LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH & HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY XUẤT
NHẬP KHẨU NÔNG SẢN THỰC PHẨM
AN GIANG Giáo viên thực hiện : Ts Nguyễn Trí Tâm
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Duy Hùng
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm MỞ ĐẦU
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách kinh tế, các chính
sách về tự do hóa thương mại - đầu tư và hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam đã
và đang hoàn thiện dần cơ chế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển phù hợp
với quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa. Song song với việc cải cách kinh tế,
Việt Nam đang tiế
n hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chuẩn bị cho
lộ trình gia nhập AFTA, một sân chơi khu vực nhiều thuận lợi nhưng cũng đầy
khó khăn. Thực tiễn đặt ra như vậy, đòi hỏi nền kinh tế của Việt Nam trong
trang 1
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành…. Và vấn đề trên hết là phải sử dụng
có hiệu quả vốn kinh doanh.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, được sự đồng tình của ban lãnh đạo
công ty, Trường Đại Học An Giang, Khoa Kinh Tế Quản Trị Kinh Doanh và sự
nhiệt tình chỉ dẫn của thầy Nguyễn Trí Tâm, tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
“Phân Tích Tình Hình Và Hiệu Quả Sử Dụng Vốn tại Công Ty Xuất
Nhập Khẩu Nông Sản Thực Phẩm An Giang”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Để thấy được tình hình và hiệu quả sử dụng vốn, đề tài đặt ra những mục
tiêu cần nghiên cứu sau:
- Thực trạng sử dụng vốn của công ty.
- Thông qua kết quả kinh doanh để thấy được hiệu quả sử dụng vốn.
- Một số biện pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử d
ụng vốn.
Quá trình tiếp xúc tại công ty cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về công
ty, đánh giá khách quan hoạt động kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, thấy
được cách thức sử dụng vốn tại công ty, nguồn vốn đó được huy động ra sao,
được sử dụng như thế nào trong những năm qua, có mang lại hiệu quả như mong
muốn hay không, hiệu quả mang lại cao hay thấp…. Tóm lại, mục tiêu muốn
nghiên cứu là hiệu quả sử dụng vốn của công ty, cho thấ
y hiệu quả hoạt động
− Khả năng đảm bảo nguồn vốn.
− Kết quả kinh doanh của công ty.
− Phân tích một số chỉ tiêu tài chính.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Có nhiều phương pháp tiếp cận để phân tích vấn đề về vốn của công ty. Đề
tài đã chọn những phương pháp sau:
Thu thập số liệu
Khi thực tập tại công ty, để có được nh
ững thông tin sơ cấp, tôi thường tiếp
xúc với nhân viên, quan sát cách làm việc của họ tại công ty.
Liên hệ với các phòng ban để có được các báo cáo tài chính, tìm thêm
thông tin trên mạng, các tạp chí tài chính, báo đài….
Xử lý số liệu
Phương pháp thống kê
Chỉ tiêu thống kê là sự biểu hiện một cách tổng hợp đặc điểm về mặt lượng
trong sự thống nhất về mặt chất của tổng thể hiện tượng trong điều kiện thời gian
và địa điểm cụ thể. Phương pháp thống kê được xử dụng chủ yếu là thu thập các
số liệu từ các báo cáo tài chính, tổng hợp lại theo trình tự
để thuận lợi cho quá
trình phân tích.
Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được áp dụng rất phổ biến. So sánh trong phân tích là
đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội
dung, có tính chất tương tự để xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu. Nó
cho ta tổng hợp được những cái chung, tách ra được những nét riêng của chỉ tiêu
được so sánh. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đánh giá được một cách khách quan
SVTH: Nguyễn Duy Hùng
CHƯƠNG 1
SVTH: Nguyễn Duy Hùng
trang 4
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
1.1.1.2
Nợ phải trả
Nợ phải trả bao gồm các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, các khoản phải trả
phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, nộp như: phải trả người bán, phải trả
công nhân viên, phải trả khách hàng, các khoản phải nộp cho Nhà nước.
1.1.2 Phân loại vốn
SVTH: Nguyễn Duy Hùng
trang 5
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm Như khái niệm đã nêu, chúng ta thấy vốn có nhiều loại và tùy vào căn cứ để
chúng ta phân loại vốn:
- Căn cứ vào hình thái biểu hiện, vốn được chia làm hai loại: Vốn hữu hình
và vốn vô hình.
- Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn cố
định và vốn lưu động.
