A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong những thập niên gần đây với tốc độ phát triển kinh tế thể giới, nhất là các
nước đang phát triển trong đó có Việt nam chúng ta nền kinh tế phát triển nhanh
chóng. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển
giúp người lao động ứng dụng máy móc, các khu công nghiệp,cụm công nghiệp, trung
tâm công nghiệp ra đời, thúc đẩy ngành nông nghiệp, dịch vụ phát triển nhanh. Tăng
năng suất lao động rất nhiều góp phần nâng cao và cải thiện đời sống nhân dân. Kinh
tế càng tăng trưởng nhanh, xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, nhu cầu sinh hoạt của
con người đa dạng phong phú dẫn đến chất thải ngày càng nhiều.
Nhưng bên cạnh những kết quả thu được tăng tỷ trọng GDP cũng không ít tác
hại lớn do mặt trái của nó tạo nên như : ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí, ô
nhiễm nguồn nước… làm biến đổi khí hậu toàn cầu. Do chất thải sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp. sinh hoạt con người tạo nên…gây nhiều hậu quả xấu đối với môi
trường sống con người , xuất hiện nhiều căn bệnh hiểm nghèo để lại hậu quả lớn cho
loài người gánh chịu. Những chất thải trên nó còn làm mất vẽ đẹp vốn có của đất nước
ta nói chung và môi trường sống và trường học của chúng ta nói riêng .
Đứng trước tình trạng môi trường hiện nay bị ô nhiễm nghiêm trọng vấn đề đặt ra
bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, nhất là các em học sinh đang ở trong
mái trường được giáo dục. Đảng và Nhà Nước ta quan tâm rất nhiều, đối với các em
học sinh thì ngành giáo dục chúng ta cũng phải có biện pháp để giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho các em như : Tuyên truyền dưới hình thức tập thể về bảo vệ môi
trường, tổ chức phong trào làm cho mái trường, gia đình, địa phương và thế giới được
xanh- sạch- đẹp hơn cho các em lao động thường xuyên…. ở một số môn học cũng
được lồng ghép chủ đề môi trường vào giảng dạy, cũng góp phần nào làm cho môi
trường của chúng ta sạch hơn, đẹp hơn.
Mục tiêu đào tạo con người trong giai đoạn mới ở nước ta là phát triển con người
toàn diện . Chính vì thế nhà trường cần làm tốt việc giáo dục bảo vệ môi trường, vì lực
1
vấn đề môi trường, nhận thức trách nhiệm của mình đối với thế giới môi trường tự
nhiên và hiểu biết về nó đúng và chính xác. Hướng dẫn kỹ năng lí luận và thực tiễn
mang tính cấp bách, cơ bản trong chương trình địa lý bậc THPT nói chung và địa lý
lớp 10 nói riêng. Trên cơ sở đó các em tạo ra phương pháp tự học, tự nghiên cứu, giúp
các em biết vận dụng kỹ năng kiến thức địa lý vào từng tiết học và thực tiễn cuộc sống
để cùng nhau giải quyết vấn đề môi trường.
2.Yêu cầu của đề tài:
- Trang bị cho học sinh những kỹ năng lí luận và thực tiễn mang tính cơ bản trong
chương trình địa lý nói chung và địa lý lớp 10. liên quan đến các biện pháp hướng dẫn
giải quyết kỹ năng nhận thức môi trường cơ bản trong chương trình địa lý lớp 10.
- Để đạt được mục đích và kết quả cao trong việc học tập giáo dục môi trường qua
bộ môn, thì mỗi thầy giáo, cô giáo cần phải nghiên cứu những nội dung để liên hệ nhất
định và phù hợp để hướng dẫn học sinh nhận biết những kỹ năng cơ bản nào về mỗi
một vấn đề môi trường thì chất lượng giáo dục bộ môn có hiệu quả cao hơn.
