THỰC TRẠNG CHỨC NĂNG HOẠCH ĐỊNH của các DOANH NGHIỆP vừa và NHỎ ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 47

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN


A. LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp vừa và
nhỏ nói riêng ngày càng quan trọng đối với quà trình phát triển của nền kinh tế
của nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.
Sau bao nhiêu năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đã có bước phát triển mạnh với số lượng tăng
nhanh góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm làm
cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn, từng bước nâng cao thu nhập, cải
thiện đời sống nhân dân. Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách tự do hoá,
cải cách kinh tế xã hội. Quá trình hội nhập đã có những tác động mạnh đến nền
kinh tế nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, nhờ đó tạo môi
trường kinh doanh thuận tiện giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên do xuất phát từ quy mô nhỏ, vốn và nguồn lao động hạn chế,
năng lực cạnh tranh thấp nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp nhiều khó
khăn trong việc hoạch định, vì vậy mà vẫn còn hàng ngàn doanh nghiệp rơi vào
tình trạng biến mất trên thị trường. Công tác hoạch định có một vị trí quan trọng
trong sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ trong ngắn hạn mà còn cả trong
dài hạn, vì vậy mà các doanh nghiệp cả doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa
và nhỏ đều cần chú trọng đến công tác hoạch định của doanh nghiệp. Thiếu tư
duy chiến lược, thiếu khả năng hoạch định thì hoạt động kinh doanh sẽ không
phát triển lâu bền. Việc nhận định công tác hoạch định của các doanh nghiệp,
đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay là rất cần thiết, giúp chúng ta
nắm bắt được thực trạng từ đó đưa ra những biện pháp kiến nghị để thực hiện tốt
công tác hoạch định.




Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phương pháp hoạch định chương trình,
kế hoạch của nhà quản trị văn phòng.

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I.

Khái quát về hoạch định
1. Khái niệm
Hoạch định là một quá trình ấn định những mục tiêu, xây dựng và chọn

lựa những biện pháp tốt nhất để thực hiện có hiệu quả những mục tiêu đó. Nói
cách khác, hoạch định là “quyết định xem phải làm cái gì, làm như thế nào, khi
nào làm và ai làm cái đó”.
Hoạch định có liên quan tới mục tiêu cần phải đạt được, cũng như phương
tiện để đạt được mục tiêu như thế nào. Nó bao gồm việc xác định rõ mục tiêu,
3


xây dựng một chiến lược tổng thể, nhất quán với mục tiêu đó,

và triển khai

một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động.
Muốn cho công tác hoạch định đạt được kết quả mong muốn thì nó phải
đáp ứng được các yêu cầu: Khoa học, khách quan, hệ thống, nhất quán, khả thi,
cụ thể, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn.
2. Tác dụng của hoạch định
Quá trình hoạch định có thể đem lại cho tổ chức những lợi ích sau:


Giai đoạn này nhà quản trị phải:

-

Quán triệt cho các quản trị viên hiểu rõ đường lối lãnh đạo cuả doanh nghiệp

-

một cách tổng quát.
Đề ra các mục tiêu lớn có thể phát triển lâu dài.
Phân tích sự khác biệt, lợi thế, khó khăn của nghành hoặc lĩnh vực đang hoạt

-

động với các ngành, lĩnh vực có liên quan.
Xây dựng chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên để thực hiện mục tiêu

-

của doanh nghiệp.
Giai đoạn 2: giai đoạn thiết lập chương trình
Nhà quản trị cần xác định ngành, lĩnh vực kinh doanh để làm tiền đề cho các nội

-

dung sau.
Thiết lập cấu trúc tổ chức phù hợp với ngành nghề kinh doanh.
Thiết lập kế hoạch cho từng bộ phận chức năng như: kế hoạch sản xuất, kế





Phân loại theo thời gian:
Hoạch định dài hạn: kế hoạch cho thời kỳ 5 năm trở lên.
Hoạch định trung hạn: kế hoạch cho thời kỳ từ 1 dến 5 năm.
Hoạch định ngắn hạn: kế hoạch cho thời kỳ dưới 1 năm.
Phân loại theo cấp độ hoạch định :
Hoạch định vĩ mô.
Hoạch định vi mô.
Phân loại theo mức độ hoạt động:
Hoạch định chiến lược: là loại hoạch định liên quan đến việc xác định mục tiêu
tổng thể và thiên về định tính. Đây là loại hoạch định có tính dài hạn và hướng



