z
BÁO CÁO THỰC TẬP
Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm gạch ốp lát Granit tại
Công ty Thạch Bàn G
G
i
i
á
á
o
ov
v
i
i
ê
ê
n
n
àM
M
a
a
i
iA
A
n
n
h
hS
S
i
i
n
n
h
hv
: LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển như vũ bão, đất nước
đang trên đà phát triển theo con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì
càng cần nhiều các doanh nghiệp, các công ty. Để quản lý được phải nhờ sự
điều hành của Nhà nước và kế toán với tư cách là công cụ quản lý ngày càng
được khai thác tối đa sức mạnh và sự uyển chuyển của nó nhằm
điều chỉnh vĩ
mô và kiểm soát sự vận hành của nền kinh tế trong hiện thực phong phú và đa
chiều. Mặt khác, kế toán còn là công cụ không thể thiếu được trong hệ thống
các công cụ quản lý vốn, tài sản và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp đồng thời nó là nguồn cung cấp thông tin đáng tin cậy để Nhà
nước điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Giá thành sả
n phẩm cũng như phạm trù kinh tế khác của sản xuất có vai
trò to lớn trong quản lý và sản xuất. Nó là nhân tố tác động trực tiếp đến giá
cả hàng hoá, để tiến hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì không thể
không kế hoạch hoá hạch toán mọi chi phí sao cho đạt lợi nhuận cao nhất với
chi phí thấp nhất. Vì vậy, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành đúng
đủ, chính xác, kịp thời là nhân tố quan trọng trong quyết định doanh l
ợi cho
công ty.
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT
I. CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT
1. Chi phí sản xuất:
1.1. Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ các chi phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà
doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Các
doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản về chi phí và chi phí lao động, chi
phí về vật tư lao động và đối tượng lao
động. Sự tham gia của các yếu tố sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp có sự khác nhau và nó hình thành các
khoản chi phí tương ứng.
Chi phí sản xuất gắn liền với sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn.
Vì thế, quản lý chi phí sản xuất thực chất là việc quản lý, việc sử dụng hợp lý,
tiết kiệm các loại tài sản, vật tư... của doanh nghiệp trong hoạt động s
ản xuất
kinh doanh. Mặt khác, chi phí sản xuất là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm,
lao vụ, dịch vụ hoàn thành nên quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất là mục tiêu
hạ giá thành sản phẩm.
Như vậy, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nền kinh tế hàng hoá
thì biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động vật hoá và lao động sống
cần thiết của doanh nghiệp phả
i chi ra trong một kỳ để tiến hành sản xuất kinh
doanh được gọi là chi phí sản xuất. Nội dung của nó bao gồm các yếu tố như:
chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung,
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Do đó, việc tập hợp chi phí sản xuất cần phải được tiến hành trong
những khoảng thời gian nhất định không phân biệt sản phẩm đã hoàn thành
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (giá thành đầy đủ) thì chỉ
tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi
phí bán hàng.
2.3. Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí.
Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm
và chi phí thời kỳ.
- Chi phí sản phẩ
m: Là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được
sản xuất ra hoặc được mua.
- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ. Nó
không phải là một phần giá trị sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua nên
được xem là các phí tổn cần được khấu trừ ra từ lợi tức của thời kỳ mà chúng
phát sinh (bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp).
2.4. Phân loại theo quan hệ củ
a chi phí và khối lượng công việc sản
phẩm hoàn thành.
Để việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí thuận tiện đồng thời làm căn
cứ để ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được
phân theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo cách này chi
phí được chia thành biến phí và định phí.
- Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với công
việc hoàn thành (chẳng hạn chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công tr
ực
tiếp). Tuy nhiên, các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm lại có
tính cố định.
- Định phí: Là những chi phí không đổi về tổng số, về tỷ lệ so với công
việc hoàn thành (chẳng hạn chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt
bằng, phương tiện kinh doanh...). Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản
phẩm thì lại biến đổi nếu như số lượng sả
n phẩm thay đổi.
- Giá thành đị
nh mức: Là giá thành được xác định trước khi bắt đầu sản
xuất sản phẩm và được xây dựng trên cơ sở xác định mức chi phí hiện hành
tại thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch thường vào ngày đầu tháng, giá
thành định mức có thể thay đổi do giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp
với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình sản xuất sản
phẩ
m.
