BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ HUYỀN
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG
PHỤ NỮ VÀ VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ HUYỀN
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG
PHỤ NỮ VÀ VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ VĂN ĐÍNH
Đà Nẵng - Năm 2015
PHÓNG PHỤ NỮ CỦA HỒ CHÍ MINH ....................................................... 15
1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ ....................... 15
1.2.2. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới ...................................... 24
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 30
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ......................................................................... 31
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH PHỤ NỮ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .... 31
2.1.1. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện bình đẳng giới ở
thành phố Đà Nẵng.......................................................................................... 31
2.1.2. Đặc điểm tình hình phụ nữ thành phố Đà Nẵng ............................. 36
2.2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG....................................................................................................... 41
2.2.1. Khái quát về bình đẳng giới ở Việt Nam ........................................ 41
2.2.2. Bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng ............................................. 51
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................. 69
CHƢƠNG 3. VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI
PHÓNG PHỤ NỮ VÀO VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ............................................................................. 71
3.1. QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN
BÌNH ĐẲNG GIỚI HIỆN NAY ..................................................................... 71
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta ............................................. 72
3.1.2. Quan điểm của Đảng bộ, Chính quyền và Hội LHPN Thành phố
Đà Nẵng........................................................................................................... 75
3.2. VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ
NỮ TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG
GIỚI Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ................................................................. 76
3.2.1. Định hƣớng nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện bình đẳng
giới tại thành phố Đà Nẵng ............................................................................. 76
HĐND
Hội đồng nhân dân
LHPN
Liên hiệp Phụ nữ
LHQ
Liên hiệp quốc
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
2.1.
GDP Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2011 (Tỷ đồng)
huyện trở lên
2.6.
Đánh giá về tiềm năng lãnh đạo
64
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
2.1.
2.2.
Tên biểu đồ
Cơ cấu GDP theo ngành của Đà Nẵng (%)
Thu nhập bình quân đầu ngƣời của ngƣời dân Đà Nẵng
so với cả nƣớc từ 1997 – 2012
Trang
34
35
2.3.
Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy các cấp (%)
47
để giải phóng phụ nữ Việt Nam gắn liền với sự nghiệp cách mạng giải phóng
dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phụ nữ Việt Nam chỉ thực sự đƣợc
giải phóng, đƣợc bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc sau khi tiến hành thành
công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Ngƣời khẳng định: “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả
2
dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc
còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó
thôi” [37, tr.443].
Tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới đã đƣợc Đảng, Nhà nƣớc
ta vận dụng một cách toàn diện vào công cuộc đổi mới đất nƣớc. Ngay từ năm
1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phƣơng diện xã hội thì
thực hiện “nam, nữ bình quyền”. Luận cương chính trị của Đảng cũng ghi:
một trong mƣời nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là “nam,
nữ bình quyền” [36]. Gần 85 năm qua, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt của hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hay trong những năm
tháng khó khăn của thời kỳ bao cấp, Đảng ta luôn quan tâm ban hành các Chỉ
thị, Nghị quyết, đề ra đƣờng lối, chủ trƣơng, lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận
động phụ nữ, chăm lo bồi dƣỡng, đào tạo, cất nhắc, đề bạt nhiều thế hệ cán
bộ, lãnh đạo nữ. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng tăng về số lƣợng
và chất lƣợng, có phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực, trình
độ, bản lĩnh vững vàng, phối hợp cùng với lực lƣợng nam giới góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.
Bƣớc vào thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục ban hành các Chỉ thị, Nghị
quyết lãnh đạo công tác phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ
nữ. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 về
đổi mới và tăng cƣờng công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới; Nghị
Bên cạnh đó, một bộ phận chị em vẫn còn tƣ tƣởng tự ti, an phận thủ thƣờng.