- Thực trạng phương pháp dạy học, hướng dẫn học sinh xác định và nhận thức về
kiến thức môi trường trong các bài học địa lý lớp 10, yêu cầu trình độ học sinh biết,
hiểu, khai thác các thông tin kiến thức địa lý và mối quan hệ của nó để liên hệ quan sát
thực tiễn cuộc sống.
3.Phạm vi và đối tượng của đề tài:
Với đề tài này, bản thân tôi không tham vọng gì hơn chỉ trình bày một số phương
pháp nhằm hướng dẫn các em biết cách khai thác kênh chữ kết hợp các kênh hình, các
phương tiện dạy học .... nhằm truyền đạt kiến thức địa lý tốt nhất qua đó để giáo dục
các em nhận thức, cùng nhau bảo vệ môi trường. Được như vậy kết quả tập học địa lý
tích cực nhất để lĩnh hội kiến thức nhanh chống, làm nền cho việc học địa lý lớp 10 ở
trường THPT Quang Trung .Trên cơ sở đó tạo ra giải pháp, kiến nghị hợp lý nhằm
nâng cao hiệu quả nhận thức, học tập hướng giải quyết vấn đề môi trường ở chương
trình địa lý lớp 11, 12 bậc THPT, và định hướng lâu dài cho học sinh sau này.
3
đến cuộc sống của con người trong hiện tại và cả tương lai.
Bảo vệ môi trường là một việc làm thiết thực góp phần bảo vệ đất nước mình,
bảo vệ trái đất và xem đây là nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục. Ngày
15/11/2004 Bộ chính trị đã ra nghị quyết 41/NQ/ TƯ về bảo vệ môi trường trong thời
kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết đã xác định: “Bảo vệ
môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là yếu tố bảo đảm sức
khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển
kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc
tế của nước ta”.
Một trong những giải pháp đầu tiên của ngành giáo dục đó là: Thường xuyên
giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, bảo vệ môi trường. Việc giáo dục môi
trường ở nhà trường phổ thông là một quá trình nhận thức giúp các em hiểu biết về
thiên nhiên và môi trường, từ đó giáo dục cho các em ý thức quan tâm thường xuyên...
Giáo dục môi trường là quá trình giáo dục nhằm giúp cho mỗi học sinh có nhận
thức về môi trường thông qua kiến thức về môi trường từ: Khái niệm, hình ảnh, mối
liên hệ, quy luật... tạo cho học sinh ý thức và thái độ đối với môi trường mình đang
5
học và sinh sống, trang bị các kĩ năng liên hệ, thực hành.... Qua đó học sinh có ý thức
trách nhiệm với môi trường và biết hành động đúng để bảo vệ môi trường.
- Tích hợp là sự kết hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào trong nội dung
kiến thức bộ môn địa lý thành một nội dung thống nhất với nhau, nhưng không biến
bài học địa lí thành bài giáo dục môi trường.
- Khai thác nội dung giáo dục môi trường có chọn lọc, có tính tích hợp vào những
kiến thức, trong từng bài, tường chương, mục nhất định... có nội dung liên quan, cho
phù hợp với nội dung, kiến thức bài học . Để tận dụng tối đa mọi khả năng của học
sinh để tìm hiểu vấn đề môi trường. Trong khi dạy tích hợp các nội dung giáo dục bảo
vệ môi trường có thể các mức độ tích hợp khác nhau, Giáo viên phải dựa vào kiến
thức bài học, giáo viên có thể bổ sung, liên hệ và giáo dục học sinh.
