Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân các xã ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (1986 2015) (LV thạc sĩ) - Pdf 44

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa một công trình nào
công bố.
Thái Nguyên, tháng năm 2017
Tác giả luận văn

Đỗ Thị Xuân

ii


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ....................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ..........................................................................................................iii
Mục lục ............................................................................................................... iv
Danh mục các chữ viết tắt .................................................................................. vi
Danh mục các bảng, biểu ................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC XÃ VEN BIỂN HUYỆN KIM SƠN,
TỈNH NINH BÌNH .......................................................................................... 10
1.1.Vị trí địa lí và lịch sử hình thành ................................................................. 10
1.1.1.Vị trí địa lí................................................................................................. 10
1.1.2. Lịch sử hình thành ................................................................................... 11
1.2. Đặc điểm tự nhiên ....................................................................................... 17
1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội............................................................................ 22
1.3.1. Đặc điểm kinh tế ...................................................................................... 22
1.3.2. Đặc điểm xã hội ....................................................................................... 25
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 28
Chương 2. ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN CÁC XÃ VEN


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Kinh tế là hoạt động đầu tiên đảm bảo và duy trì cuộc sống của con người.
Văn hóa lại là yếu tố đóng vai trò quan trọng cho việc định hướng và phát triển
nền kinh tế bền vững. Do đó, có thể nói, kinh tế và văn hóa là những yếu tố thiết
yếu tạo nên sợi dây liên kết mật thiết giữa con người với con người trên một vùng
đất, tạo thành một cộng đồng xã hội. Nói cách khác, kinh tế và văn hóa là hai yếu
tố cốt lõi tạo nền tảng vững chắc của mỗi quốc gia dân tộc. Bởi những lý do đó,
con người dù sinh sống và lập nghiệp ở bất cứ vùng đất nào thì những người dân
ở nơi đó sẽ lựa chọn và thích nghi để tìm ra những hướng đi mới, tạo ra những nét
đặc trưng trong đời sống kinh tế, văn hóa của mình.
Kim Sơn là huyện ven biển nằm ở phía nam của tỉnh Ninh Bình, là huyện
đồng bằng được thành lập năm 1829 bởi doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Kim
Sơn có diện tích tự nhiên là 215,75km2, bao gồm 25 xã và 2 thị trấn. Đặc biệt,
Kim Sơn có chiều dài bờ biển khoảng 18km, trải dài qua các xã Kim Hải, Kim
Trung và Kim Đông, nằm giữa đê Bình Minh I và II.
Trong nhiều thập kỷ qua, do luôn nắm bắt kịp thời và thực hiện đúng các
chủ trương của Đảng trong từng giai đoạn khác nhau nên huyện Kim Sơn đã từng
bước phát triển theo hướng tiến dần ra biển. Đặc biệt, tháng 12 - 1986, Đại hội
VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình nói chung và
huyện Kim Sơn nói riêng đã cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng vào địa
phương, đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Cũng do đó, tình hình kinh tế
và đời sống văn hóa của cư dân ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đã có
sự “thay da đổi thịt”, cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng
được cải thiện và nâng cao.
1