đến việc thực hiện sứ mạng của tổ chức.
Hoạch định chiến thuật: là loại hoạch định liên quan đến việc xác định mục tiêu
và các biện pháp của các đơn vị hoặc các bộ phận chức năng trong một tổ chức.
Loại hoạch định này gắn với cấp quản trị trung gian trong tổ chức và thường có



tính trung hạn.
Hoạch định tác nghiệp: là loại hoạch định loại hoạch định liên quan đến việc xác
định mục tiêu cụ thể, chi tiết thiên về định lượng. Loại hoạch định này gắn trực
tiếp với cấp thấp nhất, các tổ, đội hoặc các cá nhân trực tiếp chịu trách nhiệm



thực thi các nhiệm vụ cụ thể và có tính ngắn hạn.

Khả năng của mỗi tổ chức
Hoàn cảnh khách quan bên ngoài tổ chức
Đòi hỏi của các quy luật (kinh tế, chính trị, xã hội,…) khách quan



Phương pháp xác định mục tiêu: Có nhiều phương pháp xác định mục tiêu. Ở



đây cần phải giải quyết ít nhất hai vấn đề: ai xác định và xác định như thế nào?
Đối với hoạch định chiến lược thì mục tiêu thường được người lãnh đạo cao
nhất hay ban lãnh đạo cao nhất quyết định, còn hoạch định tác nghiệp thì mục



tiêu do chính lãnh đạo của mỗi bộ phận chịu trách nhiệm
Phương pháp xác định mục tiêu:
+ Phương pháp căn cứ vào nhiệm vụ được giao
+ Phương pháp tập thể thông qua quyết định mục tiêu
+ Phương pháp logic
+ Phương pháp kinh nghiệm



Quy trình xác định mục tiêu hoạch định: Có nhiều cách xác định mục tiêu nhưng
nhìn chung quy trình xác định mục tiêu trong công tác hoạch định thường tuân
theo các bước cơ bản sau:
+ Xác định nhiệm vụ chung
+ Nghiên cứu và thu thập thông tin




chính của tổ chức.
Mục tiêu chiến lược: chú trọng đến việc cải thiện vị thế cạnh tranh dài hạn của




doanh nghiệp.
Phân loại mục tiêu theo bản chất
Mục tiêu tuyên bố (state goals): là mục tiêu mà tổ chức tuyên bố một cách chính



thức đến các đối tượng hữu quan bên trong và bên ngoài tổ chức… Các mục tiêu
này thường thấy trong các bản tuyên bố về sứ mạng, các báo cáo hằng năm hoặc


lời tuyên bố đến cộng đồng hoặc các nhóm lợi ích khác nhau.
Mục tiêu thật (real goals): là những mục tiêu mà tổ chức đó thực sự theo đuổi.
Để biết được mục tiêu thật của một tổ chức chúng ta nên quan sát những gì mà
các thành viên trong tổ chức đó đang làm và những gì mà tổ chức đó thực sự ưu



tiên.
Trong thực tế nhiều tổ chức có sự khác nhau giữa các mục tiêu thật và mục tiêu
tuyên bố, thậm chí có sự đối lập nhau. Ví dụ: mục tiêu công bố trước cộng đồng
là “bảo vệ môi trường” trong khi thực tế hoạt động của họ đang gây ra sự ô

7


những tiền đề phải có từ trước mà thiếu chúng công tác hoạch định sẽ không
khoa học và sẽ là trở ngại cho việc tổ chức và thực hiện của công tác này


Những cơ sở khoa học chủ yếu:
+ Mục tiêu và quyết tâm thực hiện mục tiêu đã đề ra
+ Phân cấp về quyền hạn và trách nhiệm trong tổ chức
+ Đòi hỏi của các quy luật khách quan chi phối hoạt động quản trị trong
lĩnh vực hoạch định
IV.