Điều này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Thực hiện bình đẳng giới và thúc đẩy bình đẳng giới trên các lĩnh vực
sẽ đóng góp một phần hết sức quan trọng trong quá trình phát triển và hội
nhập của Việt Nam nói chung, thành phố Đà Nẵng nói riêng. Phụ nữ Đà
Nẵng, với số lƣợng ngày càng đông đảo, chất lƣợng ngày càng cao đã trở
4
thành lực lƣợng quan trọng, quyết định tới sự phát triển kinh tế xã hội hiện tại
và tƣơng lai của thành phố.
Trong những năm qua, việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà
Nẵng đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Nhận thức của các cấp ủy
đảng, chính quyền và xã hội về bình đẳng giới ngày càng đƣợc nâng lên.
Công tác lồng ghép giới vào chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
địa phƣơng và nhiệm vụ chính trị của các cơ quan, đơn vị ngày càng đƣợc đẩy
mạnh. Công tác cán bộ nữ ngày càng đƣợc quan tâm để phấn đấu đến năm
2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt 35-40%, các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ
từ 30% trở lên, có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.
Tuy nhiên, thực chất việc thực hiện bình đẳng giới, thúc đẩy bình đẳng
giới, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội
đặc biệt là lĩnh vực chính trị để tƣơng xứng với vai trò, vị trí của phụ nữ trong
thời gian qua ở thành phố Đà Nẵng vẫn chƣa đạt đƣợc so với mục tiêu đề ra,
thậm chí có khi còn có xu hƣớng giảm tỷ lệ lãnh đạo, đại biểu Hội đồng nhân
dân nữ, đặc biệt là vị trí lãnh đạo quan trọng trong hệ thống chính quyền và
Đảng. Từ thực tế trên, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thực
hiện bình đẳng giới nhằm tìm ra những hạn chế, từ đó đề xuất những giải
Nẵng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải phóng
phụ nữ và vận dụng tƣ tƣởng đó vào việc thực hiện bình đẳng giới ở thành
phố Đà Nẵng hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên quan điểm tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
6
phụ nữ và giải phóng phụ nữ.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phƣơng pháp hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh.
- Nguồn số liệu thống kê cập nhật đến năm 2014.
5. Bố cục đề tài
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chƣơng, 6 tiết.
Chƣơng 1: Bình đẳng giới – một bộ phận hợp thành trong tƣ tƣởng của
Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ
Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà
Nẵng
Chƣơng 3: Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vào
việc thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia
trên thế giới trong những thập kỷ qua, là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều
tầng lớp, nhiều giới và nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Trong
nữ ở nƣớc ta hiện nay, qua đó nâng cao vai trò trách nhiệm của cá nhân, trách
nhiệm của Nhà nƣớc trong việc thực thi vấn đề này [57].
Đề tài nghiên cứu Đánh giá chính sách bình đẳng giới dựa trên bằng
chứng (2013) của TS Võ Thị Mai, đã phân tích những vấn đề lý luận và cách
tiếp cận nghiên cứu chính sách về bình đẳng giới, đánh giá thực trạng thực
hiện chính sách về bình đẳng giới; đồng thời đƣa ra các giải pháp tăng cƣờng
chính sách về bình đẳng giới để thực hiện bình đẳng giới tốt hơn nữa trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nƣớc ta hiện nay [33].
Bài viết Bình đẳng nam nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ ở
nước ta (2005) của tác giả Võ Thị Hồng Loan, Đặng Ánh Tuyết, đã phân tích,
8
đánh giá nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng nam nữ, trong đó nguyên nhân
căn bản nhất đó là kinh tế và đề ra các giải pháp nâng cao nhận thức của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề bình đẳng giới [29].
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa với bài viết Thực hiện bình đẳng giới
để phụ nữ Việt Nam tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước (2011)
đã đánh giá những thành tựu đạt đƣợc về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ
trong thời gian qua, đồng thời đƣa ra những giải pháp kiến nghị với Đảng,
Nhà nƣớc tăng cƣờng sự lãnh đạo để thực hiện hiệu quả công tác phụ nữ [19].
