BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM CỘNG SINH Scutellospora sp.,
Glomus sp. VÀ BỐN MỨC PHÂN LÂN ĐẾN SỰ SINH
TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA BẮP
LVN10 TRÊN NỀN ĐẤT XÁM TP. HỒ CHÍ MINH
Họ và tên sinh viên: TRẦN TUẤN KIỆT
Ngành: NÔNG HỌC
Niên khoá: 2003-2007
Tháng 10/ 2007
ẢNH HƯỞNG CỦA NẤM CỘNG SINH Scutellospora sp., Glomus sp.
VÀ BỐN MỨC PHÂN LÂN ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT BẮP LVN10 TRÊN NỀN ĐẤT XÁM
TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN TUẤN KIỆT
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư nông nghiệp
Ngành Nông học
Giáo viên hướng dẫn:
Ths. Trần Thị Dạ Thảo
Tháng 10 năm 2007
Trần Tuấn Kiệt
iii
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của nấm cộng sinh Scutellospora sp., Glomus sp. và
bốn mức phân lân đến sự sinh trưởng phát triển của bắp LVN10 trên nền đất xám tp.
Hồ Chí Minh” được tiến hành tại nhà lưới trại thực nghiệm khoa Nông học, thời gian
từ 9/4 đến 15/9/2007. Thí nghiệm 2 yếu tố được bố trí theo kiểu có lô sọc, 4 lần lặp lại,
8 nghiệm thức. Thí nghiệm tiến hành chủng 2 loài nấm cộng sinh Scutellospora sp. và
Glomus sp. lên rễ cây bắp LVN10 vào 7 NSG (trồng trong chậu đất đã được tiệt trùng)
và được bón với 4 mức phân lân ( không bón, 100, 200, 400 mgP/kgđất).
Kết quả thu được:
Về thời gian sinh trưởng và phát dục, chủng nấm cộng sinh Scutellospora sp., Glomus
sp. và 4 mức phân lân không ảnh hưởng đến thời gian tung phấn và phun râu, không
bón hay bón lân ở liều lượng cao làm cho bắp LVN10 chín muộn hơn
Đường kính thân cao nhất ở mức lân 400 mgP/kgđất, khi bón phân lân nhiều thì đường
kính thân tăng.
Về diện tích lá, chủng nấm Scutellospora sp., Glomus sp. và 4 mức phân lân có ảnh
hưởng đến diện tích lá. Cây chủng nấm Glomus sp. vào giai đoạn 67 NSG có diện tích
lá cao nhất khi không bón lân.
Về đặc điểm trái, cây chủng nấm Scutellospora sp. có chiều dài sinh học cao ở mức
lân 100 mgP/kgđất và chiều dài kết hạt cao ở mức 400 mgP/kgđất, cây chủng nấm
Glomus sp.có chiều dài sinh học cao ở mức lân 100 mgP/kgđất và chiều dài kết hạt cao
ở mức không bón.
Về trọng lượng chất khô, cây chủng nấm Scutellospora sp. có trọng lượng chất khô
cây cao ở mức lân 400 mgP/kgđất và trọng lượng chất khô rễ cao ở mức lân 100
mgP/kgđất, cây chủng nấm Glomus sp. có trọng lượng chấy khô cây cao nhất ở mức
lân 100 mgP/kgđất và trọng lượng chất khô rễ cao nhất ở mức lân 200 mgP/kgđất.
