BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VŨ NINH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TRONG NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TẠI TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VŨ NINH
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG
TRONG NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TẠI TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Đặc biệt, tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Phạm Quang Huy Người Thầy tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu để
hoàn thành luận văn.
Mặc dù có nhiều nỗ lực, cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế, tôi rất mong nhận được sự chia sẻ và những ý
kiến đóng góp quý báu của quý Thầy, Cô, nhà nghiên cứu và các anh, chị
đồng nghiệp.
Chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu đã dành cho tôi!.
Vĩnh Long, ngày 25 tháng 4 năm 2017
Tác giả
Phạm Vũ Ninh
MỤC LỤC
Trang
1. Lý do chọn đề tài luận văn ...................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn ............................3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn .....................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ...................................4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ..............5
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn .............................................5
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG ............................................7
1.1. Một số vấn đề lí luận về thi đua, khen thưởng ..................................7
1.1.1. Khái niệm thi đua .......................................................................7
1.1.2. Khái niệm khen thưởng ..............................................................8
1.1.3. Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng ..................................9
1.2. Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng......................................11
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng .............11
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trong
ngành Giáo dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh Long ..............................................56
2.3.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân..................................56
2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân...................................................58
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG TRONG NGÀNH
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI TỈNH VĨNH LONG.......................62
3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, UBND tỉnh thông
qua Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh ......................................................62
3.2. Hoàn thiện hệ thống các văn bản về công tác thi đua, khen thưởng
……………….......................……………………………............…….64
3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác thi đua, khen thưởng
…………………………………………………….................................69
3.4. Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ……………....…...............73
3.4.1. Đổi mới nội dung, hình thức, phương thức tổ chức các phong
trào thi đua …………………......….…………………………….......74
3.4.2. Đổi mới công tác xét khen thưởng ……..…......…….……......79
3.4.3. Đổi mới việc phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình
tiên tiến …….…….......…………….......…….………………..….....86
3.4.4. Tổ chức tuyên dương, vinh danh trang trọng, ấn tượng ...........88
3.5. Triển khai, đôn đốc, kiểm tra, sơ tổng kết công tác thi đua, khen
thưởng ……………………..………………….……..............................89
3.6. Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra và giải quyết
khiếu nại, tố cáo về thi đua, khen thưởng …………….....………....…..91
KẾT LUẬN ...........................................................................................94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 96
được bộc lộ, được thể hiện bằng những hành động cụ thể trong lao động sản
xuất và trong học tập. Người kêu gọi “Người người thi đua, ngành ngành thi
đua” [30, tr.476], luôn luôn thi đua trên mọi lĩnh vực công tác cách mạng.
1
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa MácLênin, kinh nghiệm của các nước, khởi xướng phong trào thi đua yêu nước ở
nước ta. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh, coi
thi đua là động lực của cách mạng, một động lực phát triển, một động lực của
công cuộc đổi mới. Công tác thi đua, khen thưởng là một biện pháp quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng con người mới, con người có ích
cho xã hội, cho đất nước, cho tương lai.
Tuy nhiên, công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục và Đào
tạo Vĩnh Long thời gian vừa qua bộc lộ một số mặt hạn chế như: công tác thi
đua, khen thưởng thiếu cụ thể, chưa đồng bộ, vẫn còn tư tưởng một số người
coi nhẹ phong trào thi đua; khen thưởng phong trào, khen thưởng đột xuất
chưa thật sự sôi nổi và chưa thường xuyên, liên tục; một số cơ sở giáo dục
thực hiện không đúng quy trình thi đua; phong trào thi đua chưa tạo động lực
mạnh để thúc đẩy năng suất lao động, cũng như trong giảng dạy và học tập; tổ
chức tôn vinh, tri ân, biểu dương chưa trang trọng để thúc đẩy mọi người
hăng hái tích cực thi đua.
Công tác tuyên truyền, giới thiệu, nêu gương điển hình tiên tiến, nhân
rộng chưa tạo sự lan tỏa trong phong trào thi đua của ngành Giáo dục và Đào
tạo Vĩnh Long trong thời gian qua.