Tiến trình hoạch định
Thực hiện một tiến trình hoạch định chặt chẽ là một yếu tố quan trọng làm

cho hoạch định hữu hiệu. Có nhiều cách sắp xếp và trình bày các bước của tiến
trình hoạch định, nhưng nhìn chung có 8 bước cơ bản như sau:
Nhận thức
cơ hội kinh
doanh trên
thị trường

Thiết lập
các mục
tiêu

Phát triển
các tiền

Bước đầu của hoạch định là tìm hiểu cơ hội. Cơ hội có thể có trong hiện
tại và tương lai. Do đó đòi hỏi nhà quản trị phải có cái nhìn toàn diện, chính xác
về thị trường cạnh tranh, về nhu cầu khách hàng, về các điểm mạnh và điểm
yếu, về mục đích cần đạt được trong tương lai.
Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để nhà quản trị nhận
thức khả năng và xác định những hoạt động cần được cải tiến, từ đó phân phối
các nguồn lực một cách hiệu quả, đem lại sự thành công cho doanh nghiệp.
Việc dự đoán về khả năng xuất hiện cơ hội cũng rất quan trọng đối với
8


doanh nghiệp, và đây cũng là bước để doanh nghiệp dự đoán những biến cố có
thể xảy ra bên cạnh những cơ hội để kịp thời đưa ra những giải pháp xử lý phù
hợp. Để có thể dự đoán cơ hội nhà quản trị đã tiến hành nghiên cứu thị trường
với các vấn đề như: sản phẩm, cạnh tranh, nhu cầu khách hàng.


Bước 2: Thiết lập các mục tiêu:
Xác định mục tiêu trên cơ sở đánh giá các cơ hội và đe doạ của môi
trường, các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp, và với kết quả cụ thể cần
đạt được ở những thời điểm cụ thể nhất định. Sau đó xác định công việc cần
làm, khi nào sẽ bắt đầu thực hiện và khi nào kết thúc hoàn thành, nơi nào cần
được chú trọng ưu tiên.



Bước 3: Phát triển các tiền đề để hoạch định:
Các tiền đề hoạch định: các dự báo, các giả thiết về môi trường, các chính
sách cơ bản có thể áp dụng, các kế hoạch hiện có của công ty…Nhà quản trị cần
đánh giá chính xác các tiền đề trên và dự đoán được sự biến động và phát triển

hoạch cung cấp năng lượng, kế hoạch quảng cáo và khuyến mãi…bên cạnh các
kế hoạch chính nhằm giúp cho sự triển khai các chiến lược sau này đạt hiệu quả.
9




Bước 8: Lượng hóa bằng hoạch định ngân quỹ:
Xây dựng ngân sách cho các chương trình hành động, các kế hoạch.
Ngân sách này bao gồm: chi phí thuê mướn lao động, chi phí mua vật tư,
chi phí trang thiết bị, nhà xưởng, văn phòng…
Lượng hóa chúng bằng cách chuyển chúng sang dạng các chỉ tiêu về tài
chính (các khoản thu, chi, lợi nhuận...) và nguồn vốn để thực hiện kế hoạch đã
đề ra.

10


V.

Hoạch định chiến lược

KHẢO SÁT TT
ĐỂ XÁC ĐỊNH
CƠ HỘI KD

XÁC ĐỊNH
HỆ THỐNG
MỤC TIÊU


THỰC
CHỌN
CHIẾN
LƯỢC

1. Hoạch định chiến lược


KIỂM TRA VÀ
ĐÁNH GIÁ

Hoạch định chiến lược: là quá trình ra những quyết định dài hạn, xác định ra con
đường phát triển của công ty trong những khoảng thời gian nhất định, nhằm liên



kết các nổ lực của công ty hướng tới mục tiêu.
Đối với hoạch định hoạch định chiến lược các quản trị ở các doanh nghiệp lớn



thường dùng một trong bốn chiến lược sau:
Chiến lược ổn định: đặc tính là không có thay đổi nào đáng kể, vẫn phục vụ



khách hàng ,cung cấp sản phẩm và dịch vụ như bình thường.
Chiến lược phát triển: có thể được thực hiện bằng cách trực tiếp phát triển thị



nghiệp như hệ thống kiểm tra, hệ thống thông tin.
Các quản trị viên tác nghiệp cần tham gia trực tiếp vào tiến trình hoạch định để



họ có trách nhiệm và gắn bó với công việc mà học sẽ phải thực hiện sau này.
Tiểu kết:
Hoạch định là một trong bốn chức năng thiết yếu của một quản trị viên,
đồng thời được coi là một chức năng ưu tiên hay là nền tảng của quản trị. Trong
môi trường kinh doanh năng động hiện nay thì việc thực hiện hoạch định một
cách hiệu quả càng trở nên quan trọng trong việc tạo nên sự thành công của
doanh nghiệp.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHỨC NĂNG HOẠCH ĐỊNH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I.