Với một trường ở huyện thì học sinh trường THPT Quang Trung đa số học sinh
tiếp cận với nội dung, kiến thức, chương trình SGK lớp 10 còn khó khăn, phương
pháp học tập mới còn hạn chế, quá trình tiếp thu của học sinh chưa đồng đều, chưa
linh hoạt trong quá trình hoạt động, việc tiếp cận với các phương tiện dạy học mới và
thiết bị dạy học mới đối với một số học sinh còn hạn chế, kết quả học tập của các em
chưa cao so với các trường trung tâm . Bên cạnh đó một số học sinh nhận thức việc
học tập chưa đúng, chưa chịu khó tìm tòi, học tập một cách thụ động, suy nghĩ để giải
quyết vấn đề trong bài học còn khó khăn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của
tiết dạy học, đến các em có chí ham học trong lớp.
d.Về phía giáo viên:
Qua nội dung từng phần, từng chương, bài học có một số nội dung riêng, nên
phương pháp dạy học đối với từng bộ phận đó củng khác nhau, đòi hỏi người giáo
viên phải nghiên cứu phương pháp dạy học phù hợp với yêu cầu riêng của từng nội
dung, thầy và trò phải cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học. Trong thực tế việc khai
thác các kiến thức có liên quan vấn đề môi trường ở SGK địa lý lớp 10 còn mang tính
chất lồng ghép cho nên một số giáo viên không chú trọng đầu tư nghiên cứu để dạy
7
học theo yêu cầu mới của chương trình. Ngược lại một số giáo viên sử dụng đổi mới
nhiều phương pháp, ôm đồm kiến thức địa lý để lồng ghép giáo dục môi trường thì tạo
nên tiết dạy học căng thẳng không có hiệu quả cao.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
1. Thực trạng của nhà trường
Cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học nhà trường không đảm bảo, đáp ứng cho
việc dạy và học tốt theo yêu cầu đổi mới, đòi hỏi Ban giám hiệu Nhà trường cần có kế
hoạch đầu tư lâu dài cho phương tiện, thiết bị cho vấn đề dạy học, mua sắm máy
chiếu, các bản đồ, tranh ảnh, phương tiện khác… .coi đây là vấn đề vừa cấp thiết vừa
lâu dài. Có như vậy các hoạt động hỗ trợ khác cho việc dạy học hiệu quả cao, kích
thích giáo viên đầu tư cho việc dạy học.
hình thức, phong trào, nên học sinh chưa có ý thức bảo vệ môi trường và chưa thấy
được tác hại của những chất thải độc hại vào môi trường.
-Hiện tại sân trường còn rất nhiều rác bọc nilon, giấy, lá cây, cả vật thể rắn ……
và những chai nhựa chưa được xử lý. Do ý thức bảo vệ môi trường các em chưa tốt,
xem đây là chuyện của người khác tuy nhà trường đã có nơi đổ rác hợp lý, cho các em
lao động nhưng chưa đạt kết quả tốt về môi trường .
2. Thực trạng tại địa phương các em sinh sống
a.Thuận lợi :
-Chính quyền địa phương cũng thường xuyên tổ chức nhiều buổi tuyên truyền,
mít tinh về môi trường, dân số, an toàn giao thông ....
-Có một số thôn xóm, gia đình có sử dụng thùng đựng rác sinh hoạt. Một số gia
đình có ý thức giữ gìn vệ sinh chung .
- Hàng năm các tổ chức đoàn thể địa phương cùng học sinh có tổ chức lao động
làm sạch môi trường để xây dựng ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường chung cho địa
phương.
b. Khó khăn:
- Qua thực tế cuộc sống ở địa phương bản thân tôi có kết luận chung đại đa số gia
đình các em học sinh đều không có sọt rác gia đình, xung quanh nơi các em sinh sống
không có nhiều hố rác. Tất cả rác sinh hoạt hằng ngày đều vứt bỏ trên mặt đất, chính
9
những việc làm như thế sẽ làm cho môi trường ô nhiễm, gây ra cho nguồn nước ô
nhiễm và gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm cho người dân địa phương.
- Bên cạnh những thuận lợi thì còn tồn tại vấn đề ý thức của một số bộ phận
người dân chưa cao , với tư tưởng ích kỹ, hẹp hòi như thế sẽ làm cho môi trường thêm
ô nhiễm nặng hơn .