- Giá thành toàn bộ: là chi phí thực tế của số sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ
và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp của một số sản phẩm dịch
vụ đó.
Công thức tính:
Giá thành
toàn bộ
= Giá thành sản
xuất thực tế của
sản phẩm dịch vụ
đã tiêu thụ
+ Chi phí bán hàng
phân bổ cho sản
phẩm, dịch vụ đã
tiêu thụ
+ Chi phí QLDN
phân bổ cho
sản ph
ẩm, dịch
vụ đã tiêu thụ
2. Ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành.
Giá thành là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá, đó là
một phạm trù kinh tế khách quan, đồng thời có đặc tính chủ quan trong một
Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD - CD
Tổng giá thành
sản phẩm
= CPSX dở dang
đầu kỳ
+ Chi phí sản xuất
phát sinh trong
kỳ
- Chi phí sản xuất
dở dang cuối kỳ
Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các
ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng
tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
4. Ý nghĩa của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sả
n
phẩm
Hạch toán chi phí sản xuất là một hình thức quản lý kinh tế có kế hoạch
của doanh nghiệp. Nó đòi hỏi phải dùng đến tiền tệ để đo lường, đánh giá kết
quả hoạt động kinh tế, phải bù đắp được những chi phí bỏ ra bằng chính
doanh thu của mình trên cơ sở tiết kiệm vốn và đảm bảo có lãi. Hạch toán
kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao
động, đảm bảo tích luỹ, tạo điều kiện
cho việc mở rộng không ngừng tái sản xuất mở rộng trên cơ sở áp dụng khoa
học công nghệ tiên tiến nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao và nâng cao
phúc lợi cho người lao động.
5. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Để đáp ứng được những yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm, kế toán phải th
ực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối
pháp hạch toán chi phí sản xuất khác nhau tuỳ theo đối tượng hạch toán ở
từng doanh nghiệp. Trong thực tế thường áp dụng một số phương pháp hạch
toán chi phí sau:
- Hạch toán chi phí theo sản phẩm
- Hạch toán chi phí theo chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm
- Hạch toán chi phí theo nhóm sản phẩ
m - Hạch toán chi phí theo đơn
đặt hàng.
2. Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm.
2.1. Đối tượng tính giá thành:
Việc xác định đối tượng tính giá thành được dựa trên các cơ sở sau:
* Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:
- Với sản xuất giản đơn, đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối
cùng.
- Với sản xuất phức tạp, đối tượng tính giá thành là bán thành phần ở
từng bước chế t
ạo hay thành phẩm ở bước chế tạo cuối cùng.
* Loại hình sản xuất: Đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất
hàng loạt với khối lượng lớn.
- Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng tính giá
thành sản phẩm của từng đơn.
- Điều kiện sản xuất hàng loạt khối lượng lớn,
đối tượng tính giá thành
có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo.
* Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tượng tính giá thành ở các góc độ
khác nhau.
- Với trình độ thấp, đối tượng tính giá thành có thể bị hạn chế và thu
hẹp lại. Nếu đặc điểm của doanh nghiệp cùng một quy trình sản xuất, cùng
một loại vật liệu nhưng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau thì đối
* Phương pháp tổng cộng chi phí: Được áp dụng đối với các doanh
nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản
xuất, nhiều giai đ
oạn công nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ
phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất. Giá
thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ
phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận
sản xuất tạo nên thành phẩm.
Giá thành sả
n phẩm = Z1 + Z2 + .... + Zn
Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng phổ biến trong các doanh
nghiệp khai thác, dệt nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc...
* Phương pháp hệ số:
Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong
cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng
lao động nhưng đồng thời thu được nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí
không tập hợp riêng cho từng loại sản ph
ẩm mà phải tập trung cho cả quá
trình sản xuất. Theo phương pháp này, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy
đổi để quy các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ đó đưa vào tổng chi phí
liên quan đến giá thành sản phẩm đã được tập hợp để tính giá thành sản phẩm
gốc và giá thành từng loại sản phẩm.