Với bài viết Bình đẳng giới và công tác phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
(2013) của tác giả Nguyễn Kim Quý, đề cập đến những thành tích và đóng
góp của phụ nữ trên các lĩnh vực, những hạn chế trong công tác phụ nữ và đề
ra những giải pháp cụ thể thực hiện hiệu quả vấn đề bình đẳng giới và công tác
phụ nữ [51].
Đề cập đến các yếu tố tác động đến sự tham gia của phụ nữ trong lãnh
đạo, quản lý, luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Bích Tuyền với đề tài “Sự tham gia
của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay” (2014) đã chỉ
giá thực trạng thực hiện bình đẳng giới ở thành phố Đà Nẵng và đề xuất các
giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động bình đẳng giới ở thành phố
Đà Nẵng hiện nay.
10
CHƢƠNG 1
BÌNH ĐẲNG GIỚI – MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH TRONG
TƢ TƢỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
1.1. TƢ TƢỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ - CƠ
SỞ HÌNH THÀNH VÀ CẤU TRÚC
1.1.1. Các khái niệm, công cụ liên quan đến giải phóng phụ nữ và
bình đẳng giới
a. Khái niệm về giải phóng phụ nữ
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, giải phóng nghĩa là làm cho
đƣợc tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế,
ràng buộc [71]. Giải phóng phụ nữ là làm cho ngƣời phụ nữ đƣợc tự do, đƣợc
thoát khỏi địa vị nô lệ, thoát khỏi tình trạng bị áp bức và tình trạng bất bình
đẳng với nam giới về mặt kinh tế - xã hội.
Giải phóng phụ nữ phải toàn diện, đồng bộ và triệt để. Giải phóng phụ
nữ không chỉ là giải phóng thân thế, giải phóng tƣ duy, mà giải phóng cho họ
cái gọi là quyền bình đẳng. Họ có quyền tham gia vào các hoạt động xã hội,
phải tạo điều kiện để họ tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội… thì mới đảm bảo quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ.
Do vậy, giải phóng phụ nữ trƣớc hết phải xóa bỏ ách áp bức dân tộc,
xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, đem lại hạnh phúc, tự do, dân chủ cho con ngƣời;
làm cho ngƣời phụ nữ phát huy đƣợc đầy đủ phẩm giá con ngƣời của mình.
Theo chủ nghĩa Mác, trình độ giải phóng phụ nữ là một tiêu chí phản
về giới.
- Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi
pháp luật.
- Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia
đình, cá nhân.
12
e. Mục tiêu bình đẳng giới
Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội
nhƣ nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn
nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố
quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và gia đình [30].
1.1.2. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ
nữ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, nhà tƣ tƣởng
lớn của thời đại; anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới,
Ngƣời dành cả cuộc đời và sự nghiệp cho dân tộc Việt Nam. Tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm về đƣờng lối cách
mạng và sự chuẩn mực về tính cách Việt Nam trong thời đại mới: giải phóng
dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con ngƣời. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
đƣợc hình thành từ nhiều nguồn gốc, trong đó có truyền thống văn hóa
phƣơng Đông và văn hóa Việt Nam. Những tƣ tƣởng của Ngƣời mang tính
nhân đạo cao cả, không chỉ phù hợp với dân tộc Việt Nam mà còn phù hợp
với nhân loại tiến bộ. Một trong những tƣ tƣởng đó là tƣ tƣởng về giải phóng
phụ nữ và bình đẳng nam - nữ.
Là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hƣởng sâu sắc của hệ tƣ
tƣởng Nho giáo, Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của ngƣời phụ nữ dƣới chế
“Dưới chế độ thực dân phong kiến, nhân dân ta bị áp bức và bóc lột,
thì phụ nữ ta bị áp bức và bóc lột nặng nề hơn” [41, tr.256]. “Trong xã
hội và gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng
một chút quyền lợi gì” [37, tr.448].