- Nhiều gia đình các em có cách sinh hoạt và vứt rác bừa bãi, có ý thức bảo vệ
môi trường chưa được tốt, đều tác dụng giáo dục không tốt ảnh hưởng bảo vệ môi
trường. Cần phải có sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục
thiếc, biết tổ chức hướng dẫn sử dụng các phương tiện dạy học địa lí như máy chiếu
các biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh địa lí, băng hình...,. Biết cách khai thác kiến thức môi
trường từ các phương tiện dạy học.
Các phương tiện dạy học địa lí là nguồn cung cấp kiến thức quan trọng đồng thời
là phương tiện minh họa sống cho các đối tượng vấn đề môi trường. Kết hợp các
phương tiện trên cùng sự hướng dẫn của giáo viên các em nhận thức bài học và vấn đề
môi trường dễ dàng nắm vững các yêu cầu khai thác kiến thức của bài học.
Qua đó các em biết kết hợp với các kiến thức địa lí đã tích lũy mối quan hệ với
môi trường địa lí. Làm nền tảng cho việc làm bài tập, nghiên cứu bài mới trước khi
đến lớp. Là hành trang cho học sinh thực hiện đủ các yêu cầu vấn đề môi trường ở
trường học, địa phương và cả tương lai sau này.
4. Đối với giáo viên:
a. Mặt tồn tại:
- Không ít giáo viên trong tiết dạy chỉ quan tâm đến làm sao truyền thụ được kiến
thức nội dung chính của bài, còn việc lồng ghép giáo dục môi trường còn xem nhẹ,
hoặc khai thác còn hạn chế vì mất nhiều thời gian của tiết dạy, mất thời gian nghiên
cứu.
- Khi lên lớp một số giáo viên chỉ tập trung truyền đạt giáo dục môi trường qua
kênh chữ còn xem nhẹ kênh hình, các phương tiện dạy học khác. Vì trình độ hiểu biết
vấn đề môi trường của học sinh ở cấp học dưới còn hạn chế, cho nên đầu tư hướng
dẫn cho học sinh khai thác tìm kiến thức để giáo dục môi trường mất nhiều thời gian.
b. Những kinh nghiệm để dạy tốt tiết học có nội dung tích hợp môi trường
11
- Người GV cần xác định nội dung kiến thức bài học của tiết dạy hôm nay, người
thầy phải nắm tất cả các khâu, từ khâu nghiên cứu chuẩn bị bài, soạn bài, đặc hệ thống
câu hỏi của giáo viên, tiến hành các bước dạy học ở trên lớp đến việc đánh giá kết quả
học tập của học sinh từ đầu đến hết tiết dạy.
- Căn cứ vào nội dung của bài học có kiến thức lồng ghép giáo dục môi trường,
chiếu, tranh ảnh có liên quan... để giúp học sinh chủ động trong việc tim kiến thức về
môi trường, đây chính là trọng tâm vấn đề.
- Xác định chính xác các nội dung cần lồng ghép có trong từng bài, từng phần.
- Chọn phương pháp, câu hỏi phù hợp với nội dung với yêu cầu lồng ghép.
- Sử dụng các thiết bị phương tiện nào phù hợp tối ưu nhất, có hiệu quả nhất.
- Chọn từng trình độ đối tượng của học sinh phù hợp yêu cầu cần truyền đạt để tiết
kiệm được thời gian tối ưu nhất.
2. Các yêu cầu lồng ghép giáo dục môi trường môn Địa lí lớp 10 THPT
Trong những bài học có nội dung lồng ghép giáo dục môi trường đòi hỏi giáo
viên biết phân bố thời gian truyền thu kiến thức địa lý ngắn gọn dễ hiểu, mà còn
hướng dẫn học sinh kỹ năng tìm hiểu vấn đề môi trường đó là phần yêu cầu của nội
dung tiết dạy học.
