BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HOÀNG THANH HÒA
PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP,
CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HOÀNG THANH HÒA
PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP,
CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ninh Thị Thu Thủy
Đà Nẵng - Năm 2015
1.2.6. Gia tăng kết quả và đóng góp của KCN, CCN đối với kinh tế, xã hội
địa phương.......................................................................................................21
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KCN, CCN........ 24
1.3.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................24
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương ..........................................25
1.3.3. Chính sách của nhà nước .....................................................................26
1.4. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ
ĐỊA PHƯƠNG................................................................................................ 27
1.4.1. Kinh nghiệm phát triển KCN, CCN tỉnh Bình Dương.......................27
1.4.2. Kinh nghiệm phát triển KCN, CCN tỉnh Bắc Ninh............................29
1.4.3. Những bài học kinh nghiệm.................................................................30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI ..... 31
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH GIA LAI
ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CÁC KCN, CCN.................................. 31
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên.................................................................................31
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .....................................................................32
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KCN, CCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
GIA LAI TRONG THỜI GIAN QUA............................................................ 37
2.2.1. Thực trạng về xây dựng, quản lý quy hoạch và phát triển KCN, CCN
..............................................................................................................37
2.2.2. Thực trạng xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN, CCN ..........................42
2.2.3. Thực trạng thu hút dự án và vốn đầu tư vào KCN, CCN ..................45
2.2.4. Thực trạng hỗ trợ phát triển đội ngũ lao động cho các KCN, CCN..57
2.2.5. Thực trạng hỗ trợ nâng cao trình độ công nghệ của các DN trong
KCN, CCN ......................................................................................................61
2.2.6. Kết quả và đóng góp của KCN, CCN đối với kinh tế, xã hội địa
phương.............................................................................................................63
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BQL
Ban quản lý
BVMT
Bảo vệ môi trường
CCN
Cụm công nghiệp
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
DAĐT
Dự án đầu tư
DN
SX
Sản xuất
XLNT
Xử lý nước thải
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
Phân loại (4a) và cơ cấu (4b) FDI theo quy mô và tính
1
2
47
chất dự án ở tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 2010-2014
Cơ cấu FDI ở tỉnh Gia Lai theo đối tác đầu tư giai đoạn
2010 – 2014
51
43
2.6.
Danh mục các dự án đầu tư đến cuối tháng 6/2014
46
Danh mục dự án kêu gọi đầu tư của tỉnh Gia Lai trong lĩnh
2.7.
2.8.
2.9.
2.10.
vực công nghiệp giai đoạn 2015-2020
FDI của tỉnh Gia Lai thu hút vào KCN, CCN giai đoạn
2010-2014
Danh sách các dự án FDI ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 2010 –
2014
Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư mới ở tỉnh Gia Lai đến
năm 2020
47
49
50
54
2.11.
68
69
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc thành lập các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) là một
trong những giải pháp quan trọng đối với việc đẩy mạnh CNH - HĐH và phát
triển KT - XH của đất nước. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
(1991) Đảng và Nhà nước đã chủ trương thí điểm và triển khai việc xây dựng
các khu công nghiệp, khu chế xuất. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII (1996) định hướng chiến lược xây dựng và phát triển các KCN đã được
triển khai trong cả nước, và từng bước được bổ sung, hoàn thiện tại các Đại hội
tiếp theo.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành và phát triển gắn liền với
công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước, xuất phát từ chủ trương đúng
đắn của Đảng, Chính phủ trong việc xây dựng một mô hình mang tính đột phá
trong thu hút đầu tư, tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Qua 23 năm xây dựng và phát
triển, thành tựu của các khu công nghiệp, khu chế xuất đã được minh chứng
sống động bằng những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước,
thể hiện trên các mặt kinh tế, môi trường và xã hội.
Gia Lai là một trong những tỉnh thuộc Tây Nguyên, giao điểm của hai khu
vực kinh tế trọng điểm gồm khu vực kinh tế phía Nam và khu vực kinh tế ven
biển miền Trung. Gia Lai cũng là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế để hình thành
và phát triển các KCN, CCN nói riêng và phát triển KT -XH nói chung. Vì vậy,
ngay từ năm 2003, Gia Lai đã thành lập KCN đầu tiên và đến nay trên địa bàn tỉnh
Gia Lai đã thành lập và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 3 KCN, 15 CCN trong đó
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương
pháp sau đây:
3
- Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc.
