Pháp luật về phòng, chống tham nhũng Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai (tt) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI MINH PHÚC
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
- TỪ THỰC TIỄNTỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số :
60 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ
LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK – NĂM 2017


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học:

TS. Bùi Thị Thanh Thúy

Phản biện 1:

PGS. TS. Lương Thanh Cường
............................................................................

các quy định của Luật PCTN. “Các bộ, ngành, địa phương cũng đã ban
hành 42.168 văn bản mới; sửa đổi, bổ sung trên 55.416 văn bản để thực
hiện Luật PCTN và các văn bản hướng dẫn thi hành” [26].
Đến nay, nạn tham nhũng vẫn diễn ra hết sức phổ biến, ngày càng tinh
vi ở nhiều cấp, nhiều ngành. Thậm chí, tham nhũng đã ăn sâu vào tư duy và tác
phong làm việc hàng ngày của một số cán bộ, công chức, làm giảm hiệu quả
hoạt động quản lý nhà nước, gây bất bình trong nhân dân.
Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XII nêu rõ: Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống
của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ
phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn
còn nghiêm trọng tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà
nước [6; tr.22]. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức đầy đủ tính chất, mức

1


độ, những tác hại và biến quyết tâm chính trị thành những biện pháp cụ thể
để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng.
Cùng chung tình trạng như cả nước, trong những năm gần đây, tình
trạng tham nhũng ở Gia Lai có những biểu hiện phức tạp, việc tổ chức thực
hiện pháp luật về tham nhũng còn nhiều bất cập, chưa kiên quyết, triệt để.
Vì thế, nghiên cứu đề tài "Pháp luật về phòng, chống tham nhũng - Từ thực
tiễn tỉnh Gia Lai" mang tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài nghiên cứu liên quan đến pháp luật về PCTN hiện nay được
đông đảo mọi người quan tâm vì nó mang tính thời sự và thực tiễn. Ở Việt Nam
đã nhiều học giả, nhà chính trị quan tâm đến vấn đề nhạy cảm này, đã có
nhiều bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng và các công trình
nghiên cứu về tham nhũng và PCTN.

nghiên cứu ở 02 góc độ: Quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật
về PCTN.
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác
– Lênin. Đồng thời, dựa trên quan điểm, chủ trương, phương hướng, nhiệm
vụ của Đảng về PCTN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể
như: phương pháp thống kê; phương pháp khảo cứu tài liệu; phương pháp
so sánh - đối chiếu; phương pháp phân tích - tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề
nghiên cứu, tổng kết thực tiễn ban hành các quy định về PCTN và tổ chức thực
hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai trong thời gian qua.

3


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về phương diện lý luận
Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về tham nhũng và PCTN, đề
tài góp phần làm rõ các quy định pháp luật về tham nhũng và PCTN.
Đánh giá các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện pháp luật
về PCTN ở tỉnh Gia Lai, bên cạnh mặt ưu điểm còn có những hạn chế cần
khắc phục và nguyên nhân.
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về PCTN và nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về PCTN trong thời gian tới trên địa bàn
tỉnh Gia Lai.

luật về PCTN. Kinh nghiệm chống tham nhũng của các nước trên thế giới
cho thấy, công tác phòng ngừa đóng vai trò rất quan trọng. Pháp luật Việt
Nam hiện hành quy định khá đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đang được
nhiều nước trên thế giới áp dụng hiện nay. Phần lớn các quy định của pháp
luật về chống tham nhũng nằm trong các biện pháp phòng ngừa tham nhũng,
bao gồm 6 biện pháp sau:
Một là, công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức,
đơn vị.
Ba là, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển
đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức.
Bốn là, minh bạch tài sản, thu nhập của CBCCVC.
Năm là, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị khi để xảy ra tham nhũng.
Sáu là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương
thức thanh toán.
Thứ hai, pháp luật về phát hiện tham nhũng.
Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện
pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách

7


nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và
nghiêm minh. Pháp luật về PCTN quy định: việc phát hiện tham nhũng
thông qua ba hoạt động chủ yếu sau:
Một là, thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Hai là, thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát,
xét xử, giám sát.
Ba là, thông qua tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng.
Thứ ba,pháp luật về xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp

bao gồm các biện pháp sau:
Một là, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về PCTN.
Hai là, thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.
Ba là, thực hiện các biện pháp phát hiện tham nhũng.
Bốn là, thực hiện các biện pháp xử lý tham nhũng.
Thứ ba, thanh tra, giám sát trách nhiệm thực hiện pháp luật về
PCTN.
1.3. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc gia
trên thế giới và giá trị tham khảo đối với Việt Nam
1.3.1. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của một số quốc
gia trên thế giới
1.3.1.1. Pháp luật của Đan Mạch về phòng, chống tham nhũng
1.3.1.2. Pháp luật của Trung Quốc về phòng, chống tham nhũng
1.3.3.3. Pháp luật của Singapore về phòng, chống tham nhũng
1.3.2. Giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Một là, làm cho công chức không dám tham nhũng.
Hai là, làm cho công chức không thể tham nhũng. Pháp luật
Singapore quy định: mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai
báo một lần với nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng). Ở
Trung quốc, nếu công chức không giải thích được nguồn gốc tài sản của
mình thì bị coi là tham ô.

9


Ba là, làm cho công chức không cần tham nhũng. Singapore có chế
độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp và với
công chức, giữa công chức với nhân viên, công nhân. Với mức lương cao,
quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng.
Bốn là, làm cho công chức không muốn tham nhũng. Ở Singapore

2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội tỉnh Gia Lai
2.2. Thực trạng pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở tỉnh
Gia Lai
2.2.1. Pháp luật về phòng ngừa tham nhũng
Ủy ban nhân dân đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để cụ
thể hóa và thực hiện các văn bản của Trung ương về PCTN, cụ thể như sau:
Thứ nhất, ban hành các quy định có liên quan đến lĩnh vực đầu tư,
mua sắm công.
Thứ hai, ban hành các quy định trong lĩnh vực tài chính và ngân
sách nhà nước.
Thứ ba, ban hành các quy định trong lĩnh vực công tác cán bộ.
Thứ tư, ban hành các quy định về cải cách hành chính góp phần
phòng ngừa tham nhũng.
Thứ năm, về chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ sáu, ban hành các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.
Thứ bảy, ban hành quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xử ra tham nhũng.
Thứ tám, ban hành các quy định về quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ.
2.2.2. Pháp luật về phát hiện và xử lý tham nhũng
Ở địa phương không ban hành các quy định về phát hiện, xử lý
tham nhũng mà chỉ tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phát
hiện và xử lý tham nhũng.

11


2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về phòng, chống
tham nhũng ở tỉnh Gia Lai
2.3.1. Tổ chức bộ máy phòng, chống tham nhũng của tỉnh Gia Lai
Hiện nay, toàn tỉnh có 47 cơ quan, tổ chức, đơn vị đang thực hiện

thực hiện các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Qua kiểm tra có 14
cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm về chế độ, định mức, tiêu chuẩn (chiếm tỉ
lệ 0,66%). Tổng giá trị các vi phạm về chế độ, định mức, tiêu chuẩn đươc
thu hồi 464.383.000 đồng trên tổng số 619.628.000 đồng (chiếm tỉ lệ
74,9%) [56].
Thứ tư, thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp,
việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức. Bao gồm
các nội dung sau:
Một là, về quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
Tính đến tháng 6 năm 2016 có 900 cơ quan, tổ chức, đơn vị xây
dựng quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; đã tổ chức kiểm tra 357
cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo
đức nghề nghiệp, có 10 cơ quan, tổ chức, đơn vị vi phạm [56].
Hai là, chuyển đổi vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức.
Các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai và tổ chức thực hiện
việc chuyển đổi vị trí công tác đối với CBCCVC. Kết quả đã thực hiện
chuyển đổi được 1.588 người [56].
Thứ năm, thực hiện minh bạch tài sản, thu nhập của CBCCVC.
Đến nay, có 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện việc kê khai
tài sản theo quy định. Tổng số người phải kê khai tài sản, thu nhập trên toàn
tỉnh là 10.345 người; trong đó, đã kê khai là 10.320 người, 25 người không
kê khai do nghỉ việc, nghỉ sinh, ốm đau lâu dài. Số người được xác minh
việc kê khai tài sản là 01 người [56].
Thứ sáu, thực hiện chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng.