2


con người với thiên nhiên và giữa con người với con người trong việc khai hoang,
hình thành những vùng kinh tế mới trong điều kiện hiện đại.
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn” tập 3 giai đoạn 1975 - 2005, xuất
bản năm 2006. Cuốn sách đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Kim Sơn trong 10 năm đầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, cuốn sách
cũng đã khái quát được những thành tựu và chỉ ra được những hạn chế mà Đảng
bộ, chính quyền và nhân dân đã làm được sau khi tiến hành đường lối đổi mới.
Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Kim Sơn” giai đoạn 1947 - 2007, xuất bản
năm 2008 đã khẳng định một cách hệ thống quá trình hình thành, xây dựng và phát
triển của Đảng bộ, nhân dân huyện Kim Sơn trong suốt 60 năm qua.
Cuốn sách Kim Sơn vùng đất mở của tác giả Lã Đăng Bật, được Nxb Văn
hóa - Thông tin xuất bản năm 2010. Cuốn sách đã chỉ ra những đặc điểm về điều
kiện tự nhiên, khí hậu, dân cư và cụ thể hóa quá trình mở rộng khai hoang của
vùng đất Kim Sơn từ khi thành lập cho đến nay. Đồng thời, tác giả cũng trình
bày một cách chung nhất về đời sống kinh tế và văn hóa của con người huyện
Kim Sơn.
Cuốn Một số lễ hội điển hình ở Ninh Bình của tác giả Đỗ Thanh Gia, được
xuất bản năm 2011 là một tài liệu viết về những phong tục tập quán, lễ hội... của
người dân Ninh Bình. Cuốn sách này giúp cho tác giả có cái nhìn phong phú hơn
về đời sống văn hóa của con người Ninh Bình nói chung.
Cuốn Địa chí văn hóa dân gian Ninh Bình của tác giả Trương Đình Tưởng,
được Nxb Thời đại xuất bản năm 2012 đã nêu lên một cách chung nhất về đặc
điểm tự nhiên như đặc điểm địa hình, khí hậu, đường sá, sông ngòi,… Đồng thời,
cuốn sách này cũng đã khái quát được những đặc điểm về văn hóa - xã hội của
người dân Ninh Bình. Đây được xem là một nguồn tài liệu tổng hợp nhất, giúp
tác giả có một cái nhìn toàn diện về đặc điểm tự nhiên và xã hội của tỉnh Ninh
Bình nói chung.

Tác giả Trần Hồng Quảng trên Tạp chí Kinh tế và phát triển, xuất bản năm
2013 cũng có bài về Phát triển kinh tế nông nghiệp trong xây dựng nông thôn
4


nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình hiện nay. Tác
giả đã nhấn mạnh đến tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn huyện
Kim Sơn và khẳng định những điều kiện cần thiết cho công cuộc xây dựng nông
thôn mới của huyện trong thời gian tới.
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết đăng trên các báo cũng viết về vùng đất
Kim Sơn như: Bước tăng trưởng của kinh tế Kim Sơn đăng trên báo điện tử Đảng
cộng sản Việt Nam. Bài viết này cho thấy sự phát triển của kinh tế huyện Kim
Sơn trong những giai đoạn gần đây; khẳng định được con đường phát triển kinh
tế đúng đắn của huyện Kim Sơn.
Trên báo Tạp chí Cộng sản, tác giả Hồng Giang có bài viết Kim Sơn phát huy
thế mạnh xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Bài báo nhấn mạnh đến việc
huyện Kim Sơn đã thực hiện và vận dụng có hiệu quả những chủ trương, đường lối
của Đảng, góp phần phát huy những thế mạnh sẵn có của vùng.
Bên cạnh đó, còn nhiều các bài báo khác cũng nhấn mạnh đến sự chuyển
biến kinh tế của huyện Kim Sơn và nhấn mạnh đến vai trò của ngành kinh tế nuôi
trồng thủy sản của vùng ven biển huyện Kim Sơn, như: Kim Sơn đưa nuôi trồng
thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của Mai Lan, đăng trên báo Ninh Bình
online; Kim Sơn trên đường đổi mới của Phương Thảo, đăng trên báo điện tử
Kinh tế nông thôn...
Thêm vào đó, trên phạm vi địa phương còn có rất nhiều các Báo cáo tổng
kết kinh tế hằng năm của huyện Kim Sơn và các xã trực thuộc; các Văn kiện Đại
hội Đảng bộ của Huyện; các số liệu thống kê của Phòng Thống kê huyện Kim
Sơn, Cục Thống kê Ninh Bình... Đây là nguồn số liệu chính xác và đầy đủ mà
tác giả có thể khai thác và sử dụng trong luận văn của mình.
Ngoài ra, một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về vấn