DANH SÁCH CÁC BẢNG
x
DANH SÁCH CÁC HÌNH
x
Chương 1: Mở đầu
1
1.1. Đặt vấn đề
1
1.2. Mục đích và yêu cầu
2
1.2.1. Mục đích
2
1.2.2. Yêu cầu
2
1.3. Giới hạn
2.2.5 Nghiên cứu về phân bón cho cây bắp
7
2.3 Tổng quát về nấm cộng sinh Mycorhhiza
7
2.3.1 Khái niệm nấm rễ cộng sinh
7
2.3.2 Các loại rễ nấm
8
2.3.3. Sự hình thành nấm rễ VA
9
2.3.4 Thành phần cấu trúc nấm VAM
9
2.3.5. Đặc tính sinh lí của rễ nấm nội cộng sinh
10
2.3.6. Tác dụng có ích của rễ nấm đối với cây trồng
13
3.2.2 Phương pháp thí nghiệm
14
3.2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
14
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
17
Chương 4: Kết quả và thảo luận
18
4.1. Thời gian sinh trưởng và phát dục
18
4.1.1 Thời gian tung phấn
18
4.1.2 Thời gian phun râu
19
24
4.4 Đặc điểm trái
26
4.4.1 Chiều dài sinh học
26
4.4.2 Chiều dài kết hạt
27
4.4.3 Đường kính trái
27
4.5 Tình hình nhiễm bệnh
28
4.6Trọng lượng chất khô
28
4.6.1 Trọng lượng chất khô của cây (trên mặt đất)
28
4.9.1 pH đất
38
4.9.2 Sự tồn lưu đạm
38
4.9.3 Sự tồn lưu lân
38
4.9.5 Sự tồn lưu kali
39
Chương 5: Kết luận và đề nghị
40
5.1 Kết luận
40
5.2 Đề nghị
41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bảng 2.1:Tình hình sản xuất bắp ở một số nước sản xuất lớn và thế giới năm 2005
3
Bảng 2. 2: Diện tích, năng suất và sản lượng bắp Việt Nam giai đoạn 2000 – 2006
4
Bảng 2.3: Hàm lượng chất dinh dưỡng cây bắp lấy từ đất (kg/ha)
7
Bảng 2.4: Lượng phân bón cho ngô
7
Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng và phát dục của bắp LVN10 khi chủng nấm
Scutellospora sp. và Glomus sp. ở 4 mức phân lân
18
Bảng 4.2: Đặc điểm thân của bắp LVN10 khi được chủng nấm Scutellospora sp. và
Glomus sp. ở 4 mức phân lân
20
Bảng 4.3: Số lá của bắp LVN10 khi chủng 2 loài nấm và 4 mức phân lân qua thời kỳ
sinh trưởng
23
Bảng 4. 10: Mật độ nấm cộng sinh khi chủng nấm Scutellospora sp., Glomus sp. ở 4
mức phân lân trên bắp LVN10 theo phương pháp đếm trực tiếp
36
Bảng 4.11: Mật độ nấm cộng sinh khi chủng nấm Scutellospora sp., Glomus sp. ở 4
mức phân lân trên bắp LVN10 theo phương pháp tính điểm của Mc. Golni
37
Bảng 4. 12: Thành phần hoá tính đất trước và sau thí nghiệm
38
x
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
14
Hình 4.1: Trọng lượng hạt/cây của bắp LVN10 khi chủng nấm Scutellospora sp. ,
Glomus sp. và 4 mức phân lân
35
xi
Do đó đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của nấm cộng sinh Scutellospora sp., Glomus
sp. và bốn mức phân lân đến sự sinh trưởng phát triển và năng suất của bắp LVN10”
được tiến hành.
1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Xác định chủng nấm cộng sinh Scutellospora sp., Glomus sp. và mức phân lân thích
hợp để bắp LVN10 sinh trưởng tốt và đạt năng suất cao nhất.
1.2.2. Yêu cầu
Theo dõi các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, các chỉ tiêu nông học, và tồn lưu dinh
dưỡng trên cây bắp được chủng nấm Scutellospora sp. và Glomus sp. ở 4 mức phân lân.
1.3. Giới hạn
Do thời gian làm đề tài và số lượng nấm cộng sinh có hạn nên chỉ thực hiện ở 4 mức
phân lân trên hai chủng loại nấm cộng sinh Scutellospora sp., Glomus sp.. Mỗi nghiệm thức
thí nghiệm chỉ trồng 3 chậu.
