặc nhiều nước. Nếu giá cả và tiền
m đi hay thậm chí là việc điều chỉnh sẽ không cần thiết nữa. Nhờ các
dòng vốn, quá trình điều chỉnh thực tế có thể được tiến hành trong một thời gian
dài hơn. Chi phí của việc điều chỉnh cũng sẽ thấp hơn nếu có được sự linh hoạt
của giá cả-tiền lương và sự tự do di chuyển các yếu tố bên trong. Do đó, sự hội
nh
ập thị trường tài chính làm giảm nhu cầu thay đổi điều kiện thương mại giữa
các vùng khi có sự biến động của tỷ giá hối đoái, ít nhất là trong ngắn hạn.
c. Sự hội nhập thị trường các yếu tố
Theo Mundell (1961), một khu vực tiền tệ tối ưu được xác định bởi sự tự do
di chuyển các yếu tố bên trong (cả giữa các khu vực và giữa các ngành) và sự tự
do di chuyển các yếu tố bên ngoài. Ví dụ, nếu giá hàng xuất khẩu ở một vùng
giảm, thì để duy trì khả năng cạnh tranh với các vùng khác trong khu vực, cần
điều chỉnh tỷ giá, chi phí sản xuất hoặc giá cả. Trong điều kiện tỷ giá cố định và
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 11 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
giá cả không linh hoạt thì chỉ có thể giảm chi phí sản xuất, trong đó giảm chi phí
sản xuất bằng cách giảm chi phí tiền lương là dễ thực hiện nhất, với điều kiện
sức lao động được tự do di chuyển. Trên thực tế, khi giá hàng xuất khẩu giảm
dẫn đến thu nhập của doanh nghiệp giảm, chủ doanh nghiệp phải cắt giảm tiền
lương hay cắt giảm s
ố lao động và lao động buộc phải rời bỏ vùng bị suy thoái
để tìm kiếm việc làm mới hoặc tiền lương cao hơn ở các vùng khác.
Như vậy, sự tự do di chuyển các yếu tố của sản xuất (đặc biệt là lao động)
sẽ làm giảm nhẹ áp lực thay đổi giá cả thực tế của các yếu tố để đối phó với các
cú sốc về cung và cầu. Do đó nhu cầu
điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm điều chỉnh
giá cả thực tế của các yếu tố cũng được giảm nhẹ. Theo nghĩa này, sự tự do di
với nhau và thậm chí còn phải thiết lập một ngân hàng trung ương siêu quốc gia
để đảm bảo sự phối hợp đó.
Cùng với sự phối hợp các chính sách tiền tệ, các nước thành viên cũng cần
phải phối hợp chính sách tài khoá và chính sách thuế. Nguyên nhân là do mộ
t cú
sốc xảy ra cho toàn khu vực hoàn toàn có thể tác động với mức độ khác nhau đến
các nước khác nhau. Khi đó, việc di chuyển nguồn lực tài chính từ vùng ít bị ảnh
hưởng sang vùng bị ảnh hưởng nặng nề sẽ có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng
điều chỉnh thực tế hoặc thậm chí còn giải quyết được cú sốc đó. Hệ thống thuế
của khu vực tiền tệ c
ũng phải có sự đồng bộ để tránh các tác động tiêu cực của
các hoạt động acbit tiến hành để lợi dụng sự chênh lệch về mức thuế.
Kinh nghiệm của EMS cho thấy rằng sự cam kết về mặt chính trị có thể là
một động lực tốt cho sự phối hợp trong lĩnh vực tiền tệ cũng như trong các chính
sách tài khoá và chính sách thuế.
I.3 Liên minh tiền tệ châu Âu - Một ví dụ điển hình cho liên minh tiền
tệ và đồng tiền chung.
