Hoàn thiện quản lý thuế xuất nhập khẩu tại Thành phố Đà Nẵng - Pdf 46

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐỖ THỊ DIỆU HIỀN

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đà Nẵng – Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

ĐỖ THỊ DIỆU HIỀN

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Quang Bình

Đà Nẵng – Năm 2015

quan, người nộp thuế ....................................................................................... 20
1.2.2. Quản lý khai báo Hải quan, khai thuế, nộp thuế......................... 22
1.2.3. Quản lý miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế XNK 25
1.2.4. Quản lý thông tin NKHQ, NNT ................................................. 26
1.2.5. Quản lý nợ thuế XNK ................................................................. 27
1.2.6. Thanh tra, kiểm tra thuế XNK .................................................... 27
1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ THUẾ XNK....... 30
1.3.1. Nhân tố chủ quan ........................................................................ 30
1.3.2. Nhân tố khách quan .................................................................... 32


KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................... 36
2.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI, HOẠT ĐỘNG XNK
VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ THUẾ XNK TẠI TP ĐÀ NẴNG ....................... 36
2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế xã hội TP Đà Nẵng ........................ 36
2.1.2. Tình hình hoạt động XNK ở TP Đà Nẵng .................................. 40
2.1.3. Cơ quan quản lý thuế XNK ở TP Đà Nẵng ................................ 41
2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THUẾ XNK Ở TP ĐÀ NẴNG ........................ 52
2.2.1. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho NKHQ,
NNT ............................................................................................................... 52
2.2.2. Quản lý khai báo Hải quan, khai thuế, nộp thuế......................... 55
2.2.3. Quản lý miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế ......... 61
2.2.4. Quản lý thông tin NKHQ, NNT ................................................. 63
2.2.5. Quản lý nợ thuế XNK ................................................................. 65
2.2.6. Công tác thanh tra, kiểm tra thuế XNK ...................................... 67
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ XNK Ở TP.
ĐÀ NẴNG....................................................................................................... 72
2.3.1. Kết quả đạt được ......................................................................... 72

CQT

Cơ quan thuế

CK

Cửa khẩu

CNTT

Công nghệ thông tin

DN

Doanh nghiệp

DNNN

Doanh nghiệp Nhà nước

ĐTNT

Đối tượng nộp thuế

GDP

Tổng sản phẩm trong nước

GTGT


SXKD

Sản xuất kinh doanh

SXXK

Sản xuất xuất khẩu

TTĐB

Tiêu thụ đặc biệt

VPHC

Vi phạm hành chính

XNK

Xuất nhập khẩu

WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số

Tên bảng


Số lượng, trình độ, độ tuổi CBCC, NV các đơn vị thực

46

hiện nhiệm vụ quản lý thuế XNK năm 2014
2.6.

Kết quả thu thuế từ hoạt động XNK trên địa bàn Đà Nẵng

48

2.7.

Kết quả thu thuế từ hoạt động XNK theo các đơn vị quản lý

50

thu thuộc Cục Hải quan TP Đà Nẵng
2.8.

Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp

52

thông tin cho NKHQ, NNT từ năm 2011-2014
2.9.