2
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Tình hình sản xuất bắp trên thế giới và trong nước
2.1.1 Tình hình sản xuất bắp trên thế giới
Bắp là một cây trồng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, hàng năm trên toàn thế
giới sản xuất vào khoảng 696,2 – 723,3 triệu tấn (năm 2005 – 2007). Trong đó nước Mỹ sản
xuất được 40,62% tổng sản lượng bắp. Sản lượng hạt bắp xuất khẩu trên thế giới trung bình
hằng năm 82,6 – 86,7 triệu tấn. Trong đó nước Mỹ xuất khẩu 64,41 % tổng sản lượng bắp
xuất khẩu. (Nguồn sở khoa học và công nghệ tỉnh An Giang, 2007).
Bảng 2.1:Tình hình sản xuất bắp ở một số nước sản xuất lớn và thế giới năm 2005
131145000
Braxin
11468600
3,03
34859600
Mêhico
800000
2,56
2050000
Quốc gia
(Trích dẫn bởi Trần Thị Dạ Thảo, 2006)
Hiện nay xu hướng phát triển cây bắp trên thế giới có nhiều thay đổi đáng chú ý. Nếu
như trước kia sản lượng bắp của thế giới chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ mà đặc biệt
ở Hoa Kỳ thì hiện nay xu hướng này chuyển sang các nước châu Á mà đặc biệt là Trung
Quốc .
2.1.2 Tình hình sản xuất bắp trong nước
Trước đây bắp do chưa được chú trọng đúng mức nên chưa phát huy hết tiềm năng của
nó, nhưng trong những năm gần đây nhờ có chính sách khuyến khích và áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất bắp, đã có những bước tiến về năng suất, sản lượng
2001
729,50
2,67
2161,70
2002
816,00
2,81
2511,20
2003
912,70
2,97
3136,30
2004
991,10
3,23
trọng của cây.
4
Cùng với đạm, lân là yếu tố của sự sinh trưởng và phát triển đối với cây vì cây được
cung cấp đủ lân sẽ sinh trưởng và phát triển nhanh hơn, tốt hơn, chín sớm, rút ngắn thời gian
sinh trưởng một cách hiệu quả. Ngoài ra, khi cây được cung cấp đủ lân còn có tác dụng hạn
chế tác dụng hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm và tăng khả năng hút đạm cho cây nên
làm cho cây sinh trưởng phát triển và chống lốp đổ tốt hơn.
Lân có dụng thúc đẩy việc việc ra hoa và hình thành quả ở cây, làm cây mau chín, tăng
tỷ lệ năng suất thương phẩm (hạt) so với năng suất không thương phẩm (rơm rạ) ở cây trồng
, tăng phẩm chất nông sản. Lân là yếu tố quyết định phẩm chất hạt giống, làm cho hạt giống
có tỷ lệ nảy mầm cao, hạt đầy đặn, màu sắc đẹp, hấp dẫn. Lân còn có tác dụng giúp cây
tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận: chịu rét, chịu hạn và khả năng chống chịu
sâu bệnh hại cây trồng (Trích Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội, 2005).
2.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng lân của cây bắp
Cây hút lân chủ yếu dưới dạng khoáng của photphat hoá trị I (H2PO-4) và photphat hoá
trị II (H2PO2-4). Trong đó photphat hoá trị I hoà tan trong nước nên cây sử dụng rất thuận lợi
còn photphat hoá trị II không hòa tan trong nước nhưng hoà tan trong axit yếu nên cây cũng
sử dụng được khá thuận lợi. hai dạng lân này đều dễ tiêu nhưng chúng lại có rất ít trong đất.