Giá thành đơn vị sản phẩm gốc =
Giá thành đơn vị
sản phẩm từng loại
Giá thành đơn vị
sản phẩm gốc
Hệ số quy đổi
sản phẩm từng loại
Tỷ lệ
chi phí
Trong đó:
Tỷ lệ chi phí = x 100
Tổng giá thành
thực tế từng loại sản
phẩm
Giá thành thực tế
đơn vị sản phẩm từng
loại
Số lượng sản
phẩm từng loại
* Phươ
ng pháp loại trừ sản phẩm phụ:
Đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên
cạnh các sản phẩm chính còn có thể thu được các sản phẩm phụ (các doanh
nghiệp chế biến đường, rượu, bia...) để tính giá trị sản phẩm chính, kế toán
phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá
trị sản phẩm phụ có thể xác định theo nhi
ều phương pháp như giá có thể sử
dụng được, giá ước tính, giá kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu...
Tổng
giá thành
sản phẩm
chính
Giá trị
sản phẩm
chính dở
dang đầu kỳ
Sơ đồ
+ Phương án không có bán thành phẩm
Theo phương án này, kế toán không cần tính giá thành bán thành phẩm
trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách
tổng cộng chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong
giai đoạn công nghệ. Có thể phản ánh phương án này qua sơ đồ sau:
Chi phí nguyên vật liệu chính cho thành
phẩm Chi phí bước 1 tính cho thành phẩm
Chi phí bước 2 tính cho thành phẩm Chi phí bước... tính cho thành phẩm
Tổng
giá
năm (theo số thứ tự trong sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ), và có chứng từ gốc
đính kèm phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán. Bao gồm:
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Sổ cái
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
* Hình thức Nhật ký - Chứng từ: là hình thức tổ chức sổ kế toán chung
để tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp v
ụ kinh tế phát sinh theo bên Có của
các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ theo bên Nợ của các tài
khoản đối ứng. Hình thức này bao gồm:
- Nhật ký chứng từ
- Bảng kê (số 4, 5, 6 và Nhật ký chứng từ số 07)
- Sổ cái
- Sổ, thẻ kế toán chi tiết. 3. Phương pháp tập hợp chi phí
3.1. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh
nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thườ
ng
xuyên.
a. Hạch toán chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu... được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm.
Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng
đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản
phẩm, loại sản phẩm lao vụ...) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó.
Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu
hao, theo hệ số, heo trọng lượng, số lượng sản ph
ẩm...
Chi phí vật liệu
phân bổ cho từng đối
tượng
Có TK 411: Vật liệu nhận cấp phát, nhận liên doanh
Có TK 154: Vật liệu tự sản xuất hay thuê ngoài, gia công
Có TK khác (311, 336, 338): Vật liệu vay, mượn.
- Giá trị vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho hay chuyển kỳ sau:
Nợ TK 152 Có TK 621
- Giá trị vật liệu còn lại kỳ trước nhập lại kho mà
để lại bộ phận sử
dụng sẽ được kế toán ghi vào đầu kỳ sau bằng bút toán:
Nợ TK 621
Có TK 152
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp cho từng đối
tượng tính giá thành:
Nợ TK 621
Có TK 152
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp cho từng đối
tượng tính giá thành:
Nợ TK 154 Có TK 621
2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp (CNCTT)
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản thù lao lao động phải trả
(gồm tiền lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương)
cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các
lao vụ, d
ịch vụ. Ngoài ra, CPNCTT còn bao gồm các khoản đóng góp cho các
quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn do người sử dụng lao
động chịu và tính vào chi phí kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền
lương phát sinh của công nhân trực tiếp sản xuất.
* Tài khoản sử dụng: Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán
sử dụng tài khoản 622 - Chi phí nhân công trực tiếp
Tài khoản này được mở chi tiết theo t
ừng đối tượng tập hợp chi phí
phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp. Để theo dõi các
khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 - Chi phí sản xuất
chung. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản
xuất dịch vụ.
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung th
ực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất
- Kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí sản xuất chung vào chi phí sản
phẩm hay lao vụ, dịch vụ.
TK 627 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành 6 tiểu khoản tuỳ
thuộc vào yếu tố chi phí sau:
6271 - Chi phí nhân viên phân xưởng
6272 - Chi phí vật liệu
6273 - Chi phí dụng cụ sản xuất
6274 - Chi phí khấu hao TSCĐ
6277 - Chi phí dịch vụ mua ngoài
6278 - Chi phí bằng tiền khác.