- Căn cứ vào thời hạn luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: Vốn ngắn
hạn và v
ốn dài hạn.
- Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn được hình thành từ hai nguồn cơ bản:
Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
- Căn cứ vào nội dung vật chất, vốn được chia làm hai loại: Vốn thực (còn
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động không thay đổi, còn
giá trị thì luân chuyển dần, cho nên bộ phận vốn ứng trước này là vốn cố định.
Từ những nhận định đã nêu ta thấy:
Vốn cố định của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về những tư liệu lao
động chủ yếu mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từ
ng bộ phận giá trị
vào sản phẩm mới cho đến khi tư liệu lao động hết thời hạn sử dụng thì vốn cố
định mới hoàn thành một lần luân chuyển (hoặc hoàn thành một vòng tuần hoàn).
Vốn cố định phản ánh bằng tiền bộ phận tư liệu lao động chủ yếu của doanh
nghiệp. Tư liệu lao động lại là cơ sở vật chất củ
a nền sản xuất xã hội. Chính vì
thế, vốn cố định có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển nền sản xuất xã hội.
Tài sản cố định và vốn cố định của doanh nghiệp có sự khác nhau ở chổ: khi
bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp có vốn cố định giá trị bằng giá trị tài sản cố
định. Về sau, giá trị của vốn cố
định thấp hơn giá trị nguyên thủy của tài sản cố
định do khoản khấu hao đã trích.
Trong quá trình luân chuyển, hình thái hiện vật của vốn cố định vẫn giữ
nguyên (đối với tài sản cố định hữu hình), nhưng hình thái giá trị của nó lại thông
qua hình thức khấu hao chuyển dần từng bộ phận thành quỹ khấu hao. Do đó,
trong công tác quản lý vốn cố định phải đảm bảo hai yêu c
ầu: một là bảo đảm
cho tài sản cố định của doanh nghiệp được toàn vẹn và nâng cao hiệu quả sử
dụng của nó; hai là phải tính chính xác số trích lập quỹ khấu hao, đồng thời phân
tiêu thụ ngay. Thực tế cho thấy, sau khi sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp phải
chọn lọc, đóng gói, tích lũy thành lô hàng, thanh toán với khách hàng… nên hình
thành một số khoản vật tư
và tiền tệ (thành phẩm, vốn bằng tiền, khoản phải
trả…). Những khoản vật tư và tiền tệ phát sinh trong quá trình lưu thông gọi là
tài sản lưu thông.
Do tính chất liên tục của hoạt động kinh doanh, mọi doanh nghiệp phải có
một số vốn thỏa đáng để mua sắm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông.
Cả hai loại tài sản này thay thế lẫn nhau vận độ
ng không ngừng để quá trình sản
xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi. Trong nền kinh tế hàng hóa, tài sản lưu
động sản xuất và tài sản lưu thông được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Số vốn
ứng trước cho những tài sản này gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng trước về đối tượng lao
động và ti
ền lương tồn tại dưới các hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩm
đang chế tạo, thành phẩm, hàng hóa và tiền tệ hoặc đó là số vốn ứng trước về tài
sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông ứng ra bằng số vốn lưu động nhằm
đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện thường xuyên liên tục. Vốn
lưu độ
ng luân chuyển giá trị toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng
tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản
xuất kinh doanh. Do đặc điểm tuần hoàn của vốn lưu động trong cùng một lúc nó
phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau. Để tổ chức hợ
p lý sự tuần hoàn của các tài sản ở doanh nghiệp, để quá
trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư
vào các hình thái khác nhau như đã nêu làm cho các hình thái này có mức tồn tại
hợp lý và đồng bộ.
1.1.3 Cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc vốn của doanh nghiệp được thể hiện trên bảng cân đối kế toán, ở
đó nó mô tả sức mạnh tài chính của doanh nghiệp: những thứ doanh nghiệp hiện
có và các thứ doanh nghiệp còn nợ tại một thời điểm.
Dựa vào bả
ng cân đối kế toán, cụ thể bên phần nguồn vốn sẽ cho ta thấy
được cấu trúc vốn của doanh nghiệp: doanh nghiệp đã sử dụng vốn chủ sở hữu
bao nhiêu, vốn vay bao nhiêu và những nguồn vốn được tài trợ từ các lĩnh vực
khác bao nhiêu.