Đa số giáo viên nhận thức đúng về một bài học có nội dung lồng ghép giáo dục
môi trường, đòi hỏi việc chuẩn bị chu đáo về giáo án, các yêu cầu, xác định mục đích
của bài thể hiện qua đối tượng địa lí để liên hệ vấn đề môi trường. Đây là một phần
kiến thức ở trong bài mà còn củng cố liên hệ thực tế giáo dục môi trường.
Đánh giá việc nắm kiến thức liên hệ vấn đề môi trường của học sinh qua tiết học
có hiệu quả ở các mức độ khác nhau:
- Mức độ nhận biết là học sinh hiều vấn đề môi trường : Khái niệm, sự vật, hiện
tượng cụ thể .... nhờ phương pháp xác định đối tượng địa lý thể hiện.
- Mức độ hiểu, thông qua các đối tượng địa lý thể hiện trong nội dung SGK, phần
liên hệ của giáo viên, các em vận dụng kiến thức đã học để xác định nội dung vấn đề
13
môi trường thể hiện, qua đó nhận xét, giải thích, phân tích, các mối quan hệ giữa kiến
thức địa lý với các vấn đề môi trường thể hiện trong nội dung bài học.
- Giáo viên tạo điều kiện cho các em chủ động hơn để phát triển các kỷ năng nhận
xét và phân tích các hình, kênh chữ, hình ảnh qua máy chiếu.... Học sinh biết kết hợp
vốn hiểu biết đã học để tìm ra những kiến thức chứa đựng trong mỗi một vấn đề môi
Bài 15. * Thủy quyển.
- GV: Giải thích vì sao địa thế, thực vật và hồ đầm lại ảnh hưởng đến sự điều hoà
của chế độ nước sông. nước ngầm ảnh hưởng đến chế độ nước sông.
*Phần giáo dục môi trường:
- GV: hỏi thêm các câu hỏi:
- Tại sao cần phải bảo vệ rừng đầu nguồn?
- Hiện nay vẫn còn tình trạng đôt rừng làm rẫy, lối sống du canh du cư…Việt
Nam còn diễn ra không?
- Diện tích rừng giảm, độ che phủ của rừng gần 30%
- GV: chuẩn kiến thức.
Bài 18. * Sinh quyển.
Mục II. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố của sinh vật.
- Thức ăn quyết định đến sự phát triển và phân bố của động vật.
- Mối quan hệ giữa thực vật và động vật có chặt chẽ không, vì sao?
GV: chuẩn kiến thức. thực vật là nơi cư trú của động vật, thực vật còn là thức ăn
của động vật.
GV: Con người vai trò tác động đến sự phát triển và phân bố của sinh vật không?
GV: chuẩn kiến thức
- Ảnh hưởng lớn đến phân bố sinh vật
- Mở rộng hay thu hẹp phạm vi phân bố của sinh vật
- Ví dụ: Việt Nam diện tích rừng bị suy giảm như thế náo?
*Phần giáo dục môi trường:
- Việc tác động của con người có ảnh hưởng lớn tới sự phân bố sinh vật. Bên cạnh
những tác động tích cực, con người đã và đang làm thu hẹp diện tích rừng tự nhiên,
15
thay vào đó vườn cây ăn quả.....làm mất nơi sinh sống nhiều loài động, thực vật
hoang dã và chúng đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
- Đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài động, thực vật hoang dã, con người ,
dân số không hợp lí của các nước đang phát triển có ảnh hưởng rất lớn tới tài nguyên
môi trường.
- Cho học sinh xem đoạn video ngắn về “ Dòng kênh đen, bãi rác giữa đô thị lớn
của nước ta.
*Phần giáo dục môi trường:
- Học sinh phân tích mối quan hệ giữa dân số với phát triển kinh tế và môi trường
tự nhiên, tạo nên sự phat triển bền vững.