Công tác khen thưởng đôi lúc chưa kịp thời, khen thưởng tràn lan, mất
cân đối giữa cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên trực tiếp nuôi dạy, giảng
dạy, nhân viên,… khen thưởng còn mang nặng hình thức, chưa có sự công
khai, minh bạch, còn bộc lộ nhiều lỗ hỏng, vấn đề đơn thư, khiếu nại vẫn
còn,… Để làm cho công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục và
quan quản lý và một số nhà nghiên cứu đưa ra các bài tham luận đề cập tới
vấn đề QLNN về công tác thi đua, khen thưởng ở một số ngành, địa
phương,...
3
Tuy nhiên, chưa có tài liệu nghiên cứu thực trạng QLNN về thi đua,
khen trong ngành Giáo dục và Đào tạo. Vì vậy, trong luận văn này, tác giả
nêu rõ thực trạng về thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục và Đào tạo tại
tỉnh Vĩnh Long từ năm học 2011 - 2012 đến năm học 2015 - 2016 và đề ra
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QLNN về thi đua, khen thưởng trong
ngành Giáo dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng QLNN về thi đua,
khen thưởng trong ngành Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Long, nhằm làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn của công tác thi đua, khen thưởng trong thời kỳ đổi mới;
đánh giá thực trạng công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Vĩnh Long trong thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng QLNN về thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo
dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới. Cụ thể, đề tài tập trung
giải quyết những vấn đề sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận QLNN về thi đua, khen thưởng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về thi đua, khen thưởng trong
ngành Giáo dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh Long trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QLNN về thi
đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh Long trong
những năm tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về thi đua, khen thưởng các
QLNN về thi đua, khen thưởng trong ngành Giáo dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh
Long, trong đó đặc biệt lấy phong trào thi đua làm đòn bẩy để tạo động lực,
lôi cuốn CC, VC, NLĐ ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Long hoàn
thành tốt nhiệm vụ; tạo động lực để cho CC, VC, NLĐ tích cực tham gia
5
phong trào thi đua; trao đổi thông tin hai chiều giữa Sở Giáo dục và Đào tạo,
Phòng Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở giáo dục để thực hiện có hiệu quả
công tác thi đua, khen thưởng; xác định công tác thi đua, khen thưởng là
nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể giúp cho các nhà quản lý nâng cao
chất lượng QLNN trên lĩnh vực thi đua, khen thưởng và làm tư liệu giảng dạy,
nghiên cứu cho học viên; CC, VC, NLĐ làm chuyên trách công tác thi đua,
khen thưởng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I. Cơ sở lý luận và pháp lý của QLNN về thi đua, khen thưởng.
Chương II. Thực trạng QLNN về thi đua, khen thưởng trong ngành
Giáo dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh Long.
Chương III. Giải pháp nâng cao chất lượng QLNN về thi đua, khen
thưởng trong ngành Giáo dục và Đào tạo tại tỉnh Vĩnh Long.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
trên cơ sở nguyên tắc theo quy định và khi tặng danh hiệu phải dựa trên căn
cứ, tiêu chuẩn cụ thể theo quy định.
Thi đua là một hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, có mục đích,
có định hướng.
Thi đua là nhằm thúc đẩy sản suất lao động, phấn đấu để đạt được kết
quả đã đề ra của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, làm cơ sở cho việc xem xét,
đánh giá toàn bộ quá trình công tác, cống hiến cũng như lao động sản xuất và
học tập của cá nhân và tập thể.
Để thực hiện được mục tiêu trên đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải lấy
phong trào thi đua làm đòn bẩy để thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ trong từng
lĩnh vực; coi công tác thi đua là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác
QLNN ở từng địa phương và từng đơn vị.