Bộ rễ cây và các vi sinh vật sống trong đất, trong quá trình hoạt động tiết ra axit
cacbonic (H2CO3) và các axit hữu cơ tạo ra khả năng hút photphat hoá trị II thuận lợi, đồng
thời còn hoà tan một phần Ca3(PO4)2 vốn rất khó hấp thu đối với cây và trao đổi với H2PO-4
hấp thu trên mặt keo đất để sử dụng. Ngoài các dạng dinh dưỡng lân trên, cây có thể hấp thu
một số hợp chấ lân hữu cơ đơn giản, nhưng ít chậm hơn nhiều (Sở giáo dục và đào tạo Hà
Nội, 2005)
Cây bắp cần lân trong khoảng thời gian 50 ngày đầu là 30 %. Giai đoạn tạo hạt bắp cần
khoảng 65 %. Giai đoạn chín cần khoảng 5 % so với tổng những cầu lân của cả thời kỳ sinh
trưởng. Bắp cần lân nhất ở thời kỳ 6 – 12 lá và trước trổ cờ đến phun râu thụ tinh (Trích
Trần Dạ Thảo, 2006).
Supe lân đơn chứa lân ở dạng H2PO4- hoà tan trong nước, rất dễ được cây sử dụng.
Phân có độ chua hoá học nhưng cũng chứa một lượng khá lớn CaO có tác dụng khử chua,
có mùi hắc, hơi ẩm, màu xám xanh, dạng bột hay viên.
2.2.4.3 Phân lân nung chảy
Đây là loại phân được chế biến ở nhiệt độ cao nên có tên gọi là phân lân nung chảy hay
photphat. Phân có công thức rất phức tạp, trong thành phần của phân chứa: 15 – 20 % P2O5,
24- 30 %CaO, 18 – 20 % MgO, 28 – 30 % SiO2, 4,5 – 8 % R2O3 và một số nguyên tố vi
lượng.
6
Phân có phản ứng kiềm pH = 8 – 10, dạng bột (kích thước khoảng 0,175 mm), kho,
không hút ẩm, màu xám đen, óng ánh như thuỷ tinh, bảo quản dễ, chứa lân dưới dạng tương
tự H2PO42- tan trong axit yếu (Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội, 2005).
2.2.5 Nghiên cứu về phân bón cho cây bắp
Kết quả nghiêu cứu của viện lân kali-Atlanta (Mỹ) về sự hấp thu các chất dinh dưỡng
của cây bắp
Bảng 2.3: Hàm lượng chất dinh dưỡng cây bắp lấy từ đất (kg/ha)
N
P2O5
K2O
Mg
S
Chất khô
Hạt (tấn)
190
269
56
34
18730
(Trích Trần Thị Dạ Thảo, 2006)
Theo Ustimenko và Bakumovsky (1983), để tạo ra năng suất 5 – 6 tấn hạt hay năng
suất chất xanh là 50 – 60 tấn, cây hút khoảng 150 – 180 kg N, 60 – 70 kg P2O5 và 160 – 190
kg K2O. Để tạo nên 100 kg hạt và lượng sinh khối tương ứng, bắp tiêu thụ 2,4 kg N,2,2 kg
P2O5, 3 kg K2O (Trích Trần Dạ Thảo, 2006).
Theo Trung tâm Khảo nghiệm giống cây trồng quốc gia (2002), bình thường để đạt
năng suất ngô ngắn ngày từ 4 – 4,5 tấn/ha và ngô chín trung bình và chín muộn từ 5- 6
tấn/ha cần bón như bảng 2.4.
2.3 Tổng quát về nấm cộng sinh Mycorrhiza
2.3.1 Khái niệm nấm rễ cộng sinh
Nấm rễ là một thuật ngữ được Frank sử dụng lần đầu tiên vào năm 1885 khi phát hiện mối
quan hệ giữa sợi nấm và rễ cây trên thông và một số cây lá rộng, được lấy tên từ chử Hy
Lạp “Mykes” và “Rhiza”. Sau đó ghép từ tiếng Anh “Myco” vào mà thành Mycorrhiza,
nghĩa là nấm rễ. Về sau nấm của rễ nấm gọi tắt là nấm rễ, rễ có nấm cộng sinh gọi là rễ nấm
(Trần Văn Mão, 2004).