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân các
xã ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn từ 1986 - 2015. Trong đó,
nghiên cứu về đời sống kinh tế bao gồm sự thay đổi cơ bản trong các hoạt động
kinh tế, từ kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp đến tiểu thủ - công nghiệp…; nghiên
6


cứu về văn hóa bao gồm cả trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nơi
đây.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân các xã ven biển
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình (1986 - 2015)”, tác giả góp phần phản ánh một
cách khách quan, khoa học về thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân
các xã ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn từ năm 1986 đến năm
2015. Trên cơ sở phân tích và đánh giá những thành tựu đã đạt được và chỉ ra
những hạn chế tồn tại, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển
trong tương lai của huyện Kim Sơn.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tác giả tập trung làm rõ những đặc điểm về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên
và đặc điểm kinh tế - xã hội của các xã ven biển huyện Kim Sơn. Trên cơ sở đó,
tác giả đi sâu phân tích những đặc điểm và sự biến đổi trong đời sống kinh tế,
văn hóa của cư dân các xã ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn
1986 - 2015.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân
các xã ven biển huyện Kim Sơn trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm
2015. Đây là khoảng thời gian từ sau Đại hội “Đổi mới” (tháng 12 - 1986), tình
hình đời sống kinh tế, văn hóa ở tỉnh Ninh Bình nói chung và ở huyện Kim Sơn
nói riêng có nhiều biến chuyển mạnh mẽ nhất.

sự kiện, hiện tượng lịch sử, tác giả đã rút ra những nhận xét, đánh giá về những
thành tựu đạt được và những hạn chế tồn tại cần phải khắc phục. Đồng thời, tác
giả mạnh dạn đưa ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế và khó khăn
đó.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một phương pháp quan trọng nữa là
phương pháp điền dã dân tộc học. Tác giả đã vận dụng phương pháp này qua
việc phỏng vấn nhân chứng cụ thể và phát phiếu điều tra để thu được những
nguồn tư liệu phong phú, khách quan hơn cho nội dung nghiên cứu.
8


Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu,
kết hợp với phân tích, đánh giá và xử lý tài liệu… để hoàn thiện đề tài nghiên
cứu của mình.
5. Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu đề tài Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân các xã ven biển
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trong một thời gian dài gần 30 năm (1986 - 2015),
tác giả sẽ khái quát được sự chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế, văn
hóa của vùng đất ven biển duy nhất của tỉnh Ninh Bình. Từ việc chỉ ra được
những thành tựu và hạn chế trong đời sống kinh tế, văn hóa của địa phương, tác
giả cũng mạnh dạn đề xuất các giải pháp phát triển cho địa phương trong tương
lai.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ trở thành một nguồn tư liệu trong
việc giảng dạy lịch sử địa phương; giáo dục truyền thống lịch sử, bồi đắp niềm
tự hào, niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng ta lựa chọn.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội
chính gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về các xã ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Chương 2: Đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân các xã ven biển huyện

Hệ thống giao thông đường thủy với 2 tuyến đường chính qua sông Đáy
và sông Vạc. Các tuyến đường còn lại qua sông Càn, sông Ân, sông Vực, sông
Cà Mau… rất thuận lợi cho việc kết nối giao thông trong vùng.
Vùng ven biển huyện Kim Sơn nằm ở phía nam của huyện, từ đê Bình
Minh I đến Cồn Nổi, giới hạn bởi 2 bên sông Đáy và sông Càn, bao gồm 3 đơn
vị hành chính là Xã Kim Hải, Kim Trung và Kim Đông. Với diện tích là 1649,48
ha, các xã ven biển này nằm trọn vẹn phía trong vùng đất từ Đê Bình Minh I đến