Thi đua là một hoạt động nhằm thu được kết quả nhất định. Kết quả của
Thi đua được nêu trong Điều 3, Luật Thi đua, Khen thưởng cụ thể như sau:
“Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể
nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
1.1.2. Khái niệm khen thưởng
Khen thưởng là một trong những công cụ quản lý quan trọng của nhà
nước và là một trong những biện pháp quản lý của cơ quan, tổ chức.
Khen thưởng là một trong những lĩnh vực quan trọng trong quá trình
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước. Đồng thời là biện pháp cơ bản, là cơ sở căn cứ để đánh giá kết quả công
việc, hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch đề ra của tập thể, cá nhân trong quá trình
thực hiện.
8
Khen thưởng là hình thức ghi nhận công lao, thành tích của Nhà nước
bằng quyết định của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền theo luật định, nhằm ghi
khen thưởng. Nếu công tác thi đua là hoạt động có tổ chức, có định hướng của
tập thể, cá nhân nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc thì khen thưởng là việc để ghi nhận, biểu dương, tôn vinh
những thành tích xuất sắc.
Việc thực hiện tốt phong trào thi đua nghĩa là tuân thủ theo đúng quy
trình, các bước tiến hành như: xây dựng kế hoạch, nội dung thi đua, phát động
thi đua, tổ chức tuyên truyền, đăng ký thi đua, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ
kết, tổng kết, bình bầu và tiến hành khen thưởng. Qua đó, đối tượng thi đua
của tập thể và cá nhân tham gia tích cực, để thực hiện và phấn đấu đăng ký thi
đua nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Việc tổng kết phong trào thi đua, bình
chọn phải công bằng, chính xác, khách quan; khen thưởng phải đúng đối
tượng, điển hình trong phong trào thi đua, đó cũng chính là thể hiện sự ghi
nhận của Đảng và Nhà nước đối với những thành tích mà tập thể và cá nhân
đã đạt được. Người được khen thưởng cảm thấy được trân trọng và vinh dự,
qua đó phát huy, thúc đẩy tập thể và cá nhân hăng hái tham gia tích cực trong
việc thực hiện nhiệm vụ được giao, nâng cao năng suất, hiệu quả trong công
tác.
Thi đua gắn với hình thức khen thưởng phù hợp với điều kiện đất nước,
động viên kịp thời, đúng người, đúng việc, chú trọng khen thưởng tại cơ sở.
Đảng ta chỉ rõ: “Chú trọng đổi mới nội dung và hình thức thi đua, khen
thưởng; kết hợp chặt chẽ giữa thi đua với khen thưởng, để trở thành động lực
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Nội dung thi đua phải tập trung vào việc
thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Biểu
dương, tôn vinh, khen thưởng kịp thời chính xác các tập thể, cá nhân đạt
thành tích xuất sắc. Nhân rộng cá nhân, điển hình tiên tiến để cổ vũ, động
10
viên mọi người học tập và làm theo phương châm: Lấy tích cực đẩy lùi tiêu
nước.
QLNN về thi đua, khen thưởng là phương thức điều chỉnh công tác thi
đua, khen thưởng bằng quyền lực nhà nước nhằm tác động, điều chỉnh các
phong trào thi đua và công tác khen thưởng thực hiện theo quy định của pháp
luật.
Có thể nói QLNN về thi đua, khen thưởng là việc sử dụng các phương
thức, biện pháp để tổ chức các phong trào theo chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước; phong trào thi đua trở thành thiết thực, hiệu
quả, nó là động lực để đi vào cuộc sống, động lực thúc đẩy mọi người hăng
hái tham gia tích cực, trên tinh thần tự giác, tự nguyện; công tác khen thưởng,
biểu dương, tri ân, tôn vinh phải chính xác, kịp thời, đúng người, đúng việc
nhằm tạo đòn bẩy cho phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, thiết thực và
hiệu quả.