Bảng 2.4: Lượng phân bón cho ngô
Loai
đất
Nhóm đất
Sông Hồng
-
335
300
120
Đất
phù
sa
Đất
nhẹ
Đất
đỏ
vàng
đồi
núi
hàng năm
Các sông
khác được
bồi hàng năm
Các hệ
thống sông
khác không
được bồi
hàng năm
265
300
120
5 - 10
335
300
120
8 - 10
265
300
180
8 - 10
335
450
180
120
2.3.2 Các loại rễ nấm
Người ta chia rễ nấm làm 3 loại: ngoại sinh, nội sinh, và nội ngoại cộng sinh.
Rễ nấm ngoại cộng sinh (Ectomycorrhiza hoặc Ectotrophic mycorrhiza): là sợi nấm
bao quanh rễ dinh dưỡng chưa hoá gỗ, không xuyên qua mô tế bào mà chỉ kéo dài giữa các
vách tế bào. Đặc trưng cơ bản của chúng là: (1) Trên bề mặt rễ dinh dưỡng hình thành một
màng nấm (mantle) do các sợi đan chéo nhau; (2) Giữa các tế bào tầng vỏ rễ hình thành một
mạng lưới do thể nấm sinh trưởng mà thành và được gọi là lưới Hartig (hartig net); (3) do
tác động của nấm rễ, bộ rễ ngắn, to, giòn và có màu sắc khác nhau, tán rễ và biểu không có
lông hút, bề mặt màng có nhiều sợi nấm kéo dài ra. Rễ nấm ngoại cộng sinh nói chung
không có màu sắc và hình dạng nhất định rất dễ nhận biết bằng mắt thường. tính đa dạng thể
hiện trên loài cây chủ và nấm rễ khác nhau.
Rễ nấm nội cộng sinh (Endomycorrhiza): thể sợi nấm xuyên qua tế bào và rễ cây chủ,
không biến đổi hình thái, bề mặt rễ không hình thành màng nấm chỉ có sợi lưa thưa, lông
hút vẫn giữ nguyên, tuy nhiên thể sợi nấm vẫn kéo dài giữa gian bào, nhưng không hình
thành mạng lưới Hartig. Sợi nấm xuyên qua vách tế bào vào trong hình thành vòi hút.
Những loại này rất khó nhận biết bằng mắt thường.
Căn cứ vào kết cấu sợi nấm có vách ngăn và vòi hút, người ta chia làm 2 loại: không vách
ngăn (Aseptateendotrophic mycorrhiza) và có vách ngăn (Septateendotrophic mycorrhiza).
8
Loại không có vách ngăn thường có dạng túi bóng (Vesicular) và dạng chùm (Arbuscular),
gọi là rễ nấm dạng túi chùm (Vesicular-Arbuscular mycorrhiza) gọi tắt là VA hay VAM.
Rễ nấm nội ngoại cộng sinh (Ectoendo mycorrhiza): có dạng đặc trưng của cả hai loài
trên. Chúng thường có rễ các cây thông, cáng lò, đỗ quyên quả mọng và cây thuộc họ lan
thủy tinh (Trần Văn Mão, 2004).
2.3.3. Sự hình thành nấm rễ VA
do quang hợp của cây chủ yếu là tập trung vào giọt dầu, vách tế bào và trong protein, acid
hữu cơ và acid amin của tế bào nấm rễ.
2.3.5.2 Dinh dưỡng P
VA có thể hút P trực tiếp từ đất, sau khi chuyển hoá cung cấp cho cây. Mặc dù các
quan điểm lợi dụng P khó tan trong đất vẫn chưa đồng nhất, nhưng cây có rễ hút P ở những
khu vực mà rễ không hút được là không thể không thừa nhận. Hoạt tính của enzym
phosphoesteraza tăng cao rõ rệt (Allen,1981), thể sợi nấm cũng chứa phosphoesteraza đều
lấy chất hữu cơ từ đất. Tốc độ hút P của sợi nấm hơn lông hút của rễ 6 lần (Sander, 1923)
(Trần Văn Mão, 2004).
