Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại CTCPCKLM Sông Đà - Pdf 97

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
LỜI MỞ ĐẦU
Trong 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những bước phát triển vượt bậc,
xây dựng được một nền tảng cơ sở vật chất to lớn. Cùng với những bước phát triển
đó, các công ty kinh doanh, sản xuất trong lĩnh vực xây lắp luôn đóng góp một phần
quan trọng vào tiến trình này. Thời gian tới, Việt Nam hứa hẹn sẽ trở thành một quốc
gia có nền kinh tế năng động hàng đầu Châu Á nên quá trình xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật sẽ ngày càng lớn và diễn ra nhanh hơn nữa.Những công trình được xây
dựng có quy mô ngày càng lớn, độ phức tạp ngày càng cao hơn nhưng cũng sẽ có
hiệu quả sữ dụng tốt hơn nữa. Các công ty xây lắp vì thế cũng sẽ có cơ hội mới,
đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế quốc dân.
Nền kinh tế thị trường luôn cạnh tranh khốc liệt nhất là những quốc gia có nền
kinh tế năng động như Việt Nam nên công tác hạch toán kinh tế tại các doanh
nghiệp nói chung, các công ty xây lắp nói riêng là hết sức quan trọng. Đặc biệt,
công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành là một trong những nhiệm vụ
quan trọng nhất, quyết định tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sự phát
triển lâu dài, ứng dụng của các công ty.trong điều kiện Việt Nam đang phải đối mặt
với một số khó khăn về kinh tế khi lạm phát tăng nhanh kéo theo sự gia tăng chóng
mặt của mức giá.
Tại CTCPCKLM Sông Đà (someco), công tác kế toán tập hợp chi phí và tính
giá thành luôn được Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc Công ty quan tâm, vì đây là
nhiệm vụ hết sức quan trọng và rất khó khăn, ảnh hưởng nhiều tới hoạt động của
công ty . Quy mô công ty ngày càng lớn, số lượng công trình tăng nhanh (cả về quy
mô, thời gian thực hiện, độ phức tạp,…) là những vấn đề lớn đặt ra đối với nhiệm
vụ của những người làm công tác kế toán tại đây. Vì vậy, trong quá trình thực tập
tại CTCPCKLM Sông Đà, em quyết định chọn đề tài:”Hoàn thiện công tác hạch
toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại CTCPCKLM Sông Đà” để
hoàn thành luận văn, cũng như có một số đóng góp cho sự phát triển ngày càng lớn
mạnh của công ty.
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A

xây lắp không được thể hiện rõ, nghiệp vụ bàn giao công trình, hạng mục công trình
hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành, đạt điểm dừng kĩ thuật cho bên giao thầu chính
là qui trình để sản xuất ra sản phẩm xây lắp.
Sản phẩm xây lắp là những công trình, vật kiến trúc có qui mô lớn, kết cấu phức
tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian thi công để hoàn thành sản phẩm có giá trị sử
dụng thường dài. Không chỉ vậy, tiêu chuẩn chất lượng kĩ thuật của sản phẩm đã được
xác định cụ thể trong hồ sơ thiết kế kĩ thuật được duyệt. Vì vậy, doanh nghiệp xây lắp
phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về kĩ thuật, chất lượng công trình.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện cần thiết cho sản
xuất.Các loại máy, thiết bị, nhân côn phải di chuyển theo địa điểm công trình. Bên
cạnh đó, việc xây dựng còn chịu tác động của địa chất công trình. Mặt khác, việc xây
dựng còn chịu tác động của điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương. Vậy nên công
tác quản lí và sử dụng tài sản, vật tư cho công trình rất phức tạp, đòi hỏi phải có mức
giá cho từng loại công tác xây lắp, cho từng vùng lãnh thổ.
Mỗi công trình đều được tiến hành thi công theo đơn đặt hàng cụ thể, phụ thuộc
vào yêu cầu của các khách hàng và thiết kế kĩ thuật của công trình đó. Khi thực hiện
các đơn đặt hàng này của khách hàng, đơn vị xây lắp phải bàn giao đúng tiến độ, đúng
thiết kế kĩ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.
1.1.1.2 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp:
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
Chi phi sản xuất của doanh nghiệp là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao
động vất hóa và các chi phi cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình hoạt
động sản xuất, kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền tệ. Chi phi này được tính cho
một kì nhất định.
Khi nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh tế như nước ta đang
trên đà phát triển và hội nhập. Có rất nhiều các yếu tố tác động vào nền kinh tế nước
ta làm cho giá cả hàng hóa biến động. Việc đánh giá, tính toán chính xác chi phi sản
xuất là yếu tố khách quan và vô cùng cần thiết phục vụ cho nhu cầu quản lí và hoạch