Kết quả thực hiện thủ tục Hải quan trên địa bàn TP Đà

56


2.1. Bộ máy tổ chức Cục Hải quan TP Đà Nẵng

43

2.2. Kết quả thu NSNN từ hoạt động XNK tại Đà Nẵng

49

2.3. Số tờ khai mậu dịch và phi mậu dịch năm 2010-2014

56

2.4. Kim ngạch XNK trên địa bàn TP Đà Nẵng năm 2010-2014

57

2.5. Mô hình tổng thể của quy trình kê khai - kế toán thuế

59

2.6. Quy trình nộp tiền thuế của NNT

61


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

thuế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các chế độ chính sách về thuế
XNK trong thời gian qua cũng tồn tại rất nhiều bất cập. Hệ thống quản lý hoạt
động XNK cùng với quy trình thủ tục Hải quan thường xuyên thay đổi. Thành
phố Đà Nẵng cũng không là ngoại lệ của thực tiễn đó. Làm thế nào để quản lý
thuế XNK vừa đảm bảo nguồn thu ngân sách, đảm bảo đúng quy định, vừa
đảm bảo việc bảo hộ nền sản xuất trong nước là bài toán khó được đặt ra.
Xuất phát từ những lý do đó tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý thuế xuất
nhập khẩu tại thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
- Hệ thống hóa được lý luận về quản lý thuế XNK;
- Đánh giá được thực trạng quản lý thuế XNK trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế XNK trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là quản lý thuế XNK.
Phạm vi nghiên cứu: là quản lý thu thuế XNK; trong đó, chú trọng cơ
chế quản lý thuế, quy trình và thủ tục quản lý thu thuế XNK trên địa bàn Đà
Nẵng trong giai đoạn 5 năm từ 2010 đến 2014. Nội dung của công tác quản lý
thu thuế XNK tập trung vào các chức năng quản lý như: Tuyên truyền hỗ trợ
cung cấp thông tin, kê khai thuế, quản lý nợ thuế và thanh tra kiểm tra thuế.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng hoạt động quản lý thuế XNK trên địa bàn Đà Nẵng diễn ra
như thế nào?


3

- Các giải pháp gì cần đề ra nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế

thành phần kinh tế đang phát triển nhanh chóng và đa dạng, hoạt động theo
pháp luật, cùng phát triển, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, thương
mại quốc tế được xem như là một trong những động lực của nền kinh tế.
Việc đẩy mạnh thương mại quốc tế, thu hút đầu tư sẽ giúp Việt Nam
giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao
công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao
động quốc tế một cách mạnh mẽ. Vì vậy, tạo thuận lợi cho DN trong hoạt
động XNK là trực tiếp góp phần đảm bảo nguồn thu, đảm bảo cho đầu tư
cũng như giải quyết các vấn đề khó khăn về vốn nhằm tạo đà cho đất nước
phát triển.
Đứng trước yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong hoạt động
XNK, đồng thời nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa ngành Hải
quan, Tổng cục Hải quan đã bắt đầu triển khai thí điểm thủ tục Hải quan điện
tử theo Quyết định 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng chính
phủ từ năm 2005. Và đến cuối năm 2012, với việc ban hành Nghị định
87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ và Thông tư 196/2012/TTBTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính, thủ tục Hải quan điện tử đã được
triển khai chính thức tại tất cả các Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Thủ tục Hải
quan điện tử đã góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực Hải
quan, giảm thời gian thông quan hàng hóa, tạo môi trường thông quan minh
bạch hơn và được sự ủng hộ của cộng đồng DN XNK. Để có những chuyển đổi
căn bản trong phương thức quản lý của ngành, tạo nền tảng cho việc triển khai
thủ tục Hải quan điện tử, đẩy mạnh tự động hóa Hải quan như trên thì ngành
Hải quan đã áp dụng QLRR trong hoạt động XNK hàng hóa thương mại.
Việc ngành Hải quan chuyển sang áp dụng phương thức quản lý mới
cũng mang lại tính hai mặt đối với nhiệm vụ thu ngân sách. Bên cạnh những
mặt được như đã tạo thuận lợi cho hoạt động XNK, giảm thiểu thủ tục và mức