3.1 Báo cáo Werner và kế hoạch Delors
Các đề xuất nhằm hội nhập châu Âu trong lĩnh vực tiền tệ đã được đưa ra từ
cuối những năm 1950. Sau đó, tháng 10/1962, Uỷ ban Châu Âu đã đệ trình lên
Hội đồng bộ trưởng một loạt các đề nghị về việc thực hiện các chính sách kinh tế
và tiền tệ trong nội bộ cộng đồng, chuẩn bị cho việc thành lập một liên minh
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 13 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
kinh tế và tiền tệ sau này. Năm 1964, Hội dồng các thống đốc các Ngân hàng
trung ương các nước thành viên được thành lập, cùng với uỷ ban ngân sách và uỷ
ban chính sách kinh tế. Tháng 2/1968, Uỷ ban châu Âu đề xuất ý kiến rằng các
nước thành viên nên tự cam kết chỉ điều chỉnh tỷ giá hối đoái khi có sự đồng ý
-Tạo lập được một đồng tiền chung của Cộng đồng (hoặc nếu không là một
hệ thống tỷ giá hối đoái cố định không thể điều chỉnh, biên độ dao động bằng 0
và khả năng chuyển đổi vô hạn giữa các đồng tiền của Cộng đồng);
-Tự do hoá hoàn toàn các dòng di chuyển vốn;
-Hình thành một hệ thống ngân hàng trung ương, tổ chức theo kiểu của H
ệ
thống Dự trữ Liên bang;
-Thành lập một "trung tâm quyết định chính sách kinh tế" chịu trách nhiệm
tập trung cho Cộng đồng trước Quốc hội châu Âu.
Kết quả chính của bản báo cáo Werner là sự ra đời của cơ chế "Con rắn tiền
tệ" vào năm 1972, và như chúng ta đã thấy ở phần trên, cơ chế này gặp phải một
số vấn đề và đã phải chấm dứt sự
hoạt động vào năm 1978. Một trong những
nguyên nhân cơ bản khiến cho liên minh tiền tệ không trở thành hiện thực vào
năm 1980 như dự kiến là do điều kiện khách quan không thuận lợi và do các
nước châu Âu đã quá lạc quan tin tưởng vào sự thành công của nó. Năm 1971,
Hệ thống Bretton Woods sụp đổ, đồng đôla được thả nổi, tiếp theo đó vào các
năm 1973-1974, cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ
nhất nổ ra đã gây ra một giai
đoạn rối loạn trong lĩnh vực tiền tệ. Các nước giờ đây được giải phóng khỏi chế
độ tỷ giá cố định nên được tự do áp dụng các biện pháp khác nhau để đối phó với
việc giá dầu mỏ tăng. Ví dụ trong khi Anh và Italia áp dụng chính sách mở rộng
tiền tệ để phòng ngừa suy thoái kinh tế thì các nước khác như Đức lại sử dụng
chính sách thiểu phát để tránh nguy cơ lạm phát. Các chính sách khác nhau đó
làm cho tỷ lệ lạm phát giữa các nước là rất khác nhau, do đó mọi hy vọng về khả
năng duy trì một chế độ tỷ giá cố định lâu dài đều bị tiêu tan ngay sau đó. Trong
khoảng thời gian từ 1971-1975 chỉ số giá tiêu dùng của Pháp tăng 51%, Đức
tăng 34,7% và Anh tăng tới 82,5%. Kế hoạch xây dựng một liên minh tiền tệ do
nhóm của Werner đưa ra tỏ ra là một dự
án đi trước thời đại và do đó đã bị gác
Delors để nghiên cứu vấn đề châu Âu và đưa ra những đề xuất chiến lược để đạt
được EMU.
Kết quả của các công trình nghiên cứu là bản báo cáo với tên gọi Kế hoạch
Delors, được công bố vào năm 1989. Cũng giống như báo cáo của Werner, kế
hoạch Delors đề xuất một chương trình ba giai đoạn nhằm đi đến EMU. Tuy
nhiên, mặc dù kế
tục một số mục đích và quan điểm của báo cáo Werner, kế
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 16 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
hoạch Delors cũng có nhiều điểm khác biệt. Các ý kiến liên quan đến vấn đề
thống nhất tiền tệ được phát triển xa hơn nữa. Tuy nhiên, trong khi báo cáo
Werner nêu ra những giới hạn về thời gian thì kế hoạch Delors lại không đề cập
đến vấn đề khuôn khổ thời gian để đạt được EMU. Lý do là các nước thành viên
cho rằng sự hình thành đồng tiền chung sẽ được thực hiện với các tốc độ ti
ến
triển khác nhau giữa các nước. Trong khi Pháp, Tây Ban Nha và Italy muốn
chương trình tiến triển nhanh hơn nữa thì Đức, Anh và Luychxămbua lại đề nghị
xem xét kỹ lại các chính sách.