- Phương pháp phân tích so sánh, dự báo, phương pháp chuyên gia và các
phương pháp khác v.v...
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo đề tài được chia
làm các chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên
địa bàn tỉnh Gia Lai.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp tại tỉnh Gia Lai trong thời gian tới.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiểu được tầm quan trọng và đóng góp của các KCN, CNN đối với nước
ta nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển các KCN, CCN
cụ thể như sau:
- Công nghiệp được thừa nhận là ngành kinh tế chủ đạo của nền kinh tế, vai
trò này thể hiện như sau: công nghiệp tăng trưởng nhanh và làm gia tăng nhanh
thu nhập quốc gia, công nghiệp cung cấp tư liệu sản xuất và trang bị kỹ thuật cho
các ngành kinh tế, công nghiệp cung cấp đại bộ phận hàng tiêu dùng cho dân cư,
cung cấp nhiều việc làm cho xã hội, thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Vì vậy phát
triển công nghiệp có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình CNH – HĐH [1,
tr.284-285].
- Trong bài viết “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến thu hút đầu tư vào
- Luận văn, “Phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc”, của tác
giả Trần Minh Ngọc (2010), đã đưa ra được hệ thống quy hoạch các khu công
nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển các khu công
5
nghiệp, một số vấn đề còn yếu kém như: xây dựng kết cấu hạ tầng còn chậm, tỷ
lệ lấp đầy thấp, mối quan hệ giữa chủ và người lao động còn thấp…Một số giải
pháp cũng được tác giả đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN ở
Vĩnh Phúc.
- Trong bài viết “Việt Nam, Malaysia chia sẻ kinh nghiệm phát triển khu
công nghiệp” của Ths. Phạm Quang Đức đã nêu rõ những kinh nghiệm của
Malaysia trong phát triển KCN, như quy hoạch, phát triển và quản lý nhà nước về
khu công nghiệp và khu kinh tế, trong đó tập trung vào các vấn đề như khung
pháp lý về tổ chức và hoạt động; mô hình, cơ cấu và cách thức tổ chức hệ thống
quản lý nhà nước về KCN, khu kinh tế ở cấp trung ương và địa phương; vấn đề
phân cấp, phân quyền, cơ chế phối hợp và mối quan hệ giữa các cơ quan ở cấp
trung ương và cấp địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về
KCN, khu kinh tế trong các lĩnh vực như quy hoạch, đất đai, tài nguyên, môi
trường, đầu tư, thương mại, xuất nhập khẩu, lao động, thuế, hải quan...
- Tác phẩm"Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về khu công nghiệp
và khu chế xuất ở Việt Nam"của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002) đã giới thiệu
kinh nghiệm quản lý các KCN, KCX của nước ngoài, đánh giá những mặt tốt và
những hạn chế của mô hình quản lý hiện đang áp dụng tại Việt Nam, trên cơ sở đó
đề xuất một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các KCN,
KCX trong thời gian tới.
- Trong tác phẩm "Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả quản
lý nhà nước, bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất" (2004)
của tiến sĩ Trương Thị Minh Sâm, đánh giá khá chi tiết và toàn diện tình trạng ô
nhiễm môi trường ở các KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, những
cụ thể vấn đề phát triển KCN, CCN trên địa bàn tỉnh Gia Lai với nét đặt thù riêng
về điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội. Vì vậy, tôi đã kế thừa và chọn lọc những
công trình nghiên cứu ở trên và các nghiên cứu khác để thực hiện luận văn này.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP,
CỤM CÔNG NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ KCN, CCN VÀ PHÁT TRIỂN KCN, CCN
1.1.1. Khái niệm và phân loại KCN, CCN
a. Khái niệm
Thuật ngữ KCN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX- khi các KCN bắt đầu
được hình thành và phát triển.Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về
KCN và CCN. Các quan niệm này được xây dựng để thực hiện các mục tiêu
nhất định như phát triển các KCN, CCN quản lý nhà nước về KCN, CCN
hoặc khai thác tác động của KCN, CCN đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Theo quan điểm thông thường, KCN là khu vực có tính chất độc lập,
trong đó có các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa, thực hiện các hoạt
động dịch vụ và có chế độ quản lý riêng. Theo quan điểm của Tổ chức phát
triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) trong tài liệu KCN tại các nước
đang phát triển (Export processing Zone in Developing Countries) công bố
năm 1990 thì KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong
một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về
xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện
về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước
chủ nhà.