Đôi nét về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
1. Khái niệm
Có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy nhiên đa
phần các định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ đều sử dụng số lượng lao động
thường xuyên như là một tiêu chí ưu tiên ngoài ra còn sử dụng vốn, quy mô
doanh thu…
Doanh nghiệp nhỏ và vừa hay còn gọi là doanh nghiệp vừa và nhỏ: là
những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia làm ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là
doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa

12


trở xuống
trở xuống
người đến
200 người
10 người
10 tỷ đồng Từ trên 10
trở xuống
trở xuống
người đến
50 người

Doanh nghiệp vừa

Tổng nguồn
vốn
Từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
triệu đồng
Từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
triệu đồng
Từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
triệu đồng

Số lao động
Từ trên 200
người đến
300 người
Từ trên 200

Tạo nên nghành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp vừa
và nhỏ thường xuyên chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng



để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.
Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở
những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp vừa và nhỏ lại có mặt ở
khắp cả các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào
sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
13


II.

Thực trạng hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay
1. Tình hình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay
Những năm qua các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh mẽ, chiếm
hơn 97% số doanh nghiệp cả nước. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò
quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động
các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xoá đối giảm nghèo ở địa phương, hỗ
trợ tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp lớn, trong đó có lĩnh vực công
nghệ hỗ trợ.
Tuy nhiên năm 2011, do tình hình kinh tế khó khăn, giá nguyên liệu đầu
vào liên tục tăng, sản phẩm tiêu thụ chậm, tồn kho nhiều, số doanh nghiệp vừa
và nhỏ giải thể, ngừng hoạt động, phá sản tăng nhiều. Điều này đặt ra cho các
bộ, ngành, địa phương cần có những giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, tạo
điều kiện thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh để doanh nghiệp vừa và nhỏ
phát triển bền vững.
Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư, năm 2011, cả nước có 77,548 doanh nghiệp




việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt thất nghiệp cho xã hội.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động, linh hoạt sáng tạo trong kinh
doanh.

15




Khó Khăn
Tiềm lực kinh tế yếu hiệu quả hoạt động còn thấp.
Trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh chưa chuyên nghiệp, chủ yếu dựa vào




kinh nghiệm.
Doanh nghiệp thường thiếu vốn để hoạt động và mở rộng sản xuất.
Trình độ hoạch toán quản lý tài chính còn thấp, chưa có khả năng xây dựng



phương án kinh doanh thuyết phục khi vay vốn, chủ doanh nghiệp thiếu năng


lực huy động vốn và quan hệ tín dụng.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chịu khủng hoảng từ lạm phát, khủng hoảng kinh


đặc điểm của hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta như sau:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kì sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp thường ngắn hạn, dẫn đến khả năng thu hồi vốn
nhanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả. Đây là một trong
những điểm mạnh của hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ , nhưng đây cũng là
16


một trong những nguyên nhân làm cho việc hoạch định trong doanh nghiệp chưa
được chú trọng do có vốn ít, chu kì kinh doanh ngắn nên chủ các doanh nghiệp
thường xem nhẹ việc hoạch định trong tương lai của doanh nghiệp, chính vì chu
kì kinh doanh ngắn nên mục tiêu của doanh nghiệp thường không rõ ràng, chủ
yếu là hoạch định trong ngắn hạn tức là hoach định tác nghiệp là phần lớn, còn