xây dựng phải đầu tư vào quá trình sản xuất thi công một lượng hao phí nhất định.
Những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình thi công sẽ tham gia
cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp đó. Như vậy:
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất (bao gồm CPNVLTT,
CPNCTT, CPSXC, CP sử dụng máy thi công) tính cho từng công trình, hạng mục
công trình hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và được chấp
nhận thanh toán.
Từ những đặc điểm cơ bản của ngành xây lắp: Thời gian thi công dài, mang tính
đơn chiếc, kết cấu phức tạp, qui mô lớn… nên mỗi đơn thiết kế, mỗi công trình, hạng
mục công trình có một dự toán tương ứng với mức độ chính xác cụ thể khác nhau,
phù hợp với nội dung của mỗi giai đoạn thiết kế căn cứ vào giá trị dự toán của từng
công trình, hạng mục công trình.
Trên góc độ của các nhà quản trị doanh nghiệp, giá thành sản phẩm xây lắp
không chỉ phản ánh đơn thuần những thông tin đó mà nó còn cho ta thấy được nguyên
nhân của sự phát sinh chi phí. Xem xem sự phát sinh đó có hợp lí không, có vượt qua
những gì đã được dự tính từ trước hay không? Từ những phát sinh chi phí được tập
hợp lại trong giá thành sản xuất, nhà quản trị doanh nghiệp thấy được những chi phí
đó phát sinh vào những mục đích gì, trong kì doanh nghiệp có thực hiện tiết kiệm chi
phí hay không?
1.1.2 Yêu cầu quản lí chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp.
Các công trình thường có qui mô lớn, kết cấu vô cùng phức tạp, thời gian thi
công kéo dài… bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng không nhỏ của điều kiện khí hậu.
Với khối lượng khổng lồ công việc ấy yêu cầu phải có sự quản lí chặt chẽ. Hơn nữa,
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
không phải một doanh nghiệp trong một kì chỉ tiến hành xây lắp một công trình duy
nhất. Không có sự phân loại và theo dõi, ta không thể biết được chi phí đó là chi phí
phát sinh từ nơi nào, cho nó vào đâu để tính giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, chỉ