10


Đê Bình Minh II. Đây là vùng nước chạy cặp bờ biển và chịu ảnh hưởng rõ rệt
nhất của biển.
Vị trí của vùng ven biển huyện Kim Sơn được xác định là phía Nam và
Đông Nam giáp biển, phía Bắc giáp Thị trấn Bình Minh, phía Tây giáp huyện
Nga Sơn - Thanh Hóa và phía Đông giáp huyện Nghĩa Hưng - Nam Định. Có thể
nói, các xã vùng ven biển của Kim Sơn nằm ở “chót cạnh đáy của tam giác châu
Bắc Bộ” [52, tr.7]. Nếu so sánh vùng ven biển này với vùng nông nghiệp nội địa
thì vị trí này không mấy thuận lợi cho sự phát triển kinh tế trong điều kiện kinh
tế thị trường. Bởi nó nằm xa những trung tâm công nghiệp - thương mại lớn, phía
ngoài là biển và phía trong là nội đồng với nền nông nghiệp độc canh lúa. Nhưng
ngược lại, trong điều kiện kinh tế thị trường mở cửa, vùng ven biển lại có nhiều
lợi thế hơn trong việc thông thương, giao lưu kinh tế đường biển với bên ngoài.
Với vị trí đặc biệt của các xã vùng ven biển huyện Kim Sơn, nó vừa tạo ra
những khó khăn, bên cạnh đó cũng mang lại nhiều lợi thế cho sự phát triển kinh
tế của vùng.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Địa hình
Các xã vùng ven biển huyện Kim Sơn tuy là một vùng bãi bồi ven biển
nhưng địa hình khá bằng phẳng, được chia cắt bởi hệ thống các tuyến đê là

8.5000C. Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1.860 - 1.900mm. Hằng năm mưa
thường tập trung chủ yếu vào “tháng 9 đôi mươi, tháng 10 mồng 5” (Âm lịch),
tức là vào khoảng tháng 10 và tháng 11 Dương lịch, với lượng mưa trung bình
trên 100mm/tháng.
Là vùng đất ở nơi “đầu sóng ngọn gió”, lại nằm trong vùng nhiệt đới gió
mùa nên vùng ven biển huyện Kim Sơn là một trong những nơi chịu ảnh hưởng
mạnh của bão và áp thấp nhiệt đới. Mùa bão bắt đầu từ cuối tháng 6 đến tháng 9.
Điều đáng lưu ý là khi có bão làm cho gió mạnh kết hợp với triều cường tạo nên
sóng biển lớn và nước dâng cao tác động vào đê biển gây ra sự tàn phá nặng nề
vùng đê biển. Đặc biệt, ở vào vùng có cốt đất thấp, bão và sóng to là mối hiểm
12


họa lớn đối với sản xuất. Đây là những nhân tố góp phần quy định phương thức
khai thác vùng đất ven biển của huyện Kim Sơn này.
Chế độ thủy văn
Nằm giữa hạ lưu sông Càn và sông Đáy, vùng ven biển Kim Sơn được
hình thành nhờ hai yếu tố sông và biển, mang phù sa từ nơi khác bồi đắp nên.
Tuy nhiên, 2 yếu tố sông và biển hoạt động mạnh yếu, đem lại hiệu quả bồi đắp
phù sa không giống nhau. Yếu tố sông hoạt động mạnh vào mùa mưa (từ cuối
tháng 6 - 10). Bởi thời gian này, lượng nước trên các thượng nguồn sông Càn và
sông Đáy rất lớn, do đó, hàm lượng muối chỉ còn khoảng 3 - 5o/oo. Yếu tố biển
lại hoạt động mạnh vào mùa khô, bởi khi đó nước biển lấn sâu vào nội địa tới 10
- 15km, hàm lượng muối lên đến khoảng 10 - 25o/oo. Như vậy, sông và biển đã
tạo nên các dòng nước ngọt, lợ ít, lợ trung bình vào mùa mưa và dòng nước mặn
cao, mặn trung bình đến mặn ít vào mùa khô, tùy theo vị trí của bãi so với vị trí
sông Đáy, sông Càn và mép nước biển.
Là vùng hội tụ của các con sông lớn (sông Đáy và sông Càn), vùng ven
biển Kim Sơn chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi thủy văn của 2 hệ thống sông này.
Mực nước của các sông chịu ảnh hưởng lớn theo dòng chảy. Mùa cạn kéo dài