2.3.6. Tác dụng có ích của rễ nấm đối với cây trồng
2.3.6.1 Mở rộng diện tích hấp thu của rễ cây
Sợi nấm cộng sinh là cơ quan hấp thu chủ yếu của rễ nấm, đặc biệt là khu thiếu P. Sợi
nấm ngoại cộng sinh có thể kéo dài ra xung quanh rễ làm tăng tốc độ hút P lên 6 lần. Tuổi
thọ của sợi nấm trong đất cũng vựơt xa số lượng lông hút của rễ cây.
2.3.6.2 Tăng hấp thu P và dinh dưỡng của cây chủ
Trong đất đều có lượng P nhất định, những gốc phosphorat khó di động, kết hợp với
Fe, Na, Al cố định trong đất mà thành phần các P không tan, cây không hấp thu chúng. Số P
đó có đến 1/2 - 1/3 thậm chí đến 95- 99 %, chỉ có một lượng rất ít P hoà tan quanh rễ và
xuất hiện tượng thiếu P giả. Nấm rễ ngoại cộng sinh làm nhiệm vụ sản sinh enzym
phosporaza chuyển P không tan thành P hoà tan, cung cấp cho cây trồng. hoạt tính của
enzym tăng gấp mấy lần so với cây không có rễ nấm. Ngoài ra, nấm rễ ngoại cộng sinh có
thể sản xuất muối oxalat kết hợp với Fe, Al, muối P không tan trong đất, từ đó làm tăng khả
năng hút P của rễ cây.
2.3.6.3 Sự hình thành chất kích thích sinh trưởng của nấm rễ
Trong quá trình cộng sinh với rễ cây nấm hình thành nhiều chất kích thích sinh trưởng
như chất sinh trưởng tế bào (auxin), chất phân chia tế bào (cytodinin) chất mốc đỏ
10
Hải, trên 3 loài cây trồng: lúa mì, ớt và bắp với 5 loại phân bón: không bón, phân vô cơ
11
(160-26-83kg N-P-Kha-1), phân trộn 25 tấn/ha, phân chuồng 25 Tấn/ha và chủng nấm
Mycorrhiza + 10 tấn phân trộn/ha. Kết quả cho thấy chủng nấm Mycorrhiza và phân trộn cải
thiện tính chất vật lý đất tốt hơn phân vô cơ.
Tóm lại, phân lân là chất dinh dưỡng không thể thiếu quá trình sống của cây bắp, bón
lân thích và cân đối với đạm và kali sẽ giúp bắp sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất
cao. Bên cạnh đó các vi sinh vật trong đất, trong đó có nấm cộng sinh Mycorrhiza giúp cây
chống chịu các điều kiện bất thuận của môi trường, hấp thu dinh dưỡng dễ dàng hơn nhất là
lân.
12
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
3.1.1 Thời gian
Đề tài đã được tiến hành từ ngày 9/4 đến 15/9/2007
3.1.2 Địa điểm
Phòng thí nghiệm nông hóa thổ nhưỡng khoa nông học
Phòng thực tập của bộ môn cây lương thực, rau quả
Nhà lưới của trại thí nghiệm khoa nông học
3.2 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm
3.2.1 Vật liệu
Bắp LVN10 được khử trùng bề mặt hạt bằng hypoclorat natri 0,1 %
Đất nền được tiệt trùng ở nhiệt độ 121oC trong 30 phút có thành phần cơ giới:
+ Cát: 81,25 %
N1 P1
N1 P2
N1 P3
N2 P0
N2 P1
N2 P2
N2 P3
N2P2
N2 P3
N2 P0
N2 P1
N1 P2
N1 P3
N1 P0
N1 P1
N1 P2
LLLI
LLL II
LLL III
LLL IV
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
3.2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.2.3.1 Trong nhà lưới:
Theo phương pháp của viện nghiên cứu ngô quốc gia, theo dõi toàn bộ các cây/nghiệm thức
với 4 lần lặp lại.
14