* Phương pháp hạ
ch toán:
- Tính ra tiền lương phải trả cho nhân viên phân xưởng
Nợ TK 627 (6271)
Có TK 338 (3382, 3383, 3384)
- Chi phí vật liệu dùng chung phân xưởng
Nợ TK 627 (6272)
Có TK 152
- Chi phí công cụ, dụng cụ sản xuất dùng cho các bộ phận, phân xưởng
Nợ TK 627 (6273)
Có TK 153
- Trích khấu hao TSCĐ của phân xưởng
Nợ TK 627 (6274)
Mức chi phí sản xuất chung phân bổ cho từng đối tượng = x Tổng chi
phí sản xuất chung cần phân bổ
4. Tổng chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang
4.1. Tổng chi phí sản xuất
* Tài khoả
n sử dụng
Việc tổng hợp toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm được tiến hành trên tài
khoản 154 - "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang". Tài khoản này được mở
chi tiết theo từng ngành sản xuất, từng nơi phát sinh chi phí hay loại sản
phẩm, loại lao vụ, dịch vụ... của các bộ phận sản xuất kinh doanh chính, sản
xuất kinh doanh phụ (kể cả thuê ngoài gia công chế iến).
Nội dung phản ánh của TK 154 nh
ư sau:
Bên Nợ: Tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ (chi phí
NVLTT, chi phí NCTT, chi phí sản xuất chung).
Bên Có: - Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất
- Giá thành sản xuất thực tế (hay chi phí thực tê) của sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ hoàn thành.
Dư Nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang chưa
hoàn thành.
* Phương pháp hạch toán
- Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (chi ti
ết theo
từng đối tượng, phân xưởng, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ...)
Nợ TK 154 Có TK 621
- Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp (chi tiết theo đối
tượng)
Nợ TK 154
Có TK 622
- Phân bổ (hoặc kết chuyển) chi phí sản xuất chung cho từng sản phẩm,
Theo phương pháp này, người ta căn cứ vào mức độ hoàn thành của sản
phẩm dở để ước tính nó đạt bao nhiêu % so với sản phẩm hoàn thành. Để đảm
bảo tính chính xác của việc đánh giá, phương pháp này chỉ nên áp dụng để
tính các chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên vật liệu trực ti
ếp phải xác
định theo số thực tế đã dùng.
- Phương pháp xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% theo chi phí
chế biến. Thường được áp dụng đối với những loại sản phẩm mà chi phí chế
biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí:
Giá trị sản
phẩm dở dang
Giá trị NVL chính nằm
trong SPDD (theo định
mức)
50% chi phí chế
biến so với thành
phẩm
Phương pháp tính theo chi phí vậ
t liệu chính tiêu hao nằm trong sản
phẩm dở dang. Theo phương pháp này, giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm
giá trị vật liệu chính tiêu hao nằm trong sản phẩm dở còn chi phí chế biến
nằm hết trong thành phẩm hoàn thành trong kỳ.
Phương pháp tính theo chi phí vật liệu trực tiếp hay chi phí trực tiếp.
Theo phương pháp này, giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp (nguyên vật liệu và nhân công trực tiếp) mà không tính đến
các chi phí khác.
5. Các hình thức sổ sách
Phần II: Thực trạng công tác tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm gạch ốp lát Grant tại Công ty Thạch Bàn
Đặc điểm hoạt động chung của Công ty
o hình thủ công, phơi cáng che phên nứa - nung đốt lò đứng 3-4 vạn
viên/mẻ và sản lượng toàn xí nghiệp chỉ đạt 3-4 sau tăng lên 8 -9 triệu
viên/năm.
2. Trưởng thành qua thời kỳ chống Mỹ: Từ tháng 8 năm 1968 đến cuối
năm 1985 trong nền kinh tế tập trung, với công nghệ sản xuất gạch ngói đất
sét nung là hệ máy gia công chế tạo hình FG5, hệ máy có hút chân không
Tiệp Khắc - sấy tunel kiểu cũ 10 hầm - nung đốt lò đứng cải ti
ến 8-10 vạn
viên/mẻ và sản lượng toàn xí nghiệp tăng từ 14 đến 23 triệu viên/năm.
Vững vàng trước thử thách của nền kinh tế thị trường: từ đầu năm 1985
đến tháng 3 năm 1991, trong nền kinh tế thị trường, với công nghệ sản xuất
gạch ngói đất sét nung là hệ máy gia công chế biến tạo hình FG5, hệ máy có
hút chân không Bungari - sấy tunel kiểu cũ 10 hầm - nung đốt lò đứng cải tiến
8-10 vạn viên/mẻ và sản lượng toàn xí nghiệp đạt 14-16 triệu viên/năm.