lũy, tạo điều kiện mở rộng không ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng khoa học kĩ thuật
tiên tiến thỏa mãn nhu cầu ngày càng lớn của xã hội. Môi trường kinh tế đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải nghiêm khắc chấp nhận các kế hoạch sản xuất, sản phẩm vì mặt
hiện vật cũng như mặt giá trị, chấp hành nghiêm chỉnh theo những qui định của nhà
nước đề ra.
Xuất phát từ những đặc điểm của ngành xây lắp, công tác hạch toán kế toán
trong doanh nghiệp xây lắp là phần tất yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Công
việc hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là vấn đề trung tâm của
công tác kế toán trong xây lắp. Kế toán chi phí sản xuất giúp cho đơn vị theo dõi được
tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật tư, nhân công, máy thi công… là bao
nhiêu so với dự toán trong xây dựng cơ bản. Dự toán được lập theo công trình, hạng
mục công trình…và lập theo từng khoản mục chi phí. Đây là căn cứ để so sánh, kiểm
tra, phân tích chi phí so với khối lượng thực tế phát sinh với dự toán. Từ đây xác định
được mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất để đưa ra biện pháp thích hợp. Công
tác tính giá thành sản phẩm xây lắp thể hiện được chất lượng hoạt động của sản xuất
kinh doanh và quản lí kế toán tài chính của đơn vị.
1.1.3.2 Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:
Đặc điểm của ngành xây lắp ảnh hưởng việc tổ chức công tác kế toán chi phí,
xác định kết quả trong các doanh nghiệp xây lắp. Vì thế, đòi hỏi công tác kế toán tài
chính cấn chú ý lưu tâm tới các đặc điểm này để hiểu rõ yêu cầu và nhiệm vụ của
công tác tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là các công trình, hạng mục công
trình xây lắp, các qui ước của hạng mục công trình có giá trị dự toán riêng
hay nhóm công trình, các đơn vị thi công.
- Đối tượng tính giá thành sản phẩm có thể là công trình, hạng mục công trình
xây lắp, các giai đoạn qui ước của hạng mục công trình có giá trị dự toán
riêng hoàn thành.
Do đặc điểm của ngành xây dựng là thời gian thi công dài, qui mô lớn nên
thường hay sảy ra hiện tượng thất thoát, lãng phí. Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A

trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, đội, tổ… trong kì nhất
định, kịp thời báo cáo kế toán về chi phí sản xuất giá thành sản phẩm phục
vụ cho công tác quản lí của lãnh đạo doanh nghiệp. Từ đây kiểm tra việc
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
thực hiện kế hoạch giá thành hoặc chưa hoàn thành những khả năng hạ giá
thành sản phẩm thực tế.
1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp.
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của công ty là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động
sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá
trình hoạt động sản xuất, kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền tệ. Được tính cho
một kì nhất định.
Khi nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh tế như nước ta đang
trên đà phát triển nên yêu cầu phân loại chi phí để theo dõi, hạch toán và quản lí nó dễ
dàng hõn là vô cùng cần thiết. Có rất nhiều cách phân loại chi phí sản xuất, sau ðây là
một vài cách phân loại chi phí sản xuất ðiển hình:
-Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục giá thành công tác xây
dựng:Giúp doanh nghiệp theo dõi từng khoản mục chi phí phát sinh. Từ đây đối chiếu
với giá trị dự toán của công trình để có thể nhận biết được từng khoản mục chi phí ở
đâu, tăng hay giảm so với dự toán để doanh nghiệp tìm ra biện pháp để tiết kiệm chi
phí.
- Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí: Phục vụ cho yêu cầu
thông tin và quản trị doanh nghiệp để phân tích tình hình thực hiện dư toán chi phí sản
xuất cho kì sau.
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Chi phí
sản xuất

bất biến
Chi phí
khả biến
Chi phí
hỗn hợp
Chi phí sản
xuất
Chi phí trực tiếp Chi phí gián tiếp
Giá thành
dự toán công
trình.
=
-
-
Thuế GTGT
đầu ra
Giá trị dự
toán công
trình
Thu nhập
chịu thuế
tính trước
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh
nghiệp.Giá thành kế hoạch được xây dựng theo công thức
(Tính cho từng công trình, hạng mục công trình)
- Giá thành thực tế sản phẩm xây lắp:
Giá thành thực tế là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi
phí thực tế đã phát sinh do kế toán tập hợp và sản lượng sản phẩm được sản xuất thực