- Thái độ các em nhận thức đúng đắn về sự gia tăng dân số ảnh hưởng lớn đến môi
trường sống, qua đó học sinh tích cực ủng hộ, các cuộc vận động, tuyên truyền mọi
người thực hiện các biện pháp về môi trường và chính sách dân số của quốc gia.
Ví dụ: Để giảm sức ép của dân số đến tài nguyên, môi trường đặc biệt ở các nước
nghèo như Việt nam chúng ta cần có những giải pháp gì hiệu quả nhất?
- Học sinh tư duy trả lời và tìm ra một số biện pháp cụ thể dân số, tài nguyên, môi
trường.
Bài 24: * Phân bố dân cư. Đô thị hoá
Mục III : Đô thị hóa- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội và
môi trường.
- Giáo viên Cho HS quan sát hình ảnh
17
.
GV hỏi: Qua hình ảnh trên hãy nêu ảnh hưởng của đô thị hoá đến môi trường?
- Kỹ năng phân tích ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội và môi
trường. Trong tình trạng môi trường bị ô nhiễm, nhất ở các nước đang phát triển, trong
đó có Việt nam.
- HS: Trả lời...
*Phần giáo dục môi trường:
- Qua quan sát hình ảnh để thấy được ô nhiễm tiếng ồn, khói bụi từ phương tiện
Chương VIII: ĐỊA LÍ CÔNG NGHIỆP
Bài 32. * Địa lí các ngành công nghiệp
Các mục: Các ngành công nghiệp.
- Một số tài nguyên phục vụ ngành công nghiệp trước nguy cơ cạn kiệt.
- Khai thác tài nguyên trên ảnh hưởng đến môi trường. Gây nguy cơ ô nhiễm cao.
19
GV: cho HS xem một số hình ảnh các nhà máy sản xuất công nghiệp, hoặc cho HS
xem đoạn video ngắn khí nước thải từ hoạt động công nghiệp.
- HS: Thấy được rõ ràng hoạt động công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường rất cao. Do các chất thải khí, rắn, nước…
*Phần giáo dục môi trường:
- GV: Hậu quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến các sinh vật sống dưới nước mà
còn ảnh hưởng không nhỏ đến tính mạng của con người. Ô nhiễm nước, ô nhiễm
không khí là nguyên nhân gây ra các chất hóa học và kim loại nặng nhiễm trong thức
ăn, nước uống có thể gây ung thư, tăng lên hàng năm.
g.
Giải pháp 6
Chương IX : ĐỊA LÍ DỊCH VỤ
Bài 35 : * VAI TRÒ, NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG PHÂN BỐ NGÀNH DỊCH VỤ
- Góp phần khai thác hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa lịch sử.
- Các trung tâm dịch vụ, giao dịch, thương mại thường phân bố ở các thành phố lớn.
*Phần giáo dục môi trường:
- Phân tích quả trình khai thác các tài nguyên thiên thiên, di sản văn hóa và lịch sử,
*Phần giáo dục môi trường
- Nhận biết những mâu thuẫn, những hạn chế mà ở các nước đang phát triển gặp
nhiều khó khăn trong vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và sự phát triển
kinh tế xã hội.
- Qua nội dung trên giáo viên đặt ra vấn đề, để học sinh thấy được mối quan hệ môi
trường, đó điều kiện để tồn tại phát triển xã hội loài người. Từ đó mỗi một học sinh,
một thành viên trong xã hội đều có thể góp một phần nào đó nhằm để giải quyết mối
quan hệ giữa môi trường và sự phát triển kinh tế xã hội, tiến tới với mục tiêu phát triển
bền vững.
- Nhận biết ở các nước đang phát triển môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng hơn
các nước phát triển đều do trình độ chậm phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, sức ép
dân số, rừng bị phá hủy, tài nguyên khoáng sản mất mát nhiều....