Các nước như Thái Lan, Philippin, quan niệm KCN như một thành phố
công nghiệp, vì thực tế KCN là một cộng đồng tự túc và độc lập. Ngoài việc
doanh, sản xuất, phục vụ xuất khẩu. Đây là mô hình thu nhỏ về chính sách KT
- XH mở cửa của một đất nước.
Ở Việt Nam, khái niệm về KCN, CCN được quy định tại Nghị định
192/CP ngày 15/12/1994 của Chính Phủ về Quy chế KCN, các KCN được
định nghĩa là: Các khu vực công nghiệp tập trung, được thành lập do quyết
9
định của Chính phủ với các ranh giới được xác định, cung ứng các dịch vụ hỗ
trợ sản xuất và không có dân cư. Trong Điều 2 Nghị định 36/CP ngày
24/4/1997 của Chính phủ ban hành về “Quy chế hoạt động của các KCN,
KCX, KCNC” có đưa ra khái niệm đầy đủ hơn về KCN. Theo đó thì KCN là
khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường
rào bao quanh), không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ Tướng
Chính phủ quyết định thành lập [38, tr.2]. Nghị định 36/ CP có giải thích một
số thuật ngữ sau đây:
- Khu công nghiệp: Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ
hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
+ Doanh nghiệp chế xuất: Là doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biến
hàng xuất khẩu, được thành lập và hoạt động theo quy chế này.
+ Doanh nghiệp KCN: Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động
trong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
+ Doanh nghiệp sản xuất KCN: Là doanh nghiệp sản xuất hàng công
nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN.
+ Doanh nghiệp dịch vụ KCN: Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động trong KCN, thực hiện dịch vụ và các công trình kết cấu hạ tầng KCN,
dịch vụ sản xuất công nghiệp.
sản phẩm giống nhau hoặc có liên quan đến nhau trong một khu vực địa lý
nhất định.
- Nhóm 2: CCN gồm có một hoặc một số doanh nghiệp lớn (doanh
nghiệp mỏ neo) và các doanh nghiệp là thầu phụ, nhà cung cấp cho một hoặc
một số doanh nghiệp lớn đó.
11
- Nhóm 3: CCN có mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp - tổ chức
nghiên cứu, giáo dục - chính phủ.
1.1.2. Đặc điểm KCN, CCN
- Là khu vực tập trung tương đối nhiều nhà máy, xí nghiệp trong một
khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất, sản
xuất ra các sản phẩm công nghiệp khác nhau, đồng thời cũng sử dụng lượng
lớn nguyên, nhiên liệu, năng lượng và thải ra lượng chất thải khổng lồ.
- Việc thành lập KCN, CCN đòi hỏi phải có diện tích đất khá lớn, tập
trung tại một địa điểm, địa hình tương đối bằng phẳng. Thường được xây
dựng ở những nơi có vị trí địa lý thuận lợi.
- Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài
hay các tổ chức cá nhân trong nước.
- Các xí nghiệp trong KCN, CCN thường được hưởng một quy chế riêng
của nhà nước và địa phương sở tại. Các quy chế này thể hiện sự quan tâm, ưu
đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển.
- KCN, CCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản
lý thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí nghiệp công
nghiệp và các doanh nghiệp hoạt động.
- Sử dụng lượng lao động lớn.
- Hoạt động chính trong KCN, CCN là hoạt động sản xuất công nghiệp.