1.1.4 Vấn đề bảo toàn vốn kinh doanh
Bước vào lĩnh vực kinh doanh là để kiếm lời, phần thu về trước hết phải bù
đắp phần v
ốn đã bỏ ra. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp bảo toàn được
vốn, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, doanh
nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt. Biểu hiện trên
thực tế là quy mô của doanh nghiệp được mở rộng, đời sống nhân viên được cải
thiện, mối quan hệ với khách hàng ngày càng tốt đẹp, hoàn thành tố
t nghĩa vụ đối
với Nhà nước.
Thông qua những biểu hiện nêu trên, cho thấy doanh nghiệp đang thịnh
vượng, đang trên đà phát triển rất tốt. Một lần nữa có thể khẳng định rằng, vấn đề
bảo toàn vốn là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế.
Tóm lại, phần phân tích trên đã cho thấy khái quát các vấn đề v
ề cơ cấu vốn
ở doanh nghiệp. Phần tiếp theo chúng ta tiến hành nghiên cứu tình hình tài chính
tại doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Duy Hùng
trang trải các loại tài sản đảm bảo cho các hoạt động chủ yếu tại doanh nghiệp
mà không cần phải đi vay hay chiếm dụng của đơn vị khác. Do đó, ta có cân đối
sau:
B.NV = [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.TS+[I+II+III] B.TS (1.1)
Trong đó, NV: nguồn vốn.
TS: tài sản.
Cân đối trên chỉ mang tính chất lý thuyết, thực tế cho thấy, trong quá trình
hoạt động của doanh nghiệp, cân đối (1.1) xảy ra một trong hai trường hợp sau:
Trường hợ
p1: vế trái > vế phải. Đây là trường hợp vốn chủ sở hữu sử dụng
không hết và doanh nghiệp đang bị đơn vị khác chiếm dụng vốn. Chúng ta cần
xem xét số vốn bị chiếm dụng có hợp lý hay không.
SVTH: Nguyễn Duy Hùng
trang 10
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm Trường hợp 2: vế trái < vế phải. Đây là trường hợp vốn chủ sở hữu không
đủ trang trải cho các hoạt động chủ yếu, doanh nghiệp phải đi vay hay chiếm
dụng vốn. Vấn đề đặt ra là vốn đi vay hay chiếm dụng có hợp lý hay không. Ta
có cân đối:
[(1,2)I+II] A.NV+B.NV = [I+II+IV+(2,3)V+VI] A.TS+[I+II+II] B.TS (1.2)
Cân đối (1.2) cho thấy vốn vay và vốn chủ sở hữu đủ trang trải cho các hoạt
động của doanh nghiệp, nhưng trên th
trang 11
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm
Doanh thu thuần
Tổng vốn sử dụng bình quân
=
Số vòng quay
toàn bộ vốn
(1.4)
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn của doanh nghiệp, nghĩa là vốn
quay bao nhiêu vòng trong năm. Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp sử
dụng vốn có hiệu quả.
Tỷ lệ hoàn vốn (ROI: Return On Investment)
(1.5)
Lợi nhuận sau thuế
Tổng vốn sử dụng bình quân
=
ROI
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng vốn sử dụng bình quân trong kỳ mang về
bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy vốn sử dụng
có hiệu quả.
1.3.1 Chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm - Chỉ tiêu lợi nhuận phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng trong kỳ.
- Là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất xã hội.
- Lợi nhuận cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sức
mạnh và triển vọng tài chính của doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu “hấp dẫn”
để thu hút vốn đầu tư.
Từ hai chỉ tiêu trên, chúng ta tính được các tỷ số về doanh lợi. Đây là chỉ
tiêu về tỷ suất lợi nhuận, phản ánh kết quả của hàng loạt các chính sách và quyết
định của doanh nghiệp, là đáp số cuối cùng về hiệu năng quản trị doanh nghiệp.
Doanh lợi tiêu thụ (ROS: Return On Sale)
Doanh lợi tiêu thụ phản ánh mức sinh lời trên doanh thu, cứ 100 đồng doanh
thu thuần thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Có thể dùng nó để so
sánh với tỷ số của các năm trước hay của doanh nghiệ
p khác cùng ngành.
(1.6)
Lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng): là khoản lời còn lại của doanh nghiệp
sau khi đã trừ tổng chi phí và thuế thu nhập.
Sự thay đổi mức sinh lời phản ánh những thay đổi về hiệu quả, đường lối
sản phẩm hoặc loại khách hàng mà doanh nghiệp phục vụ.