5



tạo sự công bằng, bình đẳng cho các đối tượng khi tham gia các hoạt động
SXKD, XNK hàng hoá.
- Luận văn “Hoàn thiện quản lý thu thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan
tỉnh Quảng Nam” của tác giả Phan Lâm Huyền Trang, năm 2014. Luận văn
nghiên cứu những nội dung cơ bản của quản lý thu thuế nhập khẩu theo cách
tiếp cận quy trình quản lý thu thuế gồm quản lý khâu khai báo thuế; quản lý
quá trình nộp thuế; quản lý quá trình thực hiện chính sách miễn, giảm, hoàn,
truy thu thuế; kiểm tra sau thông quan, thanh tra về thuế nhập khẩu; từ đó đề
ra giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý thu thuế nhập khẩu tại Cục Hải
quan tỉnh Quảng Nam.
- Luận văn “Hoàn thiện công tác kế toán thuế XNK tại Cục Hải quan
thành phố Đà Nẵng” của tác giả Ngô Thùy Trang, năm 2013. Luận văn đưa
ra những cơ sở lý luận về công tác kế toán thuế và thu khác của cơ quan Hải
quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Trên cơ sở đó, đề tài nghiên cứu
tình hình áp dụng thực tế công tác kế toán thuế XNK tại một đơn vị Hải quan
điển hình là Cục Hải quan TP Đà Nẵng. Từ đó tác giả nhận định những ưu
điểm, hiệu quả cần tiếp tục phát huy; đồng thời cũng đưa ra những tồn tại, hạn
chế và đề xuất biện pháp khắc phục, hoàn thiện.
- Luận văn “Đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của
ngành Hải quan hiện nay” của tác giả Trần Thành Tô, năm 2006. Luận văn
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
trong ngành Hải quan được đặt trong tổng thể quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu nói chung. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới
quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế và thông lệ quốc tế trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
- Luận văn “Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hàng hóa nhập
khẩu ở Việt Nam - Qua khảo sát thực tế tại Chi cục HQCK SBQT Nội Bài”



khái niệm thống nhất về thuế, tùy vào góc độ nghiên cứu mà người ta có
những quan niệm khác nhau về thuế, phù hợp với lĩnh vực mà họ nghiên cứu.
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm là: "Để duy trì quyền
lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân
của Nhà nước đó là thuế khoá...". Với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp
của công dân để duy trì quyền lực Nhà nước.
Còn theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên
ngôn độc lập nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong
lịch sử thuế khoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và
thuế”
Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn.
Trong cuốn từ điển của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan
Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập
của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay DN (thuế trực thu), trên việc
chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.
Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, người ta định nghĩa:
Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm
đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.


9

Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là khoản đóng góp bắt
buộc mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy
định của pháp luật.
Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc
biệt; theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần
nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng
KTXH của Nhà nước.

hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại,
nghĩa vụ của ĐTNT được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát
triển của kinh tế thị trường.
- Thứ hai, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách. Tính chất bắt
buộc thể hiện ở chỗ, đối với NNT, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ
cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù
trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Tính chất bắt buộc của thuế có mối quan
hệ mật thiết với tính không hoàn trả. Do thuế không có tính hoàn trả, về mặt
lý thuyết khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vi chuyển giao một
khối lượng tài sản cho nhà nước và chắc chắn không nhận lại chúng trong
tương lai. Vì vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, phải sử dụng biện pháp bắt
buộc như một thuộc tính cơ bản của thuế.
- Thứ ba, thuế gắn với yếu tố quyền lực. Tính quyền lực của thuế được
xuất phát bởi lý do xuất hiện các khoản thu về thuế của nhà nước. Thuế xuất
hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật
chất cho nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Các nhà
kinh tế chính trị đều thống nhất cho rằng thuế là biện pháp chủ yếu của nhà
nước can thiệp vào nền kinh tế. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo ra cho
thuế tính ổn định, sự tuân thủ của NNT. Các yếu tố như NNT, thuế suất…
được quy định trước và mang tính ổn định trong một thời gian nhất định. Chỉ


11

gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn
thu nhập tài chính cho nhà nước.
- Thứ tư, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính
hoàn trả trực tiếp. Thuế không phải là khoản trả phí khi NNT đã nhận được
một lợi ích hay quyền lợi cụ thể từ phía nhà nước. Bất kỳ ai, khi đủ điều kiện
đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, không phân biệt họ đã

những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho Nhà nước
một cách trực tiếp và gián tiếp.
- Thứ hai, thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã
hội: Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước
phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục những sự mất
cân đối về mặt xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập. Nhà nước sử dụng
pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự điều
tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước
thực hiện việc điều tiết thu nhập của các ĐTNT và các thành viên trong xã
hội. Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống
thuế, về thuế suất... đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong
xã hội.
Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một
phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế TTĐB. Loại thuế
này có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao
cấp, đắt tiền. Các hàng hóa dịch vụ này thông thường chỉ có những người có
thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó
điều tiết bớt một phần thu nhập của họ.
- Thứ ba, thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt
động SXKD: Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các
luật thuế trong thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy
định của các luật thuế đã ban hành, CQT và các cơ quan liên quan phải bằng