ven biển huyện Kim Sơn có đất mặn trung bình hoặc ít do nằm bên trong vùng
cửa sông và ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, chủ yếu được trồng
lúa, trồng cói cải tạo mặn. Độ mặn của đất bị chi phối bởi mùa nước và ở vị trí
gần hay xa bờ.
Nhóm đất thứ hai là đất phù sa. Loại đất này được hình thành chủ yếu do
quá trình lắng đọng phù sa của các hệ thống sông nhỏ. Đây là loại đất tốt thích
hợp cho việc trồng cây hoa màu và lương thực.
Nguồn nước vùng ven biển Kim Sơn được cung cấp bởi sông Đáy, sông
Càn và sông Cà Mau. Trong đó, sông Đáy là một nhánh của sông Hồng, bắt đầu
từ Thượng Cốc Hà Nội, với khoảng 76km chảy qua địa phận tỉnh Ninh Bình.
Sông Càn bắt nguồn từ vùng núi Thanh Hóa, có lưu lượng nhỏ nên khi triều
14


cường mặn đi sâu vào nội địa. Còn sông Cà Mau có nguồn tiếp nước chính là
sông Vạc và sông Ghềnh. Hiện nay, sông Cà Mau đã có hệ thống cấp nước đồng
bộ cho vùng Bình Minh và vùng 3 xã Kim Trung, Kim Hải và Kim Đông. Tuy
nhiên, vào mùa kiệt, mức nước cuối cống Cà Mau thấp nên gây khó khăn cho
cấp tự chảy.
Lưu lượng sông Đáy được xem là vùng có nước ngầm khá phong phú và
mức độ khai thác cũng khá cao; chủ yếu cấp cho đô thị, thị xã, dân cư thành thị
và nông thôn, một số cho công nghiệp, dịch vụ. Đây được xem là điều kiện thuận
lợi cho đời sống và sản xuất của cư dân các xã vùng ven biển huyện Kim Sơn
khi được bao bọc và nằm kề cận khu vực cửa sông này.
Như vậy, có thể nói, tài nguyên nước nói chung rất phong phú. Tuy nhiên,
dòng chảy mặt và động thái nước ngầm cũng phân bố rất chênh lệch giữa các
mùa trong năm. Vì vậy, yêu cầu về nguồn nước ở vùng này cũng còn gặp một số
khó khăn.
Vùng ven biển Kim Sơn được biết đến là hệ sinh thái hở, với nhiều các hệ
sinh thái khác nhau. Trong đó, hệ sinh thái rừng ngập mặn và cỏ biển là một

Với chiều dài bờ biển khoảng 18km, trải dài qua các xã Kim Hải, Kim
Trung và Kim Đông, tạo cho các xã vùng ven biển này nhiều lợi thế trong nuôi
trồng và đánh bắt thủy hải sản. Ðây là vùng biển có trữ lượng thủy hải sản lớn,
phong phú về chủng loại, có thể phát triển về nuôi trồng thủy sản nước ngọt, thủy
sản nước lợ, thủy sản nước mặn và khai thác hải sản.
Bờ biển Kim Sơn có đặc tính bồi lắng cao, hằng năm lấn ra biển từ 80 100m. Cách bờ biển khoảng 6km có vùng đất bồi nổi cao trên mặt nước là Cồn
Nổi, với diện tích khoảng 700ha. Ðây được xem là một trong những tiềm năng,
thế mạnh về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản của huyện nói chung, đặc biệt
là của cư dân các xã vùng ven biển nơi đây nói riêng.
Như vậy, với điều kiện địa lý tự nhiên của vùng ven biển thực sự chứa
đựng nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế toàn diện và bền vững.