Quan điểm của Anh cho rằng thống nhất tiền tệ có thể được thực hiện
không cần phải thành lập ngay ngân hàng trung ương châu Âu và đồng tiền
chung châu Âu. Trong khi đó, lý thuyết và một phần thực tế, cũng như ý kiến của
các nước EC khác lại kh
ẳng định rằng EMU đòi hỏi một chính sách tiền tệ
chung, một đồng tiền chung chứ không chỉ là một hệ thống tỷ giá hối đoái lâu
dài, và một ngân hàng trung ương của EU để điều hành chính sách tiền tệ và lãi
suất hơn là chỉ có sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngân hàng trung ương các nước
với nhau. Kế hoạch Delors còn nhấn mạnh về sự cần thiết phải hội nhậ
p không
ương trình này chịu sự đánh
giá của Hội đồng các Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính (ECOFIN) có mục tiêu là
nhằm đảm bảo duy trì lạm phát thấp, tài chính nhà nước vững mạnh và ổn định
tỷ giá hối đoái giữa các nước thành viên - theo đúng yêu cầu của Hiệp ước
Masstricht, nhằm chuẩn bị cho việc phát hành đồng Euro làm đồng tiền chung
của Cộng đồng.
Hiệp ước Masstricht là sự sửa đổi bổ sung củ
a Hiệp ước Rome (1957) về
cải cách trong lĩnh vực chính trị và kinh tế. Nó tạo các điều kiện pháp lý cần thiết
để hình thành các tổ chức nhằm thúc đẩy quá trình hình thành EMU, ví dụ cho
phép hình hành NHTW châu Âu (ECB). Hiệp ước cũng quy định những điều
kiện cụ thể để một quốc gia được coi là đủ tư cách gia nhập EMU. Để gia nhập
EMU, các nước phải:
-Đạt được mức độ ổn định cao về
giá cả, thể hiện ở tỷ lệ lạm phát (trong 12
tháng trước đó) không quá 1,5% so với tỷ lệ lạm phát của 3 nước thành viên có
tỷ lệ lạm phát thấp nhất.
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 18 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
-Duy trì tình hình tài chính của chính phủ ổn định, thể hiện ở ngân sách
chính phủ không có thâm hụt quá lớn, thâm hụt không quá 3% GDP trong điều
kiện bình thường, và tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP không vượt quá 60%. Hiệp
ước cho phép một sự linh hoạt nhất định khi đánh giá tiêu chí này, ở chỗ nó có
tính đến những tiến bộ trước đây trong việc giảm thâm hụt ngân sách và/hoặc các
yếu tố bất ngờ, đặc biệt gây ra sự thâm hụt
đó.
-Tuân thủ biên độ dao động bình thường mà cơ chế tỷ giá hối đoái của EMS
cho phép trong ít nhất hai năm, cụ thể là trong giai đoạn đó, một nước thành viên
3.2.3 Giai đoạn 3: Đồng Euro đi vào lưu thông
Giai đoạn 3 của EMU bắt đầu ngày 1/1/1999. Từ đầu giai đoạn này, đồng
Euro trở thành
đồng tiền theo đúng nghĩa của nó và tỷ lệ chuyển đổi các đồng
tiền quốc gia của các nước thành viên áp dụng đồng Euro được ấn định không
thay đổi. Các đồng tiền quốc gia ban đầu sẽ lưu hành song song với đồng Euro.
Đồng Euro sẽ thay thế đồng ECU với tỷ lệ 1:1.