4. Đầu tư và phát triển (từ tháng 4 năm 1991 đến tháng 12 năm 1994):
Trong nền kinh tế thị trường, với công nghệ sản xuất gạch ngói đất sét nung là
bộ máy gia công chế biến tạo hình có hút chân không Bungari - sấy tunel kiểu
cũ - nung đốt lò tunel công suất 20-25 triệu viên/năm, xí nghiệp đã tăng sả
n
lượng từ 25 lên 30 triệu viên/năm. Tháng 4/1993, Bộ trưởng Bộ xây dựng
quyết định tách xí nghiệp gạch ngói Thạch Bàn ra khỏi liên hợp các xí nghiệp
gạch ngói sành sứ thành đơn vị trực thuộc Bộ. Ngày 20 tháng 7 năm 1994, để
phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Bộ
trưởng Bộ xây dựng ra quyết định số 480/BXD - TCLĐ đổi tên xí nghiệp
gạch ngói Thạch Bàn thành Công ty Th
ạch Bàn. Trong thời gian này, Công ty
đã bước đầu tham gia công tác xây lắp và chuyển giao công nghệ sản xuất
gạch ngói đất sét nung bằng lò tunel 5 vươn lên tầm cao mới (từ tháng 01 năm
1995 đến nay, tháng 9/1999):
- Công ty đã phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường.
Niên độ kế toán| từ 01/01/2000 - 31/12/2000
Đơn vị sử dụng tiền tệ trong ghi chép kế toán: Đồng Việt Nam
Hình thức sổ kế toán áp dụng: Nhật ký chung
I.
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY THẠCH BÀN CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM
.
1. Tìm hiểu sự ra đời và phát triển của Công ty Thạch Bàn
Công ty Thạch Bàn là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng Công ty
Thuỷ tinh và gốm xây dựng được thành lập theo quyết định số 100A/BXD-
TCLĐ ngày 24/3/1993 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Công ty có trụ sở đóng tại: Xã Thạch Bàn - Gia Lâm - Hà Nội
Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu: Sản xuất vật liệu xây dựng,
vật liệu trang trí nội thất, xây lắ
p và chuyển giao công nghệ các công trình vật
liệu xây dựng (gạch gốm sứ), xây dựng các công trình dân dụng, kinh doanh
vật tư thiết bị phục vụ ngành xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng.
Cũng như hầu hết các đơn vị kinh tế quốc doanh, Công ty đã có một quá
trình phát triển không ngừng để tồn tại và khẳng định vai trò của mình. Tiền
thân của Công ty là "Công trường gạch Thạch Bàn được thành lập từ
15/2/1959 thuộc Công ty Kiến trúc Hà Nội, sản xuất hoàn toàn thủ công, sản
lượng thấp từ 2-3 triệu viên sản phẩm /năm.
Sau hơn 40 năm hoạt động Công ty đã phát triển qua các giai đoạn:
1. Những ngày đầu thành lập: từ tháng 2/1959 đến đầu tháng 7/1964,
trong nền kinh tế tập trung, với công nghệ sản xuất gạch ngói đất sét nung là
tạo hình thủ công, phơi cáng che phên nứa, cung đốt lò đứng 3-4 vạn viên/mẻ
và sản lượng toàn xí nghiệp chỉ đạt 3-4 sau tăng lên 8-9 triệu viên/năm.
biến tạo hình có hút chân không Bungaria- sấy tunel kiểu mớ
i - nung đốt lò
tunel công suất 20-25 triệu viên/năm. Qua nhiều sáng kiến như lắp quạt đẩy lò
nung tunel, pha than vào gạch mộc, làm nguội nhanh, Công ty đã tăng sản
lượng từ 30 lên 38 triệu viên/năm.
- Từ năm 1993 đến năm 1999, Công ty đã tham gia công tác xây lắp và
chuyển giao công nghệ sản xuất gạch ngói đất sét nung bằng lò tunel được 33
nhà máy, góp phần thay đổi tận gốc nghề làm gạch ở Việt Nam.
- Tháng 8 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đ
ã ký quyết định số
4265/KTN phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Nhà máy gốm Granit nhân tạo
của Công ty Thạch Bàn, với tổng số vốn đầu tư hơn 100 tỷ đồng Việt Nam.