13

mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở SXKD, ngành nghề và
lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định
mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu
thuế mà CQT sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ

hóa thì pháp luật của các nước về thuế quan ngày càng có xu thế hội nhập với
các quốc gia trong khu vực và trên phạm vi toàn thế giới. Thuế quan ở Việt
Nam có tên gọi là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu là một loại thuế đánh vào các hàng hoá mậu dịch, phi mậu dịch được
phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được nhà nước ta ban hành vào năm
1951, thời điểm này thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ để nhà nước
thực hiện chức năng quản lý việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá giữa vùng tự
do và vùng bị tạm chiếm, bảo vệ và phát triển kinh tế vùng tự do, xúc tiến
việc giao lưu các loại hàng hoá là nhu yếu phẩm cần thiết cho quân đội và
nhân dân. Phương châm đấu tranh kinh tế với địch là đẩy mạnh xuất khẩu,
tranh thủ nhập khẩu các loại hàng hoá cần thiết cho kháng chiến, sản xuất và
đời sống nhân dân.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được Quốc hội
nước ta ban hành ngày 29 -12 -1987. Ðạo luật này chỉ điều chỉnh quan hệ thu
nộp thuế phát sinh từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậu dịch. Do đó
có sự phân biệt trong áp dụng chế độ thu thuế giữa hàng hoá mậu dịch với các
loại hàng hoá phi mậu dịch khác.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành số 45/2005/QH11 bãi
bỏ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1993, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1998. Luật
này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ
họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 và có hiệu lực thi hành ngày


15

01 tháng 01 năm 2006.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành có phạm vi điều chỉnh

- Thứ hai, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cấu thành trong giá cả hàng
hoá, làm tăng giá hàng hoá, do đó có tác dụng điều tiết xuất khẩu, nhập khẩu
và hướng dẫn tiêu dùng; bởi vì lượng hàng hoá xuất khẩu hay nhập khẩu phụ
thuộc vào sức tiêu thụ hàng hoá, yếu tố này lại phụ thuộc vào giá cả. Giá cả
hàng hoá cao hay thấp sẽ quyết định việc giảm hoặc tăng sức cạnh tranh của
hàng hoá đó trên thị trường. Thông qua thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhà
nước điều tiết việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. Hơn nữa, thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu sẽ hạn chế việc tiêu dùng hàng hoá xa xỉ hoặc các loại hàng
hoá không được khuyến khích sử dụng như thuốc lá, rượu, bia...
- Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng bảo hộ nền sản
xuất trong nước. Việc đánh thuế cao vào hàng hoá nhập khẩu sẽ giúp các nhà
sản xuất trong nước có thể cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu. Ðặc biệt,
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giúp cho các DN SXKD các ngành còn non
trẻ trong nước có thời gian trưởng thành và sinh lời để từ đó có thể cạnh tranh
với hàng hoá nhập khẩu.
- Thứ tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có tác dụng giảm bớt nạn thất
nghiệp. Vì việc đánh thuế nhập khẩu cao thì hàng hoá nhập khẩu sẽ giảm; để
bù vào lượng hàng hoá nhập khẩu đó nhà nước ta phải mở rộng đầu tư, phát
triển sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động từ đó góp
phần giải quyết nạn thất nghiệp trong nước.
- Thứ năm, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ để nhà nước thực
hiện chính sách phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại đối với các nước.
Chẳng hạn Mỹ đòi EU phải giảm từ 30 - 50% trợ cấp cho nông nghiệp, nếu
không Mỹ sẽ tăng mức thuế đánh vào hàng hoá nông sản của EU nhập khẩu
vào thị trường Mỹ.
- Thứ sáu, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu góp phần mở rộng quan hệ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status