Việc đồng ECU thay thế các đồng bản tệ sẽ được tiến hành dần dần trong
giai đoạn này và chỉ
chính thức thay thế hoàn toàn các đồng tiền quốc gia tham
gia liên minh vào năm 2002. Kể từ giai đoạn này, NHTW châu Âu cũng bắt đầu
thi hành một chính sách tiền tệ chung cho các nước thành viên. Nhằm đảm bảo
kỷ luật tài chính để tạo điều kiện cho chính sách tiền tệ chung, Hiệp ước ổn định
và phát triển cũng đã bắt đầu có hiệu lực. Một cơ chế tỷ giá mới - gọi là cơ chế t
ỷ
giá 2, ERM2 - gắn đồng tiền các nước chưa đủ điều kiện gia nhập với đồng Euro
cũng sẽ đi vào hoạt động từ đầu giai đoạn này. Cơ chế mới nhằm thúc đẩy sự hội
nhập của các nước chưa đủ điều kiện với các điều kiện kinh tế vĩ mô của khu vực
đồng Euro, đồng thời giúp đảm b
ảo sự ổn định của tỷ giá trong Liên minh Châu
Âu nói chung.
Vào ngày 1/1/2002, tiền giấy và tiền xu Euro chính tức được đưa vào lưu
thông và tiền giấy và tiền xu nội tệ bắt đầu rút lui khỏi lưu thông. Ngày
28/1/2002, Hà Lan là nước đầu tiên hoàn thành việc thay thế toàn bộ đồng tiền
quốc gia cũ bằng đồng tiền chung. Ailen và Pháp cũng kết thúc giai đoạn tồn tại
song song của hai đồng tiền vào ngày 9/2 và 17/2/2002. Với 9 nước còn lại, thời
k
ỳ này đồng loạt chính thức kết thúc vào ngày 28/2.
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
không thể thâm nhập thị trường nước đó.
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 21 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
Tuy nhiên, việc tháo dỡ các rào cản phi thuế quan lại là một công việc khó
khăn và phức tạp, do mỗi nước đều có nhu cầu sử dụng các biện pháp này nhằm
bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, bảo vệ người lao động trong nước hay có
thể là bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường sinh thái. Do đó, dỡ bỏ các
hàng rào này đòi hỏi phải phối hợp nhiều chính sách và luật lệ chứ không chỉ
đơn giản là cắt giảm thuế như trường hợp các hàng rào thuế quan. Các nước
thành viên Cộng đồng châu Âu đã phải mất hơn một thập kỷ kể từ khi thiết lập
thành công liên minh thuế quan, vất vả xoá bỏ các hàng rào cản kỹ thuật đối với
thương mại mà không thu được mấy thành công. Phải đến giữa những năm 1980,
Cộng đồng châu Âu mới đạt được những tiến bộ
quan trọng trong lĩnh vực này,
dựa trên những khuôn khổ pháp lý và thể chế vững chắc như ký kết các Hiệp
định đa phương, thành lập Uỷ ban châu Âu, thành lập cơ quan hành pháp ở cấp
độ khu vực như Toà án tối cao châu Âu, cơ quan lập pháp như Hội đồng Bộ
trưởng. Giai đoạn "thị trường chung" được coi là chính thức hoàn thành ngày
31/12/1992, ngày hoàn tất chương trình thị trường chung do Uỷ ban châu Âu đưa
ra. Tuy nhiên, kể cả cho tới ngày hôm nay, v
ẫn còn nhiều lĩnh vực như dịch vụ
tài chính, năng lượng, viễn thông... cần được tiếp tục cải cách để thị trường của
Liên minh châu Âu thực sự là một thị trường chung.