Hồ Chí Minh không những mô tả, mà còn phê phán các chính sách
phản động của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đối với phụ nữ Việt Nam
14
và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy, Ngƣời cho rằng, nguyên nhân
của tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ là do những quan niệm của chế độ
phong kiến lỗi thời để lại và từ bản chất của chế độ chính trị thuộc địa nửa
phong kiến mà thực dân Pháp áp đặt đối với nƣớc ta. Nhận thức đúng nguyên
nhân dẫn đến tình trạng áp bức, bóc lột, bất công mà những ngƣời phụ nữ
Việt Nam phải gánh chịu, với sự xót xa, đồng cảm, tình yêu thƣơng, quý
trọng con ngƣời, trong hành trình tìm đƣờng cứu nƣớc của mình, Ngƣời cũng
đã nghiên cứu tìm ra con đƣờng giải phóng phụ nữ Việt Nam.
Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự tố cáo tội ác của chế độ thực dân
- phong kiến đối với ngƣời phụ nữ mà còn động viên, tổ chức cho ngƣời phụ
nữ tham gia công cuộc giải phóng dân tộc, cứu nƣớc. Trong tác phẩm
“Đường Kách mệnh” đƣợc tập hợp từ những bài giảng tại các lớp huấn luyện
cán bộ cách mạng Việt Nam tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc), giữa
những năm 20 (thế kỷ XX), Ngƣời viết:
“Ông C.Mác nói rằng: “Ai biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã
hội không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và
việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào?”. Ông
Lê-nin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn
cũng biết việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công” [36,
tr.228].
PHÓNG PHỤ NỮ CỦA HỒ CHÍ MINH
1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ
Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, nổi bật và bao trùm
lên tất cả là tính nhân văn của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh. Suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng, trong hoàn cảnh bị tù đày hay khi là lãnh tụ tối cao
của cách mạng, Ngƣời cảm nhận sâu sắc thân phận của ngƣời phụ nữ phải
chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, nhất là trong xã hội còn chịu ảnh hƣởng tàn
dƣ của chế độ phong kiến và đô hộ, áp bức của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
16
Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo Hồ Chí Minh là cuộc cách mạng giải phóng
con ngƣời, do đó nếu không giải phóng phụ nữ thì không thể xây dựng đƣợc
chủ nghĩa xã hội. Và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự đem lại lợi ích cho
con ngƣời, trong đó phụ nữ đƣợc chăm lo, đƣợc giải phóng. Đó cũng là công
việc quan trọng trong công cuộc kiến thiết nƣớc nhà, tiến lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Nội dung cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là
huy động phụ nữ tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ vƣơn lên, thật sự
bình đẳng với nam giới. Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ,
nổi bật 3 nội dung lớn:
a. Giải phóng về chính trị
Giải phóng phụ nữ trƣớc hết là giải phóng về chính trị. Giải phóng phụ
nữ là một bộ phận của giải phóng dân tộc. Bởi vì nƣớc mất, nhà tan, phụ nữ là
ngƣời bị đọa đày đau khổ nhất. Nƣớc có độc lập thì dân mới có tự do. Dân tộc
đƣợc giải phóng thì phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trong việc ứng
cử và bầu cử vào các cơ quan dân cử, hệ thống chính trị theo Hiến pháp, pháp
luật. Chỉ có đấu tranh giải phóng dân tộc đi tới giải phóng xã hội, giải phóng
phóng phụ nữ chỉ có thể đi liền từng bƣớc với những thắng lợi chung của cách
mạng. Thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Tám, chiến thắng vĩ đại của hai
cuộc kháng chiến anh hùng chống đế quốc xâm lƣợc, thành công to lớn của
cải cách ruộng đất, của cải tạo xã hội chủ nghĩa và bƣớc đầu xây dựng chủ
nghĩa xã hội là những bƣớc nhảy vọt của cách mạng Việt Nam đồng thời là
những bƣớc nhảy vọt trong đời sống phụ nữ, làm thay đổi căn bản địa vị của
ngƣời phụ nữ trong xã hội. Theo Ngƣời, muốn giải phóng phụ nữ một cách
triệt để thì phải bằng các hình thức thích hợp đào tạo và bồi dƣỡng họ trở
thành những cán bộ giỏi đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ đƣợc giao. Các cấp uỷ