ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Th.S Đỗ Huyền Trang
PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta thấy phần lớn quá trình cung cấp thông tin cho kế hoạch và ra các
quyết định trong quá trình kinh doanh đều phụ thuộc vào việc phân loại chi phí
theo cách ứng xử của chi phí.
Để đáp ứng nhu cầu lập kế hoạch, kiểm soát các hoạt động kinh doanh và
chủ động điều tiết chi phí hỗn hợp của các nhà quản trị doanh nghiệp. Kế toán
quản trị tiến hành phân loại chi phí và phân tích chi phí hỗn hợp theo cách ứng xử
của chi phí. Tức là, khi các chi phí trong doanh nghiệp biến đổi thì các nhà quản trị
doanh nghiệp phải thấy trước sự biến động của các chi phí đó.
Nếu các nhà quản trị doanh nghiệp muốn có những thông tin tối ưu nhất để
đưa ra các quyết định tốt nhất thì sự nhận diện về cách ứng xử của chi phí là một
trong những kỹ năng rất cần thiết đối với công việc của họ.
Dự toán là tổng thể các dự toán về khối lượng được thể hiện theo một cơ
cấu nhất định và là sự cụ thể hóa bằng các con số, các kế hoạch và các dự án. Cho
nên quá trình lập dự toán bao gồm tất cả các chức năng và các cấp quản lý cho dù
phương pháp lập dự toán giữa các doanh nghiệp là khác nhau. Có 2 quan điểm về
cách lập dự toán là phương pháp lập từ quản lý cấp cao và phương pháp lập từ cơ
sở. Hay nói cách khác là phương pháp lập dự toán tổng thể và dự toán linh hoạt.
Trong đó, phương pháp lập dự toán linh hoạt được thực hiện thông qua mô hình
ứng xử của chi phí giúp cho các nhà quản trị xây dựng các mục tiêu do chính họ đề
ra trong tương lai.
SVTH:Lờ Quang Dũng
Trang: 1
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Th.S Đỗ Huyền Trang
PHẦN 2: NỘI DUNG
A. CÁCH ỨNG XỬ CHI PHÍ Ở DOANH NGHIỆP
I. Định nghĩa về cách ứng xử chi phí ở doanh nghiệp
1. Định nghĩa về cách ứng xử chi phí cố định
Theo cách ứng xử thì chi phí cố định là chi phí cơ cấu mà phụ thuộc vào
khả năng sản xuất hay các quyết định đầu tư đã được định sẵn. Chi phí cố định
c. Xét về tính chất tác động, biến phí chia làm 2 loại: Biến phí tỷ lệ và biến
phí cấp bậc
+ Biến phí tỷ lệ (biến phí thực thụ, biến phí tuyệt đối):
Biến phỉ tỷ lệ là biến phí có quan hệ tỷ lệ thuận với mức hoạt động.
Ví dụ: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, chi phí
giống cây trồng,... tỷ lệ thuận với mức hoạt động sản xuất.
Nói cách khác, biến phí tỷ lệ là loại biến phí mà sự biến động của chúng
thực sự thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động.
Ví dụ: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,
chi phí hoa hồng bán hàng,...
Trong lĩnh vực toán học, biến phí tỷ lệ được biểu diễn theo phương trình sau:
y = ax
Trong đó: y: tổng biến phí
a: biến phí trên 1 đơn vị mức độ hoạt động
x: mức độ hoạt động
SVTH:Lờ Quang Dũng
y
0
a
x
y = ax
y
0
x
y = a
3
x
y = a
3
x
y = a
i
x
i
Trong đó:
a: là biến phí trên một đơn vị mức
độ hoạt động ở phạm vi i.
y: là tổng biến phí cấp bậc
SVTH:Lờ Quang Dũng
Trang: 4
y
0
x
y = a
1
x
i
y
3
y
2
y
1
x
1
x
2
x
3
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Th.S Đỗ Huyền Trang
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Th.S Đỗ Huyền Trang
Trong doanh nghiệp sản xuất hay thương mại, định phí được thể hiện ở các
khỏan mục như: chi phí khấu hao, chi phí thuê nhà xưởng, chi phí quảng cao, chi
phí giao tiếp,...
SVTH:Lờ Quang Dũng
Trang: 6
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Th.S Đỗ Huyền Trang
a. Cơ sở phân biệt định phí và biến phí cấp bậc
Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa định phí và chi phí biến đổi cấp bậc đó là:
- Chi phí biến đổi cấp bậc thay đổi nhanh chóng khi hoạt động thay đổi.
Còn định phí thì thường bị ràng buộc ít nhất tới hết kỳ kết hoạch mới thay đổi
được.
- Định phí gắn liền với khoảng thời gian nhất định.
b. Cách ứng xử của định phí và biến phí trong mối quan hệ với mức hoạt
động được tóm tắt qua bảng sau:
Chi phí
Ứng xử của chi phí khi hoạt động thay đổi
Tổng chi phí Chi phí đơn vị
Biến phí Thay đổi Không đổi
Định phí Không đổi Thay đổi
c. Phân loại định phí:
Chia làm 2 loại: - Định phí tùy ý
- Định phí bắt buộc
+ Định phí tùy ý (định phí không bắt buộc):
Định phí tùy ý là định phí có thể được thay đổi nhanh chóng bằng hành
động quản trị. Các nhà quản trị quyết định mức độ và số lượng định phí này trong
các quyết định hàng năm.
Ví dụ: Chi phí quảng cáo, đào tạo nhân viên, nghiên cứu, giao dịch,...