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
Thông tin về giá thành khối lượng hoàn thành đóng vai trò chủ yếu trong các
quyết định mang tính chiến lược dài hạn của doanh nghiệp. Do đó, đây là chỉ tiêu giá
thành có ý nghĩa quan trọng trong kế toán quản trị.
- Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành qui ước: Là khối lượng xây lắp hoàn
thành đến một giai đoạn nhất định và thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kĩ thuật.
+ Khối lượng này phải được xác định một cách cụ thể và được bên chủ đầu tư
nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.
+ Phải đạt đến điểm dừng kĩ thuật hợp lí.
Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành qui ước phản ánh chi phí sản xuất cho
đối tượng xây lắp, thi công xây lắp giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời các chi
phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lí thích hợp.
1.3 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để chi phí sản xuất được
tập hợp theo đó. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi phát
sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ…) hoặc đối tượng
chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng…)
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, trước hết các nhà quản trị cần
căn cứ vào các yếu tố:
- Tính chất sản xuất, loại hình sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ, sản
xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất.
- Nếu là loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có
thể là từng công trình, từng hạng mục công trình.
- Nếu là loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có
thể là từng loại, hạng, hoặc từng đơn đặt hàng.
- Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lí, khả năng trình độ quản lí
của doanh nghiệp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất càng được xác định cụ thể và

Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
Chứng từ gốc liên quan đến các chi phí phát sinh là những chứng từ thuộc các yếu
tố như: vật tư (phiếu xuất kho, phiếu nhập kho..), tiền lương (bảng tính lương phải trả),
khấu hao tài sản cố định (bảng tính hao mòn tài sản cố định), tiền mặt (phiếu thu, phiếu
chi) tiền gửi ngân hàng (giấy báo nợ, giấy báo có)…
Loại chứng từ Chứng từ bắt buộc Chứng từ hướng dẫn
Liên quan đến tiền mặt Phiếu thu, phiếu chi
Liên quan đến TGNH Giấy báo có, giấy báo nợ,
bảng sao kê
Liên quan đến hàng tồn
kho
Phiếu xuất kho, phiếu nhập
kho
Liên quan đến TSCĐ Phân bổ khấu hao
Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí là từng công trình, hạng
mục công trình hoặc theo từng đơn đặt hàng. Kế toán trưởng tổ chức việc lập chứng từ kế
toán cho từng đối tượng tập hợp chi phí (những chi phí trực tiếp) và những chi phí chung
thì lập chứng từ kế toán theo khoản mục chi phí chung. Kế toán viên khi nhận được các
chứng từ có liên quan đến các nghiệp vụ phát sinh, tiến hành định khoản và tiến hành
phản ánh nghiệp vụ phát sinh đó theo đúng đối tượng và đúng các khoản mục chi phí đó.
1.3.3 Tổ chức tài khoản kế toán:
- Chi phí NVLTT:
Để hạch toán khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
TK621-chi phí nguyên vật liệu tực tiếp.
TK 621 được sử dụng để tập hợp toàn bộ chi phí NVLTT dùng cho sản xuất,
chế tạo sản phẩm phát sinh trong kì. Cuối kì kết chuyển sang tài khoản tập hợp chi phí
và tính giá thành.
TK 621 có thể mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình hay từng

Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627- chi phí
sản xuất chung.
TK 627 không có số dư cuối kì và được mở chi tiết cho từng đối tượng (công
trình, hạng mục công trình hoặc đơn đặt hàng)
TK627 có sáu tài khoản cấp hai để theo dõi, phản ánh riêng từng nội dung chi
phí:
+ TK 6271- chi phí nhân viên quản lí đội.
+ TK 6272- chi phí vật liệu.
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
+ Tk 6273- chi phí công cụ dụng cụ sản xuất.
+ TK 6274- chi phí khấu hao tài sản cố định.
+ TK 6277- chi phí dịch vụ mua ngoài.
+ TK 6278- chi phí bằng tiền khác.
1.3.4 Trình tự kế toán:
• Trình tự kế toán chi phí NVLTT
• Trình tự kế toán chi phí NCTT
• Trình tự kế toán chi phí sử dụng máy thi công
• Trình tự kế toán chi phí sản xuất chung:
• Trình tự kế toán tổng hợp chi phí sản xuất:
1.3.5 Tổ chức sổ, báo cáo kế toán:
Tùy vào hình thức doanh nghiệp áp dụng mà kế toán mở các loại sổ kế toán
thích hợp.
- Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức “Nhật kí chung” thì các nghiệp vụ kế
toán phát sinh liên quan đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được phản ánh ở
các chứng từ gốc ghi lại các nghiệp vụ phát sinh. Căn cứ vào các chứng từ gốc, kế
toán định khoản và ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết, sổ nhật kí chung và các sổ nhật kí
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
TK 621