Ngày 21 tháng 11 năm 1996, mẻ sản phẩm Granit đầu tiên của Công ty ra lò.
Đến nay, sau khi tách dây chuyền sản xuất gạch ngói đất sét nung thành công
ty cổ phần, doanh thu của công ty đã đạt trên 100 tỷ VNĐ, sản lượng
1.000.000m2/năm. Công ty đang triển khai lắp đặt dây chuyền 2 nhà máy
Granit, đưa sản lượng toàn công ty lên 2.000.000m2/năm vào cuối năm 2000.
Hiện nay, sản phẩm granit của công ty đã được tiêu thụ trên toàn quốc, với 3
chi nhánh ở 3 miền, hơn 800 đại lý và bước đầ
u xuất khẩu sang Hàn Quốc,
Ucraina, Lào.
Để phù hợp với các chính sách kinh tế xã hội và đứng vững trong nền
kinh tế thị trường những năm gần đây Công ty đã đa dạng hoá ngành nghề
kinh doanh:
- Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí nội thất và vật
tư thiết bị phục vụ ngành xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng.
- Thi công xây lắp các công trình dân dụng và công nghiệp (gạch, ngói,
gốm, sứ)
- Tư vấn xây dựng các công trình vật liệu xây dựng (gạch, gốm, sứ); tư
vấn sử dụng máy móc thiết bị sản xuất gồm sứ và tổ chức chuyển giao công
i dây
chuyền vát cạnh, mài bóng để tiếp tục gia công thành sản phẩm vát cạnh, còn
sản phẩm mài bóng ngoài vát cạnh còn được mài bóng bề mặt nhờ đá mài,
quả lô kim cương. Sản phẩm vát cạnh, bài bóng sau khi gia công cũng được
đóng hộp. Sản phẩm đóng hộp sau khi được bộ phận KCS kiểm tra chất
lượng, đóng dấu mới được nhập kho thành phẩm.
Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất gạch ố
p lát granit nhân tạo
Sơ đồ 1
Nguyên vật liệu
Sàng rung Sấy phem Kết chứa
Sàng rung(qua
khử từ)
Nạp liệu Nghiền bi
Bể chứa có khuấy
chậm
Si lô đơn màu
Si lô đa màu Máy ép Sấy đứng
Tráng men,
engobe
Trộn hai trục
Máy lựa chọn Lò nung Sấy tunel
Xe goòng
Sản phẩm đạt
tiêu chuẩnđóng
Máy vát cạnh,
mài bóng
Nhập kho thành
phẩm
công nhân viên về mọi mặt trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Giúp việc cho
giám đốc là 1 phó giám đốc, 1 trợ lý giám đốc cùng hệ thống các phòng, ban
khác. Nhà máy là bộ phận trực tiếp tham gia chế tạo sản phẩm.
Hiện nay, công ty có 4 phòng chức năng giúp việc giám đốc, mỗi phòng,
ban chức năng có nhiệm vụ c
ụ thể sau:
* Văn phòng công ty:
Chịu trách nhiệm các công việc sau:
+ Công tác hành chính
+ Công tác tổ chức lao động: Tuyển chọn, theo dõi, quản lý nhân sự toàn
công ty đồng thời giúp Giám đốc xét duyệt lương khối gián tiếp.
+ Công tác thư ký giám đốc, y tế và kiểm tra vệ sinh công nghiệp, bảo vệ
tài sản và giữ gìn an ninh trật tự trong công ty.
Ngoài ra văn phòng công ty còn chịu trách nhiệm quản lý quỹ tiền mặt
* Phòng tài kính - kế toán.
Có nhiệm vụ thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình tài
chính và kết quả kinh doanh của từng xí nghiệp, nhà máy cũng như của toàn
công ty. Cụ thể:
- Lập kế hoạch tài chính đảm bảo cho mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh.
- Lập kế hoạch và biện pháp quản lý các nguồn vốn; kiểm tra, giám sát
việc sử dụng vốn
đạt hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức hạch toán kế toán và phân tích các hoạt động kinh tế của công
ty theo quy định hiện hành của nhà nước.
- Kiểm tra giám sát việc tiêu thụ sản phẩm và hoạt động kinh doanh
khác.
* Phòng kế hoạch - kỹ thuật - ban KCS
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng, quý, năm, kế hoạch phát triển
của công ty