16


Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, điều kiện tự nhiên đó cũng đặt ra
cho con người vùng biển nơi đây nhiều thách thức lớn như: việc khai thác thủy
sản không đúng cách sẽ làm tài nguyên bị cạn kiệt hoặc bị hủy diệt, ô nhiễm môi
trường gây mất cân bằng sinh thái, gió bão sóng biển hằng năm gây thiệt hại lớn
cho đời sống sinh hoạt và sản xuất... Thực trạng này đòi hỏi các cấp chính quyền
và người dân cần có biện pháp cụ thể để khắc phục và giải quyết những khó khăn
này, từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.
1.2. Lịch sử hình thành huyện
Huyện Kim Sơn là vùng đất được ra đời gắn với công cuộc khẩn hoang
của nhà Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Vào đầu thế kỉ XIX, trước khi Nguyễn
Công Trứ tiến hành khai khẩn, vùng đất ven biển này thuộc phủ Trường Yên, là
một vùng bãi biển mênh mông, đầy lau sậy và sú vẹt. Sau khi đã xem xét kĩ địa
thế, Nguyễn Công Trứ đã nhận thấy ở nơi đây có những vùng đất hoang rộng lớn
có thể khai phá để biến thành những vùng màu mỡ. Do đó, ông đã dâng lên vua
Minh Mệnh bản điều trần “Khẩn hoang ruộng để yên nghiệp dân nghèo”, với

Nhưng không, làng ở Kim Sơn mang đặc trưng riêng biệt. Bao quanh mỗi làng
thay vì những lũy tre xanh lại là hệ thống kênh mương chằng chịt. Hệ thống giao
thông và thủy nông này đã được ông Lê Thước viết như sau: “Cứ cách một quãng
thì có một con sông hay một cái ngòi thẳng tuột từ đầu đến cuối… Muốn đi đò
thời có sông, muốn đi bộ thời có đường, tiện lợi đời nào nói sao cho xiết” [58,
tr.84]. Như một “con rết” khổng lồ, hệ thống sông ngòi dày đặc này đã tạo nên
sự phân chia địa giới hành chính giữa các thôn xã, hình thành nên vùng đồng đất
Kim Sơn theo lối chữ “Tỉnh” (#) như ngày nay.
Song song với việc đào sông, đào kênh mương, Nguyễn Công Trứ đã cho
đắp đê để ngăn nước mặn tràn vào đồng ruộng. Con đê đầu tiên ông cho đắp
vào năm 1829, cách sông Ân 50 đạc (3000m). Sau đó, vào năm 1830, nhân dân
huyện Kim Sơn đắp đê Hồng Ân (còn gọi là Đê Đường Quan hay Đê Hồng
Lĩnh).
Như vậy, dưới sự lãnh đạo và tổ chức tài tình của Nguyễn Công Trứ, cùng
với sự đoàn kết, tinh thần hăng say lao động không biết mệt mỏi của hàng ngàn
18


người đã góp phần hình thành nên một vùng đất mới – vùng đất Kim Sơn ngày
nay. Lúc mới thành lập, huyện Kim Sơn có “7 tổng (Chất Thành, Hồi Ninh, Quy
Hậu, Hướng Đạo, Tự Tân, Tuy Lộc, Lai Thành) với 60 lý, ấp, trại, giáp với số
ruộng khẩn hoang được là 14.620 mẫu ruộng chia cho 1.260 dân đinh” [58, tr.75].
Ngay sau khi huyện Kim Sơn được thành lập, nhiều công cuộc khẩn hoang
lấn biển tiếp tục được thực hiện, góp phần làm thay đổi địa giới hành chính của
huyện không như khi nó mới thành lập.
Do tính chất bồi tụ và tiến ra biển hằng năm của các vùng ven biển nói
chung nên cứ trong khoảng một thời gian nhất định (còn tùy thuộc vào tốc độ bồi
tụ của mỗi nơi) sẽ có một vùng đất mới ven biển được bồi đắp cao lên, tạo ra
những vùng đất trũng bên trong nội đồng, gây ra úng lụt. Vì thế, các vùng đồng
bằng ven biển phải thường xuyên quai đê lấn biển, hình thành những vùng đất