tượng tập hợp chi phí sản xuất, kế toán sử dụng các sổ chi tiết chi phí sản xuất: SCT
TK 621, TK 622, TK 623, TK 627, TK 154…(cuối kì tổng hợp đối chiếu với sổ
cái…)
Quy trình ghi sổ kế toán và báo cáo CP sản xuất, GT sản phẩm:
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Sổ kế toán vật tư,
tiền lương, TSCĐ,
vốn bằng tiền...
Sổ kế toán tổng
hợp TK 621, 622,
623, 627
Sổ kế toán
tổng hơp TK
154
- Báo cáo
sản xuất.
- Báo cáo
chi phí sản
xuất, giá
thành.
Chứng từ, tài
liệu phản ảnh
chi phí sản xuất
phát sinh
Sổ chi tiết
CPSX theo đối
tượng kế toán
tập hợp CPSX
- Bảng tổng hợp
chi phí sản xuất

phẩm hoàn thành cuối cùng của qui trình công nghệ. Còn các doanh nghiệp
có qui trình công nghệ sản xuất và chế biến phức tạp thì đối tượng tính giá
thành có thể là một nửa thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ cuối cùng và
cũng có thể là từng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp
hoàn thành. Trong các doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tính giá thành
thường trùng với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đó có thể là công trình,
hạng mục công trình hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao.
- Viêc xác định đối tượng tính giá thành đúng và phù hợp với điều kiện, đặc
điểm của doanh nghiệp giúp cho kế toán mở sổ kế toán, các bảng tính giá
thành và tính sản phẩm, giá thành sản phẩm có hiệu quả đáp ứng yêu cầu
quản lí nội bộ của doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tính giá thành là từng công trình, hạng
mục công trình mà doanh nghiệp tiến hành thi công.
1.4.2 Công tác kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây
lắp
Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình, hạng mục
công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp dở dang trong kì,
chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
• Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất
trong kì cho khối lượng sản phẩm dở dang cuối kì phải chịu. Tuy nhiên trong
xây lắp việc tính toán đánh giá thành sản phẩm dở dang cuối kì rất phức tạp,
khó có thể thực hiện được một cách chính xác tuyệt đối. Vì vậy khi đánh giá
sản phẩm làm dở dang kế toán cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật, bộ
phận tổ chức lao động để xác định mức độ hoàn thành của khối lượng xây
lắp dở dang một cách chính xác. Doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng một
trong những phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau:
• Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí dự toán:

x
+
Chi phí thực
tế khối
lượng xây
lắp dở dang
cuối kì
Chi phí thực tế của
khối lượng xây lắp
dở dang đầu kì
Chi phí thực tế của
khối lượng xây lắp
thực hiện trong kì
Giá trị dự toán khối
lượng xây lắp hoàn
thành bàn giao trong

Giá trị dự toán
khối lượng xây
lắp dở dang cuối

Giá trị
theo dự toán
của khối
lượng xây
lắp dở dang
cuối kì
=
+
x

Chi phí thực tế của khối
lượng xây lắp thực hiện
trong kì
Chi phí theo dự toán khối
lượng xây lắp dở dang
cuối kì đã tính đổi theo
sản phẩm hoàn thành
tương đương
Chi phí
thực tế
của khối
lượng
xây lắp
dở dang
cuối kì
Chi phí của khối
lượng xây lắp hoàn
thành bàn giao trong
kì theo dự toán
Chi phí dự toán
khối lượng xây
lắp dở dang cuối
kì tính đã theo
sản lượng hoàn
thành tương
đương
=
+
+
X