Nghiên cứu sự biến động của tỷ giá hối đoái ở châu Âu giai đoạn từ 1960
đến cuối năm 1992, thời điểm được coi là hoàn thành giai đoạn thị trường chung,
chúng ta sẽ thấ
y rằng những giai đoạn mà quá trình hội nhập của châu Âu tiến
triển thuận lợi thường đi kèm với sự ổn định của tỷ giá hối đoái. Đó là thời kỳ tỷ
iều chỉnh kinh tế của các nước thành viên để hội nhập theo các tiêu chí
thống nhất
Hiệp ước Masstricht năm 1991 đã đề ra thời gian biểu chi tiết và những điều
kiện để các nước tham gia vào giai đoạn cuối của quá trình hội nhập tiền tệ châu
Âu. Trên thực tế, việc các nước ERM điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô nhằm
thực hiện các tiêu chí của Hiệp ước Masstricht đ
ã làm tăng sự ổn định của môi
trường tiền tệ và tỷ giá hối đoái ở châu Âu từ sau năm 1993. Để đủ điều kiện
tham gia khu vực đồng tiền chung, các nước thành viên phải đạt được tỷ lệ lạm
phát và lãi suất (trên thực tế là thước đo mức lạm phát dự kiến) lần lượt không
vượt quá 2% và 1,5% so với mức trung bình của ba nước thành viên có tỷ lệ lạm
Khả năng, lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước
ASEAN
Bùi Quốc Thái - 23 - Đại học Ngoại Thương
TC K18-A1
phát thấp nhất. Hai tiêu chí này chủ yếu nhằm mục đích hạn chế sự biến động
của tỷ giá thực tế khi tỷ giá danh nghĩa đã được ấn định. Thêm vào đó, các nước
này còn phải duy trì được tỷ giá ổn định trong biên độ cho phép của ERM mà
không đơn phương điều chỉnh tỷ giá trung tâm trong ít nhất hai năm trước khi
gia nhập khu vực đồng tiền chung. Điều này sẽ buộc các n
ước thành viên tương
lai khi hoạch định chính sách tiền tệ phải cân nhắc đến lợi ích của cả khối chứ
không chỉ là lợi ích của nước mình.
Ngoài ra, có hai tiêu chí về mức thâm hụt ngân sách không quá 3% GDP và
tỷ lệ nợ/GDP không quá 60% hay chí ít cũng đang giảm xuống mức này với một
tốc độ thoả đáng. Mục đích của hai tiêu chí này là để tránh sự mất cân đối của
một nước thành viên ảnh hưởng tiêu cự
c đến một nước thành viên khác thông
qua áp lực thực hiện chính sách tiền tệ lỏng quá mức hay thậm chí là cho vay để
cứu nguy cho chính phủ nước đó. Các nước Liên minh châu Âu đặc biệt coi
tiền chung đó. Mặt khác, sự hội nhập này trên thực tế đã diễn ra và đạt được
những kết quả đáng kể từ lâu trước khi lịch trình cụ thể đi đến EMU được công
bố.
Nói chung, kinh nghiệm của các nước châu Âu cho thấy rằng chính sách tài
khoá và tiền tệ
nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô là một tiền đề để ổn định tỷ
giá hối đoái. Và chính sách tiền tệ chung và/hoặc các thoả thuận tỷ giá hối đoái
chỉ có thể thành công nếu các chính sách này được tiến hành kết hợp với một
chính sách nhằm điều chỉnh kinh tế vĩ mô để hội nhập.
4.3 Thiết lập một cơ chế liên kết t
ỷ giá
Nhìn lại quá trình phát triển của cơ chế liên kết tỷ giá ở châu Âu, chúng ta
có thể thấy cơ chế này đã trải qua ba giai đoạn lớn như sau:
Giai đoạn một bắt đầu từ khi thành lập Cộng đồng vào năm 1957 cho đến
khi thiết lập Hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1979. Sự phối hợp trên lĩnh vực tỷ giá
hối đoái ở giai đoạn này nhìn chung còn l
ỏng lẻo, kể cả trong khuôn khổ Hệ
thống Bretton Woods cũng như cơ chế "Con rắn tiền tệ" của các nước châu Âu.
Trên thực tế, các nước đều đã nhận thấy nhu cầu phối hợp trong lĩnh vực tỷ giá
hối đoái cũng như chính sách tài chính và tiền tệ và đã thành lập một số uỷ ban
nhằm mục đích thúc đẩy các hoạt động này như Hội đồ
ng các Bộ trưởng Tài
chính, Uỷ ban châu Âu, Hội đồng các thống đốc NHTW của Cộng đồng... Tuy