1.1.3. Vai trò của KCN, CCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
a. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trên địa bàn và phát triển
và phát triển của mình. KCN, CCN là môi trường tốt nhất để đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ lâu dài cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do áp
lực phải sản xuất ra các mặt hàng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, các nhà đầu tư
buộc phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, đội ngũ
cán bộ quản lý. Vì thế, người lao động sẽ có cơ hội để tiếp thu tốt nhất công
13
nghệ sản xuất hiện đại, công nghệquản trị tiên tiến, ở đó, người lao động biết
cần phải tự giác tham gia vào quá trình đào tạo, tự đào tạo lại để luôn thích
ứng với yêu cầu phát triển của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, đây là địa điểm
thuận lợi để đào tạo nguồn nhân lực mới có chất lượng cao, là tác động cơ
bản, động lực mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của các KCN, CCN, các doanh
nghiệp KCN, CCN và quy định lộ trình tăng lương tối thiểu của Chính phủ, thu
nhập của người lao động trong các KCN, CCN dần được nâng cao, từ đó nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, đồng thời giảm hệ số
chênh lệch giàu nghèo, tăng chỉ số phát triển con người.
c. Góp phần nâng cao trình độ công nghệ và quản lý kinh doanh
Khu công nghiệp, cụm công nghiệp với hạt nhân là doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tác động đổi mới công nghệ đối với doanh
nghiệp trong nước: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở
các KCN, CCN là nhân tố tác động mạnh mẽ đến đổi mới công nghệ đối với
doanh nghiệp trong nước. Thực tế cho thấy, việc áp dụng mô hình kinh tế các
KCN, CCN đã thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ phát triển nhanh, cả
về phạm vi và tốc độ. Chuyển giao công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài
tới doanh nghiệp trong nước có ảnh hưởng lâu dài, đóng góp tích cực vào việc
tăng năng suất trong ngành công nghiệp của nước sở tại. Có thể thấy, tác động
lan tỏa công nghệ của khu vực FDI được thực hiện thông qua mối liên kết sản
xuất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, qua đó tạo điều
nông nghiệp, cơ cấu theo vùng lãnh thổ dần dần hình thành các vùng tập
chung, chuyên môn hóa và đa dạng hóa sản phẩm, đời sống nhân dân nông
thôn trong tỉnh được nâng lên, bộ mặt xã hội nông thôn thay đổi. Bên cạnh đó
còn góp phần làm chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế. Các DN có vốn đầu
tư nước ngoài, các DNTN tại các KCN, CCN với sự tăng trưởng mạnh, năng
15
động, hiệu quả đã tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự mở
rộng thị trường, tạo thế và lực mới cho nền kinh tế,... Góp phần quan trọng
vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, với kết cấu hạ tầng kỹ thuật và
hạ tầng xã hội đồng bộ, các KCN, CCN thường có khả năng chuyển nhanh
các khu vực thuần nông, trở thành một thành phố công nghiệp với kết cấu hạ
tầng phát triển nhanh và ổn định.
e. Thúc đẩy quá trình hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng
Qua quá trình xây dựng và phát triển, ngoài các tác động như thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ; tăng trưởng kinh tế nhanh, các
KCN, CCN còn đã thúc đẩy liên kết hạ tầng kỹ thuật, góp phần tạo lập và
phân bố không gian kinh tế-xã hội của tỉnh, tạo sự phát triển đồng đều.
Các KCN, CCN trong quá trình quy hoạch đã cơ bản đảm bảo được sự gắn
kết hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong và ngoài hàng rào KCN, CCN.
Chính hạt nhân từ các KCN, CCN đã hình thành các khu đô thị mới, cùng các
công trình hạ tầng xã hội đã đưa mạng lưới đô thị các tỉnh ngày càng mở rộng
và phát triển. Các khu đô thị, dịch vụ sau khi triển khai đầu tư sẽ có công trình
văn hóa, cơ sở phúc lợi xã hội và các công trình hạ tầng xã hội khác đáp ứng
cho người lao động tại KCN, CCN và dân cư địa phương.
Theo đó, hệ thống các tuyến đường giao thông ở các Tỉnh lộ được quy
hoạch đầu tư xây dựng nối các KCN, CCN, khu đô thị thành mạng lưới giao
thông khép kín, liên hoàn; quy hoạch mạng lưới điện của tỉnh thường xuyên
được điều chỉnh, bổ sung; mạng lưới cung cấp nước sạch cho các KCN, CCN
môi trường, tránh gian lận thương mại, tăng nguồn thu cho ngân sách, góp
phần xây dựng khu công nghiệp xanh, thân thiện môi trường.
Tuy nhiên, trong quá trình đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển các KCN, CCN ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng trầm