Lợi nhuận sau thuế
Doanh Thu thuần
=
ROS
Doanh lợi vốn tự có (ROE: Return On Equity)
Doanh lợi vốn tự có phản ánh hiệu quả của vốn tự có hay chính xác hơn là
đo lường mức sinh lời đầu tư của vốn chủ sở hữu.
kinh doanh là kết quả “đầu ra” tối đa trên chi phí “đầu vào” tối thiểu.
Vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh là toàn bộ quá trình doanh nghiệp sử
dụng hợp lý các nguồn lực sẵn có của mình: vốn, lao động, kỹ thuật… trong hoạt
động kinh doanh để đạt được kết quả mong muốn, cụ thể là lợi nhuận đượ
c tối đa
hóa.
1.3.2.2
Vai trò của hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả kinh doanh xuất
nhập khẩu nói riêng.
Hiệu quả kinh tế chính là mục tiêu hàng đầu mà mọi cá nhân, mọi tổ chức
khi tiến hành kinh doanh đều mong muốn đạt được. Hiệu quả kinh tế được thể
hiện thông qua lợi nhuận thu được tối đa trên chi phí tối thiểu, nó góp phần bổ
sung vốn kinh doanh, tăng quy mô sản xuất, tích lũy ngoại tệ, tăng thu ngân sách,
cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Hoạt động kinh doanh xu
ất nhập khẩu là lĩnh vực kinh doanh quan trọng
của đất nước. Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu góp phần nâng cao năng lực
sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập nâng cao đời sống cho người
lao động, góp phần cũng cố cán cân thanh toán quốc tế của đất nước.
Tóm lại, mỗi đơn vị kinh doanh là một tế bào của nền kinh tế, do vậy đơn vị
hoạt động có hiệu quả thì nền kinh tế cũng đạt hiệu quả. Nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước.
1.3.3 Hiệu quả sử dụng vốn cố định
Vốn cố định biểu hiện giá trị bằng tiền của các loại tài sản cố định ở doanh
nghiệp, thể hiện quy mô c
ủa doanh nghiệp. Tài sản cố định nhiều hay ít, chất
lượng hay không chất lượng, sử dụng chúng có hiệu quả hay không đều ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Một số chỉ tiêu cần phân tích để
đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Vốn cố định sử dụng bình quân
Tỷ lệ sinh lời
vốn cố định
=
Tài sản cố định là bộ phận không thể thiếu ở bất kỳ một doanh nghiệp. Tỷ
trọng tài sản cố định thay đổi tùy theo quy mô, ngành nghề kinh doanh. Hiệu quả
sử dụng tài sản cố định phần nào phản ánh hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định: cho biết 100 đồng tài sản cố định bỏ
ra mang về cho doanh nghi
ệp bao nhiêu đồng lợi nhuận.
(1.11)
Hiệu quả sử
dụng TSCĐ
Lợi nhuận
Giá trị TSCĐ
x 100%
=
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định: đo lường việc sử dụng tài sản cố
định như thế nào, càng cao càng tốt.
(1.12)
Hiệu suất sử
dụng TSCĐ
Doanh thu
Giá trị TSCĐ
=
1.3.4 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn lưu động
- Kỳ luân chuyển bình quân vốn lưu động: cho biết số ngày bình quân cần
thiết để vốn lưu động thực hiện được một vòng quay trong kỳ.
(1.14)
- Hiệu suất một đồng vốn hàng tồn kho: cho biết một đồng vốn hàng tồn
kho bình quân góp phần tạ
o ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
(1.15)
- Mức doanh lợi vốn lưu động: cho biết một đồng vốn lưu động có thể tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế.
(1.16)
1.3.5 Hiệu quả sử dụng lao động
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng của đất nước nói chung và của
doanh nghiệp nói riêng, đội ngũ nhân lực có tài và được sử dụng hợp lý sẽ mang
l
ại hiệu quả kinh tế cao.
Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động:
Năng suất lao động bình quân (NSLĐBQ): cho biết một nhân viên
làm ra bao nhiêu tiền trong năm.
(1.17)
Lương bình quân: bình quân người lao động nhận được bao nhiêu
tiền/tháng.