1.2.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
- Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị
Công tác QLNN về thi đua, khen thưởng trước tiên phải thực hiện đúng
chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Cấp ủy,
Tổ chức Đảng có trách nhiệm lãnh đạo tập trung thống nhất chặt chẽ, toàn
diện tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước gắn với việc thực hiện
chính trị của địa phương, đơn vị. Các cơ quan quyền lực nhà nước, Mặt trận
tổ chức, các tổ chức, đoàn thể phải nghiêm chỉnh chấp hành theo sự lãnh đạo
của cấp ủy, tổ chức Đảng nhằm tạo động lực, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá
nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao [25, tr.33].
- Tính pháp quyền
12
Trong hoạt động QLNN về thi đua, khen thưởng phải thực hiện theo
thưởng, biểu dương không công bằng, nó sẽ phản tác dụng làm ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình lao động, sản xuất và học tập, bên cạnh đó ảnh
hưởng đến hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý cũng như trong hoạt
động tại mỗi đơn vị [41, tr.72].
- Tính kịp thời
Để việc khen thưởng có ý nghĩa và đạt được mục đích khuyến khích,
phát huy, động viên các cá nhân, tập thể thì việc khen thưởng phải kịp thời,
đúng lúc đó là đặc điểm cần phải đạt được trong công tác QLNN về thi đua,
khen thưởng.
Khen thưởng, tôn vinh, biểu dương, tri ân phải kịp thời nhằm tạo động
lực cho tập thể và cá nhân khi tham gia phong trào thi đua và là nguồn động
viên lớn không chỉ cho tập thể, cá nhân được khen thưởng mà còn cho mọi
tầng lớp nhân dân,…
Nếu như khen thưởng không công bằng, không kịp thời thì sẽ không
chỉ làm giảm năng suất lao động, học tập, mà còn làm mất ý nghĩa của việc
khen thưởng từ đó chắc rằng sẽ dẫn đến mất niềm tin của CC, VC,
NLĐ,…[41, tr.72].
1.2.3. Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng
Công tác thi đua, khen thưởng có vị trí, vai trò quan trọng là động lực
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, là biện pháp để người quản lý thực hiện
nhiệm vụ trọng tâm, chính trị của cơ quan, đơn vị nhằm khuyến khích, động
viên mọi người hăng hái lập thành tích trong lao động, sản xuất và học tập.
Là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước; là một lĩnh vực
quan trọng trong quá trình thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ
quan tổ chức và đơn vị; là biện pháp cơ bản để đánh giá kết quả công việc,
14
1.2.4.1. Ban hành các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng
Văn bản pháp luật là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý xã hội
nói chung và quản lý công tác thi đua, khen thưởng nói riêng. Nhà nước quản
lý công tác thi đua, khen thưởng bằng pháp luật và thực hiện theo pháp luật.
Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước là sự thể hiện, cụ thể hóa quan
điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về công tác thi đua, khen thưởng, đồng
thời cũng là sự tập trung nguyện vọng của nhân dân trong lao động, sản xuất,
học tập, chiến đấu, cần kiệm, sáng tạo, cống hiến sức lực, trí tuệ phục vụ sự
nghiệp, góp vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [8, tr.2].
Văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý để tổ chức, các tầng lớp nhân
dân và cá nhân thực hiện theo quy định của pháp luật, đó là cơ sở căn cứ cho
sự thống nhất chung cho công tác thi đua, khen thưởng trong quá trình thực
hiện cho các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương.
Tại trung ương ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công tác thi
đua, khen thưởng để triển khai thực hiện chung cho cả nước. Khi Luật Thi
đua, Khen thưởng ra đời cùng với những văn bản quy phạm pháp luật của
Nhà nước như Nghị định số 42/NĐ/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Nghị định số
65/2014/NĐ-CP, ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2013.
Tại địa phương đã căn cứ những hướng dẫn của trung ương để ban
hành văn bản pháp luật thực hiện ở đơn vị, chẳng hạn như tỉnh Vĩnh Long,
UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 22/2014/QĐ-UBND, ngày 19/11/2014
của UBND tỉnh về việc hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng.
Trên cơ sở quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật, các địa phương, đơn vị đã cụ thể hóa văn bản hướng
16
17