việc hoach định trong dài hạn thì hầu như chưa được nhắc đến.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các
thành phần kinh tế. Sản phẩm của doanh nghiệp vừa và nhỏ đa dạng, phong phú
nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần sản phẩm không thích ứng với nhu cầu
của thị trường, với loại hình kinh tế xã hội này thì nó sễ dễ dàng hơn các doanh
nghiệp lớn khác trong việc chuyển hướng sang loại hình khác cho phù hợp với
thị trường. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những tính năng cao trước những thay
đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng mặt hàng nhanh. Đây cũng là
nguyên nhân khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta vẫn còn chưa chú trọng
nhiều tới việc xây dựng một thương hiệu cho riêng mình và một loại sản phẩm
đặc trưng cho doanh nghiệp mình, các doanh nghiệp vẫn chưa xác định được lợi
ích lâu dài của việc tạo một thương hiệu trong lòng người tiêu dùng. Chính vì
thế hoạch định dài hạn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tức là hoạch định
chiến lược chưa thực sự được đánh giá và thực hiện tốt, các doanh nghiệp vừa


đa.
Hiện nay, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ có chủ doanh nghiệp, giám đốc
giỏi có trình độ chuyên môn cao và kỹ năng quản lý tốt chưa nhiều, phần lớn các
chủ doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lí
còn thiếu kiến thức về kinh tế xã hội.

IV.

Thực trạng công tác hoạch định ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ
1. Hoạch định chiến lược
Hoạch định chiến lược là một quy trình xác định các định hướng lớn cho
phép doanh nghiệp thay đổi, cải thiện và củng cố vị thế cạnh tranh của mình tuy
nhiên thực trạng hiện nay là công tác hoạch định chỉ chú trọng ở những doanh
nghiệp lớn, còn những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vẫn chưa được chú trọng
nhiều. Dường như việc ứng dụng quy trình hoạch định cho đến nay chỉ là mảnh
đất riêng cho các doanh nghiệp lớn. Vậy vấn đề đặt ra là gì? Tại sao hoạch định
góp phần hiệu quả trong kinh doanh của doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp
vừa và nhỏ lại không áp dụng quy trình này vào trong kịnh doanh. Điều đó được
giải thích bởi những lý do sau:



Do không có thời gian:
Ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ người chủ doanh nghiệp thường là người
điều hành trực tiếp. Do đó, thời gian chủ yếu của họ được giành cho việc giải
18


quyết những vấn đề tác nghiệp hàng ngày và hầu như không có thời gian để


Thường bị những yếu tố tình cảm chi phối ngắn hạn.
Do yếu tố kỹ thuật và tính hệ thống đều yếu nên khi giải quyết công việc thường
mang tính mệnh lệnh, thiếu sự sáng tạo, tận dụng hết nguồn trí lực của nhân
viên. Cấp trên quản lý theo kiểu độc quyền, cấp dưới không dám đưa ra ý kiến
của cá nhân. Điều này làm hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp.
2. Hoạch định nguồn nhân lực:
Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình quản trị bao gồm việc phân tích
các nhu cầu nhân sự của một tổ chức dưới những điều kiện thay đổi và triển khai
các chính sách, biện pháp thực hiện để đáp ứng nhu cầu đó.
Nguồn nhân lực ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, được xuất phát từ
19


nhiều tầng lớp khác nhau. Tuy nhiên nguồn nhân lực này vẫn chưa được khai
thác phù hợp, chưa được tổ chứ quản lý vì vậy mà năng suất lao động không
cao. Nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vấn đề nhân lực càng gặp nhiều
khó khăn, theo số liệu thống kê thì khoảng 63% doanh nghiệp gặp khó khăn
trong việc tuyển dụng người giỏi, 55% trong việc sử dụng và giữ nhân tài, làm
thế nào để tuyển dụng và giữ được nhân tài là việc không hề dễ dàng. Vì vậy mà
công tác hoạch định nguồn nhân lực càng có vai trò quan trọng hơn.
Về kỷ thuật và công nghệ, dưới 10% số doanh nghiệp có công nghệ, thiết
bị tiên tiến, còn lại 90% đang sử dụng công nghệ trung bình và lạc hậu, mức độ
đầu tư đổi mới công nghệ thấp, do đó sự canh tranh sản phẩm yếu, ảnh hưởng
đến việc sử dụng tài nguyên (nguyên vật liệu, năng lượng…) và bảo vệ môi
trường. Sự tham gia và thụ hưởng về quản trị, tư vấn tài chính, kế toán, thuế, tư
vấn quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin… còn rất hạn chế. Năng lực tiếp cận
và chiếm lĩnh thị trường, nhất là những thị trường khó tính ngoài nước cũng hạn
chế đáng kể.
Các nhà hoạch định trong doanh nghiệp vừa và nhỏ cho rằng việc hoạch

nhỏ hiện nay:
Với những thuận lợi trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ cần xem hoạch định
chiến lược là công tác được ưu tiên khuyến khích nhằm giúp doanh nghiệp có
biện pháp dự báo và tránh các nguy cơ thường trực như:


Phản ứng thụ động trước sự thay đổi của thị trường, hoạch định giúp các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nhận ra khả năng mà họ luôn sẵn sàng và ứng phó với những



thay đổi của thị trường.
Tránh nguy cơ mất cân bằng trong sự phát triển của doanh nghiệp. Nếu không
có công tác hoạch định chiến lược, doanh nghiệp có thể bỏ qua một yếu tố quan
trọng nào đó như: sự thay đổi của môi trường hoặc khoa học công nghệ, khả
năng tài trợ… điều này có thể dẫn đến việc chấm dứt hoạt động đột ngột hay
làm đảo quá trình phát triển của doanh nghiệp.

Chương III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP HOẠCH ĐỊNH
CHƯƠNG TRÌNH, KẾ HOẠCH CỦA NHÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG.
1 Đánh giá
Thị trường thường xuyên và tư duy linh hoạt. Các nhà lãnh đạo cần phải
giành Các nghiên cứu trước đây kết luận rằng quy trình hoạch định chiến lược
của doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu được áp dụng thường ít mang tính chính thống
hơn so với các doanh nghiệp lớn. Thậm chí họ còn cho rằng việc làm này còn
làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, khi thực hiện quá trình hoạch
định sẽ dẫn đến cứng nhắc trong việc quyết định và làm giảm linh hoạt trong
21



hoạt động cũng như trong việc điều hành của mọi doanh nghiệp từ doanh nghiệp
lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ cho đến các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ hơn nữa
22




là các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Như vậy phải tăng cường công tác cho thế hệ trẻ vì đây là chủ nhân tương lai
của đất nước về kinh doanh về vấn đề hoạch định trong các doanh nghiệp vào
sâu về các bộ môn kinh tế rộng rãi hơn. Cần đẩy mạnh việc tuyên truyền về
hoạch định trong doanh nghiệp, mục tiêu hướng đến chủ yếu là các nhà quản trị,



các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta.
Hoạch định chiến lược cần diễn ra liên tục, nhằm đánh giá kiểm soát hoạt động
của doanh nghiệp và ngành kinh doanh mà công ty đang hoạt động, đánh giá đối
thủ cạnh tranh, thiết lập mục tiêu, kế hoạch hành động và phương thức cạnh
tranh hiện tại và tương lai. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải xem hoạch
định là xương sống của tổ chức đó, sử dụng hoạch định chiến lược như một
công cụ để quản lý hoạt động của tổ chức. Các doanh nghiệp phải có sự chuyển
đổi về cách quản lý của tổ chức, vạch ra hướng đi và phối hợp nỗ lực của các
thành viên một cách hiệu quả để phát huy tác dụng của hoạch định trong tổ
chức. Phân tích tình hình thời gian cho việc tổ chức các cuộc họp riêng về chủ
đề hoạch định chiến lược cũng như giành mối quan tâm thường trực cho việc
quyết định các quyết định hàng ngày và những quyết định dài hạn cho doanh
nghiệp. Phải biến lời nói thành hành động, phải đưa ra được một loạt các mục
tiêu, quyết định và hành động theo lịch trình đã lập ra. Cần tiến hành công tác
hoạch định theo một tiến trình khoa học và hợp lí, nhằm tiết kiệm thời gian,

3.

Quản Trị Kinh Doanh.
Tiến sỹ Trần Thị Thanh Thủy – Văn hóa tổ chức và một số giải pháp phát

4.
5.
6.

triển văn hóa công sở.
Mike Hervey (2001)- Quản trị văn phòng, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội.
Giáo trình Tổ chức và hoạt động văn phòng-Tác giả Thạc sỹ Trần Thị Ngà
Tổ chức hoạt động của công sở nhà nước (luân văn thạc sỹ quản lý nhà
nước của tác giả Khuất Văn Sách)

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status