(1.18)
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay vốn lưu động
Kỳ luân chuyển bình
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm Hiệu quả sử dụng tiền lương: chỉ tiêu này cho thấy chi phí trả 1 đồng
tiền lương cho người lao động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
(1.19)
Hiệu quả sử dụng
Lợi nhuận
Tổng quỹ lương
x 100%
=
tiền lương
Sau khi đã thấy được khái quát tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để
hoạt động kinh doanh được duy trì liên tục ta phải làm rõ tình hình thanh toán và
khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Đây là vấn đề thực sự cho thấy doanh
nghiệp sử dụng vốn có hi
ệu quả hay không.
1.4 TÌNH HÌNH THANH TOÁN VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN
1.4.1 Tình hình thanh toán
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp luôn tồn tại các khoản phải thu và
phải trả. Tình hình thanh toán có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh. Phân tích tình hình thanh toán để đánh giá tính hợp lý về các khoản phải
thu, phải trả, tìm ra những nguyên nhân của sự đình trệ trong thanh toán, giúp
doanh nghiệp làm chủ được tình hình tài chính, đảm bảo cho sự tồn tại và phát
triển.
1.4.1.1
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm Các chủ nợ thường mong muốn tỷ số này thấp vừa phải. Ngược lại, doanh
nghiệp lại muốn tỷ số này cao.
Để thấy được tình hình chi trả, ta cần so sánh tổng nợ phải trả với từng
khoản nợ phải trả giữa đầu năm và cuối năm.
1.4.2 Khả năng thanh toán
1.4.2.1
Khả năng thanh toán ngắn hạn
Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn là cho thấy tài sản của doanh
nghiệp có đủ trang trải các khoản nợ ngắn hạn hay không.
Mọi doanh nghiệp đều phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để đáp
ứng kịp thời nợ ngắn hạn, duy trì đủ các loại hàng tồn kho để đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh được thuận lợi.
Vốn luân chuyển là số chênh lệch giữa tài sản lư
u động và đầu tư ngắn hạn
với nợ ngắn hạn. Vốn luân chuyển phản ánh bằng số tiền được tài trợ từ các
nguồn lâu dài mà không đòi hỏi chi trả trong khoảng thời gian ngắn.
Tuy nhiên, quy mô của vốn luân chuyển chưa phải là căn cứ tốt để đánh giá
khả năng thanh toán ở doanh nghiệp. Do đó, để đánh giá khả năng thanh toán ta
cần xét đến các chỉ tiêu sau.
Khả năng thanh toán hiện hành (R
c
)
R
c
m
)
(1.24)
Tiền + Đầu tư tài chính ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
R
m
=
Cho thấy lượng tiền dùng để thanh toán.
Hệ số quay vòng các khoản phải thu: phản ánh tốc độ chuyển đổi các
khoản phải thu thành tiền mặt.
(1.25)
Doanh thu thuần
Số dư bình quân các khoản phải thu
H
=
Hệ số H càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, điều
này là tốt cho doanh nghiệp vì không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu.
Tuy nhiên, H quá cao đồng nghĩa với kỳ hạn thanh toán ngắn, có
ảnh hưởng lớn
đến việc tiêu thụ sản phẩm.
Kỳ thu tiền bình quân: đo lường khả năng thu hồi vốn trong thanh toán
tiền hàng. Cho thấy khi sản phẩm tiêu thụ thì bao lâu doanh nghiệp thu
được tiền.
(1.26)
Kỳ thu tiền
bình quân
Các khoản phải thu
Doanh thu thuần
1.4.2.2 Khả năng thanh toán dài hạn
Khả năng thanh toán lãi vay: đo lường mức độ mà lợi nhuận phát sinh
do việc sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay như thế nào.
(1.28)
Lợi nhuận trước thuế + lãi vay
Lãi vay
=
Tỷ số thanh toán
lãi vay
Chỉ tiêu này là cơ sở để đánh giá khả năng đảm bảo nợ vay dài hạn của
doanh nghiệp. Các chủ nợ cho vay dài hạn, một mặt quan tâm đến khả năng trả
lãi vay, mặt khác họ chú trọng đến sự cân bằ
ng hợp lý giữa nợ phải trả và vốn
chủ sở hữu.
(1.29)
Tỷ lệ giữa nợ phải trả và
vốn chủ sở hữu
Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu
x 100%
=
Tóm lại, qua đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn và dài hạn cũng như
hiện trạng thanh toán của doanh nghiệp, một lần nữa cho chúng ta thấy khả năng
đảm bảo vốn kinh doanh của đơn vị, thấy được hiệu quả của việc sử dụng vốn.