21
- Xác định thái độ và hành vi bảo vệ môi trường, tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi
trường, góp phần nhỏ của mình để bảo vệ môi trường mình đang sinh sống. Giáo viên:
cho HS xem đoạn video ngắn, một số hình ảnh .....và đặt hệ thống câu hỏi như sau:
Câu hỏi: Em trình bày những nguyên nhân nào làm môi trường bị ô nhiễm, ở các
nước đang phát triển .
- Hình 41. Vấn đề khai than đá ở các nước đang phát triển sẽ đẫn đên tình trạng gì?
- Hình 42. Em tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả của bãi rác ở Ma- ni-la.
22
Câu hỏi: Tình trạng phá rừng đầu nguồn; Biến đổi khí hậu toàn cầu; Hậu quả của
biến đổi khí hậu và các thảm họa, thiên tai như thế nào? Nêu những giải pháp.
Câu hỏi: Em trình bày những nguyên nhân nào làm môi trường bị ô nhiễm, ở các
người giáo viên phải nghiên cứu, suy nghĩ, tìm ra những phương pháp dạy học phù
hợp với nội dung kiến thức có tính giáo dục môi trường, để đạt ra từng loại bài tập,
câu hỏi khác nhau, khai thác các phương tiện dạy hoc ngày càng nhiều, thì chắc chắn
chất lượng dạy hoc mang tính giáo dục môi trường của giáo viên nâng cao, phong trào
dạy học môi trường của giáo viên ngày càng có hiệu quả, chất lượng.
- Từ kết quả thực nghiệm qua mấy năm dạy học địa lý lớp 10 THPT, bản thân tôi
truyền đạt một số kinh nghiệm cho giáo viên trong tổ, trường để học hỏi, ứng dụng
trong giảng dạy và đã được một số kết quả nhất định. Chất lượng dạy học nhiều giáo
viên dạy khá giỏi tăng lên.
2. Đối với học sinh:
24
- Để dạy học, kiến thức có tính lồng ghép giáo dục môi trường qua địa lý lớp 10
THPT, thì người giáo viên phải khai thác nhiều phương tiện dạy học, làm cho tiết học
càng nhiều học sinh mạnh dạng xây dựng bài. Các em đã từng bước tạo được sự hứng
thú, khơi dậy lòng say mê học tập môn địa lý. Phát huy phương pháp tự học của người
học, tích cực chủ động lĩnh hội kiến thức, nắm được kiến thức tại lớp học, bỏ được
thói quen ghi nhớ máy móc, thụ động trong giờ học.
- Kết quả giờ học trở nên nhẹ nhàng, thỏa mái, học sinh nắm bài dễ dàng ở tại lớp,
nhờ việc trao đổi thảo luận với bạn trong nhóm, trong lớp, mạnh dạng đề xuất ý kiến
của mình cho tổ nhóm, thầy giáo. Biết sử dụng, phân bố thời gian hợp lý khi hoạt
động nhóm, tổ. Các câu hỏi khi giáo viên đưa ra để làm các em mạnh dạng trả lời .
- Qua tiết dạy lồng ghép thì kỹ năng khai thác, tư duy, vận dụng, hình thành hình
thành trực quan, hình thành kỹ năng tư duy, phân tích, tổng hợp của học sinh ngày
càng hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó học sinh hình thành kỹ năng mối liên hệ địa lý với
môi trường, qua đó các em tự nhận xét đánh giá và xác lập mối quan hệ các đối tượng
đia lý thể hiện giáo dục môi trường trong bài học.
3. Kết quả điều tra, thống kê qua nhiều năm học như sau:
Qua 4 năm ứng dụng kinh nghiệm dạy học với nội dung lồng ghép giáo dục môi
%
lượng
Trung binh
Yếu, kém
Số
Số
%
lượng
%
lượng
174
10
5,8
70
40,2
8,7
73
42,4
72
41,9
12
7,0
B3,B4
2011-2012
A1,A2
B7,B8
2012-2013
B1,B2,
25