Nói cách khác, định phí tùy ý còn được xem như chi phí bất biến quản trị.
+ Định phí bắt buộc:
Dựa vào hai đặc điểm trên của định phí bắt buộc, việc dự báo và kiểm soát
định phí bắt buộc phải bắt đầu từ lúc xây dựng, triển khai dự án, xây dựng cơ cấu
tổ chức quản lý doanh nghiệp. Khi đã đưa ra quyết định dự án đã được thực hiện
thì chi phí hoạt động của doanh nghiệp bị ràng buộc bởi các quyết định có tính
chất cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp đó trong nhiều năm. Điều này được thể hiện
qua việc đầu tư dự án của một Công ty X. Đó là dự án đầu tư máy móc thiết bị của
một Công ty X. Muốn đầu tư vào dự án này trước tiên chúng ta cần phải khảo sát
kỹ về vị trí địa lý, công dụng của loại máy móc cần đầu tư, kinh phí đầu tư,... Khi
máy móc được đưa vào sử dụng thì khấu hao máy móc thiết bị là chi phí mà doanh
nghiệp phải chịu trong nhiều năm. Khi doanh nghiệp hoạt động và ngay cả khi
ngừng hoạt động. Bên cạnh những ứng xử trên của các nhà quản trị đối với định
SVTH:Lờ Quang Dũng
Trang: 8
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Th.S Đỗ Huyền Trang
phí bắt buộc, muốn tiết kiệm và tăng nhanh khả năng thu hồi vốn đầu tư, tránh bớt
những rủi ro cần phải tận dụng và khai thác hết công suất của tài sản dài hạn, việc
phát huy kiến thức, khả năng, mở rộng quy mô quản lý của các nhà quản trị cấp
cao là việc cần phải thực hiện trong thời gian phát sinh định phí bắt buộc.
d. So sánh định phí bắt buộc và định phí tùy ý
Định phí bắt buộc và định phí tùy ý thực chất tùy vào cách suy nghĩ của
từng nhà quản trị và có những khoản định phí nằm trên ranh giới của định phí bắt
buộc và định phí tùy ý.
Ví dụ: Muốn cho Công ty tồn tại và phát triển bền vững thì Công ty phải
thuê người để quản lý Công ty. Nhưng mức lương và số lượng người cần thuê sẽ
do các nhà quản trị hiện hành của Công ty quyết định.
+ Định phí bắt buộc không thể được cắt giảm tùy tiện nhưng định phí tùy ý
nếu bị tùy tiện cắt giảm trong các chương trình cắt giảm chi phí thì sẽ gây ảnh
hưởng lâu dài.
Ví dụ: Cắt giảm chi phí quảng cáo sẽ gây ảnh hưởng làm giảm sự nhận biết
của người mua đối với hàng hóa của Công ty. Việc này làm cho sự chấp nhận sản
doanh gặp khó khăn, Công ty có thể cắt giảm chi phí đào tạo bồi dưỡng này và có
thể cắt giảm đến 0. Ngược lại, chi phí khấu hao máy móc thiết bị hàng năm của
Công ty là 50.000.000đ, Công ty không thể cắt giảm chi phí này khi gặp khó khăn,
thua lỗ và chi phí này luôn tồn tại cho tới khi thanh lý, nhượng bán máy móc thiết
bị.
Xét về mặt quản lý, các nhà quản trị không bị ràng buộc nhiều bởi các
quyết định về định phí tùy ý. Hàng năm, nhà quản trị phải xem xét để điều chỉnh
mức độ chi phí, có thể điều chỉnh tăng, giảm hoặc cắt bỏ hoàn tòan định phí tùy ý.
e. Sự khác biệt giữa định phí tùy ý và biến phí cấp bậc
Một là, biến phí cấp bậc có thể điều chỉnh thay đổi rất nhanh khi các điều
kiện thay đổi. Nhưng định phí tùy ý để xác định và khó thay đổi hơn mặc dù bản
chất của nó có thể điều chỉnh theo hành vi quản trị.
Ví dụ: tiền lương công nhân được điều chỉnh nhanh chóng nhưng chi phí
đào tạo bồi dưỡng nhân viên bị ràng buộc bởi kế hoạch và phương hướng hàng
năm của Ban giám đốc nên khó thay đổi hơn.
Hai là, khi mức độ hoạt động gia tăng thì định phí tùy ý không nhất thiết
phải tăng.
SVTH:Lờ Quang Dũng
Trang: 10
ĐỀ ÁN MÔN HỌC GVHD: Th.S Đỗ Huyền Trang
Ví dụ: Khi tăng quy mô sản xuất thì chắc chắn là chi phí lương thợ sửa
chữa bảo trì sẽ tăng nhưng chi phí đào tạo bồi dưỡng chưa chắc đã tăng, có khi còn
bị giảm xuống.
g. Định phí trong các mối quan hệ với phạm vi phù hợp
Định phí có mức độ tương xứng với một phạm vi phù hợp của mức độ hoạt
động. Khi mức độ hoạt động vượt quá phạm vi phù hợp thì định phí bắt buộc thay
đổi để phù hợp với mức độ hoạt động tăng lên.
Ví dụ: Một Công ty muốn mở rộng mức độ hoạt động thì cần phải đầu tư
thêm máy móc thiết bị, tìm thêm mặt bằng, thuê thêm công nhân, vay thêm vốn,..
Tức là, định phí đã tăng lên để phù hợp với việc tăng thêm máy móc thiết bị đáp
i. Đồ thị biểu diễn định phí như sau:
SVTH:Lờ Quang Dũng
Trang: 12