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU
NÔNG SẢN THỰC PHẨM AN GIANG
2.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Công ty Xuất nhập khẩu nông thủy sản An Giang được Ủy ban nhân dân
tỉnh An Giang ký Quyết định thành lập số 71/QĐ_UBTC, ngày 01/02/1990 do sự
sáp nhập của 3 công ty: Công ty Chăn nuôi, Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản và
Xí nghiệp Khai thác chế biến thủy sản.
Đến năm 1992 căn cứ điều 12 Quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp
nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 388_HĐBT ngày 20/11/1991 và NĐ 156
HĐBT ngày 07/5/1992 của H
ĐBT, theo đó giải thể Công ty Lâm sản tách một bộ
phận nhập vào Công ty Xuất nhập khẩu nông thủy sản An Giang. UBND tỉnh An
Giang sau khi thống nhất với Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đã có
Quyết định số 528/QĐUB ngày 02/11/1992 thành lập Công ty Xuất nhập khẩu
nông thủy sản An Giang.
Trong thời gian này công ty liên tục phát triển, hoạt động kinh doanh mang
lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế
tỉnh nhà,
vào ngân sách địa phương, thu hút nhiều lao động nhàn rỗi, khai thác tốt các thế
mạnh của tỉnh, trở thành một trong những công ty nhà nước hàng đầu của địa
phương.
Để phù hợp với tình hình thực tế, nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển cũng
như khả năng quản lý. UBND tỉnh đã tách bộ phận thủy sản của công ty hình
thành một đơn vị mới và ra Quyết định số 69/QĐ
UB ngày 29/01/1996 đổi tên
- Ngân sách cấp: 50.222.026.099 đồng.
- Tự bổ sung: 16.776.377.303 đồng.
Chia theo mục đích sử dụng:
- Vốn cố định: 55.133.639.396 đồng.
- Vốn lưu động: 11.865.764.006 đồng.
2.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN
2.2.1 Chức năng
Công ty Afiex chuyên sản xuất, chế biến, kinh doanh gạo, nông sản, thủy
sản, thực phẩm chế biến, sản phẩm chă
n nuôi, thức ăn cho gia súc và thủy sản,
thuốc thú y, thi công xây dựng công trình và kinh doanh vật liệu xây dựng, khai
thác chế biến lâm sản, kinh doanh đồ gỗ gia dụng, hàng bách hóa tổng hợp, hàng
điện máy và thiết bị điện tử, phân bón, giống cây trồng vật nuôi, vật tư phục vụ
sản xuất nông nghiệp, dịch vụ khai báo Hải quan và giao nhận hàng hóa xuất
nhập khẩu.
Thời gian qua công ty đã triển khai những dự án tập trung cho chế
biến
nông thủy sản và phát triển sản xuất giống cây trồng, vật nuôi phục vụ mục tiêu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh nhà.
Hoạt động xuất nhập khẩu:
- Xuất khẩu: gạo, nông sản, thủy sản…
- Nhập khẩu: phân bón, thuốc thú y, nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc,
hóa chất, hàng kim khí điện máy và hàng tiêu dùng khác.
SVTH: Nguyễn Duy Hùng
trang 22
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
- Được ch
ủ động ký kết các hợp đồng xuất, nhập khẩu trong khuôn khổ
chức năng ngành nghề pháp luật cho phép.
- Tổ chức thu mua, gia công chế biến các mặt hàng xuất khẩu, trao đổi
mua bán trong nước theo quy định hiện hành.
- Công ty có quyền đầu tư, liên doanh, góp vốn cổ phần.
- Mở rộng quy mô kinh doanh tùy theo khả năng của mình, tự lựa chọn thị
trường xuất, nhập khẩu.
SVTH: Nguyễn Duy Hùng
trang 23
Công ty XNK Nông Sản Thực Phẩm An Giang
GVHD: TS. Nguyễn Trí Tâm - Tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức kinh doanh phù hợp với mục tiêu,
nhiệm vụ của từng thời kỳ, tạo điều kiện thuận lợi làm cơ sở cho sự phát triển
bền vững, lâu dài.
2.3 CƠ CẤU TỔ CHỨC
Cơ cấu tổ chức của công ty được xây dựng theo mô hình trực tuyến chức
năng.
Ban Giám Đốc
Chỉ đạo, quản lý,
điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh
xuất, nhập khẩu và các mặt công tác khác trong công ty. Giám đốc là người chịu
trách nhiệm toàn bộ về mọi hoạt động của công ty trước UBND tỉnh.