13


Tính đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có 19 trường hợp người đứng


Hai là, thông qua hoạt động thanh tra hành chính.
Đã triển khai 161 cuộc thanh tra tại 320 đơn vị; đã kết thúc 142
cuộc thanh tra, có 160 đơn vị sai phạm. Số vụ tham nhũng phát hiện qua
công tác thanh tra là 15 vụ, với 26 người vi phạm[55].
Ba là, thông qua công tác kiểm toán chưa phát hiện vụ việc tham
nhũng nào.
Bốn là, thông qua tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham
nhũng phát hiện 18 vụ với 29 người có hành vi tham nhũng, số tiền sai
phạm thu hồi nộp vào Ngân sách Nhà nước là 627.196.084 đồng [55].
Năm là, thông qua hoạt động điều tra tội phạm
Các cơ quan điều tra đã phát hiện 33 vụ tham nhũng, với 51 bị can
có hành vi tham nhũng bị khởi tố [55].
2.3.2.3. Triển khai thực hiện hoạt động xử lý tham nhũng
Một là, xử lý kỷ luật.
Các cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành xử lý hành chính 30 vụ. Số
cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật hành chính: 42 người.
Hai là, xử lý hình sự.
Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng trong 10
năm qua được các cơ quan chức năng quan tâm thực hiện. Nhiều vụ án
tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện, điều tra truy tố, xét
xử nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.
Ba là, xử lý tài sản tham nhũng.
Trong 10 năm qua, thiệt hại tài sản bị tham nhũng, gây thiệt hại do
tham nhũng đã phát hiện được là 6.969 triệu đồng và 13.313 m2 đất. Số tiền
đã thu hồi cho nhà nước là 6.823 triệu đồng (đạt 97,9%) và 13.313 m2 đất
(đạt 100%), cao hơn so với tỉ lệ thu hồi tàn sản tham nhũng của cả nước
(0,8%) [55].

15


16


hiện đầy đủ hơn như triển khai đồng bộ việc kê khai minh bạch tài sản của
cán bộ, công chức, viên chức gắn với việc đẩy mạnh công tác tự kiểm tra
hoạt động PCTN và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức,
đơn vị.
Hầu hết các cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã chủ
động hơn trong kiểm tra, thanh tra phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi
tham nhũng; các ngành tư pháp đã tích cực điều tra, truy tố và đưa ra xét xử
nghiêm các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp.
Trong 10 năm qua, công tác PCTN được tỉnh xác định là nhiệm vụ
trọng tâm và lâu dài, đòi hỏi phải có chiến lược với những giải pháp thiết
thực, hiệu quả và phải thực hiện theo từng giai đoạn, từng bước thì mới đảm
bảo thực hiện được mục tiêu ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng. Cơ quan
Thanh tra và các cơ quan có thẩm quyền đã giải quyết kịp thời các đơn thư
tố cáo về hành vi tham nhũng; tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc
thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN và các lĩnh vực dễ xảy ra
hành vi tham nhũng. Từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng.
2.4.2. Những vấn đề còn hạn chế và nguyên nhân
2.4.2.1. Những vấn đề còn hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật về PCTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai còn một số tồn tại, hạn chế cần
khắc phục:
Thứ nhất, hạn chế về xây dựng và ban hành văn bản về phòng,
chống tham nhũng, bao gồm:
Một là, công tác xây dựng, thể chế hóa các quy định pháp luật về
PCTN chưa đáp ứng được yêu cầu.

Pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về PCTN ở tỉnh Gia Lai
tồn tại một số hạn chế, thiếu sót xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, hành vi tham nhũng ngày càng tinh vi, phức tạp.

18


Thứ hai, một số cơ quan, đơn vị và người đứng đầu chưa quyết liệt
trong công tác chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện PCTN.
Thứ ba, cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế - xã hội còn nhiều sơ
hở, bất cập, thiếu công khai, minh bạch và nhất quán.
Thứ tư, mô hình tổ chức các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống
tham nhũng chưa ổn định; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, địa vị pháp lý
chưa rõ ràng, chưa đủ mạnh.
Thứ năm, chưa phát huy được sức mạnh to lớn của quần chúng vào
cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
Thứ sáu, chế độ tiền lương của công chức, viên chức chưa hợp lý,
thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức còn thấp. không đảm bảo cho
cuộc sống cũng là một trong những nguyên nhân sinh ra tham nhũng.
Thứ bảy, tham nhũng là hệ quả của quyền lực bị lạm dụng, bị tha
hóa, trong khi cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực hiện nay ở nước ta nói
chung và tỉnh Gia Lai nói riêng đang bộc lộ nhiều bất cập, thiếu hiệu quả
nhưng chưa được khắc phục.

19


Chương 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở TỈNH GIA LAI

3.2.1.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về phòng ngừa tham
nhũng.
Môt là, hoàn thiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt
động của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo hướng làm rõ loại thông tin công bố,
công khai;
Hai là, sửa đổi các quy định về tặng quà và nhận quà tặng, chuyển
đổi vị trí công tác tiếp nhận theo hướng tăng tính tự giác và có chế tài
nghiêm khắc.
Ba là, hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức, đơn vị về phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.
Bốn là, sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định về minh
bạch tài sản, thu nhập nhằm kiểm soát biến động tài sản, thu nhập theo
hướng cân nhắc mở rộng phạm vi đối tượng có nghĩa vụ kê khai, mở rộng
diện tài sản, thu nhập phải kê khai, hình thức công khai bản kê khai.
Năm là, quy định mới một số biện pháp phòng ngừa khác mà thực
tế cho thấy là cần thiết, có hiệu quả, mang tính phòng ngừa lâu dài.
3.2.1.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật về phát hiện tham
nhũng.
Một là, sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về tố cáo và giải
quyết tố cáo.
Hai là, chỉnh lý và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có
thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử trong
phát hiện tham nhũng.
3.2.1.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý tham nhũng.
Một là, tăng chế tài xử kỷ luật và xử lý hình sự đối với các hành vi
tham nhũng.

21




Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng tinh gọn,
công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; trên
các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham
nhũng.
Bốn là, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,
đơn vị trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Năm là, thực hiện tốt nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt
động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Sáu là, thực hiện nghiêm quy định về kê khai, minh bạch tài sản,
thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức hàng năm.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện pháp luật về phát hiện
tham nhũng.
Để nâng cao hiệu quả phát hiện tham nhũng cần tiến hành đồng bộ
các giải pháp sau:
Một là, tăng cường kiểm tra, giám sát và thanh tra nhằm phát hiện
và xử lý tham nhũng.
Hai là, phát huy vai trò của công luận, nhất là của báo chí trong
phát hiện tham nhũng.
Ba là, tăng cường công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân nhằm phát hiện tham nhũng để có biện pháp xử lý kịp thời.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện pháp luật về xử lý các vụ
việc tham nhũng.
Thứ năm, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính
trị xã hội và nhân dân trong giám sát, phản biện xã hội đối với các hoạt
động của cơ quan công quyền.
Thứ sáu, tích cực xây dựng văn hóa PCTN trong xã hội.

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status