Hơn nữa, “đặc điểm của dải ven bờ Kim Sơn là vùng đất phẳng, chỉ bị phủ
khi nước triều lên. Đất ở đây không chỉ có cát mà lẫn với bùn, đó cũng là những
bãi bồi mà con người tìm cách canh tác bằng việc đắp đê ngăn mặn và chống lũ
19


lụt” [58, tr.60]. Do đó, từ sau khi được thành lập, huyện Kim Sơn vẫn tiếp tục
công cuộc “Tranh công cùng tạo hóa”, đã có 7 lần quai đê lấn biển (không kể
các con đê do Nguyễn Công Trứ đắp). Cụ thể như sau:
Bảng 1.2: Số lần quai đê lấn biển của huyện Kim Sơn
STT

Năm

Đê được đắp

Diện tích (ha)

1

1899

Đê sông Ân

5.626

2

1927


1981

Đê Bình Minh II

1.932

7

1999

Đê Bình Minh III

1.450
[Nguồn: 8, tr.158 - 161]

Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy, từ khi được thành lập đến năm 1959,
huyện Kim Sơn đã tổ chức 5 lần đắp đê, khẩn hoang thêm nhiều vùng đất mới,
góp phần hình thành nên các đơn vị hành chính mới như: xã Văn Hải, xã Kim
Mỹ, xã Kim Tân, xã Cồn Thoi… Với phương châm, “Lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt,
sú vẹt lấn biển” và tích cực hưởng ứng phong trào “Làm giàu đánh thắng”, nhân
dân huyện Kim Sơn tiếp tục công cuộc quai đê lấn biển. Sau 21 năm chưa được
quai đê lấn biển, đến năm 1981, vùng đất bãi bồi phía ngoài đê Bình Minh I được
tiến hành khẩn hoang, bằng việc cho đắp hai đê Bình Minh I (1981) và đê Bình
Minh II (1999). “Việc đắp đê lấn biển lần này có nhiều thuận lợi do được kế thừa
kinh nghiệm của 5 lần đắp đê trước. Tuy vậy cũng gặp phải muôn vàn khó khăn
vì đắp một con đê với chiều dài gần 15 km và xây dựng hàng loạt các công trình
nội đồng là một công việc vô cùng lớn lao, cần một đội ngũ cán bộ quản lý, cán
bộ kỹ thuật, một cơ chế quản lý, sự ủng hộ của Nhà nước là điều không thể thiếu”

20

1986

512

1.500

Xã Kim Trung

1993

500

2.170

Xã Kim Đông

1997

650,02

1.704
[Nguồn: Tác giả tổng hợp]

Như vậy, các xã Kim Hải, Kim Trung và Kim Đông là 3 đơn vị hành
chính thuộc vùng ven biển của huyện Kim Sơn ngày nay. Phía ngoài của các xã
này (ngoài đê Bình Minh II trở ra phía biển) là vùng bãi bồi ngập mặn do Ủy
ban nhân dân Huyện và các đơn vị Quân đội quản lý. Đây là vùng đất đầy tiềm
năng kinh tế và du lịch, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế và văn hóa
của cư dân huyện Kim Sơn nói chung và của các xã vùng ven biển Kim Sơn
ngày nay nói riêng. Với vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng của vùng đất

dệt chiếu cói được xem là một trong những nghề thủ công nghiệp truyền thống
của nhân dân huyện Kim Sơn. Hiện nay, Huyện đã có 25 làng nghề cói đã được
công nhận. Về sau, bên cạnh nghề dệt chiếu, người dân nơi đây còn biết chế biến
các sản phẩm khác từ cây cói nhý làn, khay, thảm,... hình thành một nghề mới,
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status