Chi phí thực
tế dở dang
đầu kì
Chi phí thực
tế phát sinh
trong kì
Chi phí
thực tế
dở dang
cuối kì
=
+
-
H =
Σ
ΣGdt
x 100%
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
Phương pháp này áp dụng đối với các doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện phải
tính được giá thành định mức trên cơ sở các định mức và đơn giá tại thời điểm tính
giá thành. Tùy từng trường hợp cụ thể mà giá thành định mức bao gồm cả giá thành
định mức của từng hạng mục công trình cấu thành nên công trình.
Vạch ra được một cách chính xác các thay đổi về định mức trong quá trình thực
hiện thi công công trình. Việc thay đổi định mức thường được tiến hành vào đầu
tháng nên việc tính toán số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần thực hiện đối với
số sản phẩm làm dở đầu kì về chi phí tính cho sản phẩm làm dở đầu kì (cuối kì trước)
là theo định mức. Số chênh lệch do thay đổi định mức cũ trừ đi định mức mới.
+ Xác định số chênh lệch do thoát ly định mức.
Chênh lệch do thoát ly đinh mức là số chênh lệch do tiết kiệm hay vượt chi.

®Þnh møc
Chênh lệch
do thoát li
định mức
=

Chênh
lệch do
thay đổi
định mức

±
±
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
Tùy thuộc vào phương pháp tính giá thành sản phẩm mà ta căn cứ vào những tài
liệu cụ thể. Những tài liệu cần thiết cho mỗi phương pháp tính giá thành:
- Chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kì (dựa trên sổ chi tiết của từng công
trình, hạng mục công trình, từng đơn đặt hàng)
- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kì (nếu có) căn cứ vào bảng kiểm kê,
đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì.
- Khối lượng sản phẩm công tác xây lắp hoàn thành.
Ngoài ra tùy thuộc vào phương pháp tính giá thành mà bổ sung thêm như sau:
Sản lượng của từng loại sản phẩm, giá thành, định mức…
1.5 Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành trong điều kiện áp dụng vi
tính
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán
được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm
kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán: Nhật kí
chung; Nhật kí-sổ cái; Nhật kí-chứng từ; Chứng từ ghi sổ. Phần mềm kế toán không

Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Chứng từ kế toán
SỔ KẾ TOÁN
Sổ tổng hợp
Sổ chi tiết
Bảng tổng hợp chứng
từ kế toán cùng loại
Báo cáo tài chính
Báo cáo quản trị
MÁY VI TÍNH
PHẦN MỀM
KẾ TOÁN
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu
Ánh
PHẦN 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ KHÍ LẮP MÁY SÔNG ĐÀ
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần cơ khí lắp máy Sông Đà
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của CTCPCKLM Sông Đà
Đất nước ta sau 20 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các
mặt, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…Bộ mặt đất nước thay đổi từng ngày. Cơ sở hạ
tầng, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện mọc lên khắp mọi miền của Tổ quốc.
Vì vậy, nhu cầu điện năng phục vụ cho các nhu cầu xã hội, đời sống, kinh tế là đòi hỏi
vô cùng cấp thiết.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng trung bình mỗi
năm từ 7,5 – 8%. Theo tính toán của các nhà kinh tế, nhu cầu điện năng phải tăng trung
bình 15 – 16%, tức là phải tăng nhanh gấp đôi tốc độ GDP. Đó chính là một thách thức
lớn đối với ngành xây lắp các nhà máy điện của Việt Nam hiện nay.
Trong chiến lược ngành điện Việt Nam, cùng với nhiệt điện, điện hạt nhân (trong
thời gian tới đây), thủy điện là nguồn điện sạch, hiệu quả nhất đối với chúng ta. Thủy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status