pháp luật về phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục phổ thông thực trạng và giải pháp - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)
Đề tài:

PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG THAM
NHŨNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC PHỔ
THÔNG - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giảng viên hướng dẫn:
Ths. DIỆP THÀNH NGUYÊN
Bộ môn Luật Hành Chính

Sinh viên thực hiện:
TRẦN ĐỨC THỌ
MSSV: 5115756
Lớp: Luật Hành Chính - K37

Cần Thơ, 12/2014



NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................. 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 2
5. Cấu trúc luận văn...................................................................................................... 2

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ...................................................... 3
1.1. Sơ lược chung về lịch sử........................................................................................ 3
1.1.1. Lịch sử hình thành nền giáo dục Việt Nam ...................................................... 3
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của những quy định về phòng chống tham nhũng. 7
1.2. Đặc trưng của tham nhũng.........................................................................................8
1.3. Nguyên nhân tham nhũng trong giáo dục phổ thông ............................................ 10
1.3.1. Những nguyên nhân liên quan đến cơ chế quản lý giáo dục hiện nay ............ 10
1.3.2. Những nguyên nhân liên quan đến các nhóm đối tượng trong giáo dục như
nhà trường, giáo viên, phụ huynh học sinh ............................................................. 12
1.4. Một số hình thức tham nhũng chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục phổ thông............ 14
1.5. Tác hại của tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục phổ thông ................................. 21
1.6. Mục đích phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục phổ thông ............... 25

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG THAM
NHŨNG TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ............................................. 27
2.1. Nội dung phòng chống tham nhũng trong giáo dục phổ thông ............................. 27
2.1.1. Quy định về dạy thêm học thêm ..................................................................... 27

tham nhũng trong giáo dục phổ thông..................................................................... 43
2.4.2. Các cơ chế và tổ chức có tính chất chuyên trách trong đấu tranh phòng chống
tham nhũng trong giáo dục phổ thông..................................................................... 45

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC PHÒNG
CHỐNG THAM NHŨNG TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ..................... 47
3.1. Thực trạng về công tác phòng, chống tham nhũng trong giáo dục phổ thông ....... 47
3.2. Các dạng sai phạm và những sơ hở trong cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo
dục phổ thông được phát hiện qua các cuộc thanh tra trong những năm gần đây ........ 50
3.3. Các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục đã được phát hiện và xử lý từ năm
2006 đến 2010. ........................................................................................................... 55
3.4. Một số hạn chế, tồn tại trong công tác phòng chống tham nhũng trong giáo dục
phổ thông ................................................................................................................... 58
3.5. Nguyên nhân của các tồn tại hạn chế ................................................................... 59
3.6. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong lĩnh
vực giáo dục phổ thông .............................................................................................. 59
3.7. Một số kiến nghị cụ thể về phòng chống tham nhũng trong giáo dục phổ thông... 60

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

chống tham nhũng trong giáo dục phổ thông - thực trạng và giải pháp” là một vấn đề

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 1

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Từ những lý do đó người viết chọn đề tài này để
làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật cho mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu là tìm hiểu các vấn đề tham nhũng trong
giáo dục phổ thông ở trong nước, tìm hiểu pháp luật quy định về phòng chống tham
nhũng trong giáo dục phổ thông, thực trạng về công tác phòng chống tham nhũng trong
giáo dục phổ thông cũng như thực trạng về tình hình tham nhũng trong giáo dục phổ
thông biểu hiện qua các vụ việc tham nhũng trong giáo dục.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Để làm sáng tỏ vấn đề tham nhũng trong giáo dục phổ thông, trên cơ sở đó đánh
giá tình hình tham nhũng trong giáo dục, những nguyên nhân nào làm cho vấn nạn tham
nhũng trong giáo dục phổ thông ngày càng phổ biến cũng như các tác hại tồn tại song
song, phân tích những biểu hiện và hình thức tham nhũng trong hệ thống giáo dục phổ
thông, tăng cường nhận thức, và hiểu biết của người dân về vấn nạn tham nhũng trong
giáo dục, đưa ra các giải pháp, kiến nghị trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng
trong giáo dục phổ thông.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu người viết có thể kết hợp nhiều phương pháp nghiên
cứu như: Phân tích, đánh giá, so sánh, diễn dịch, đồng thời có sử dụng phương pháp liệt

kỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy học, thi hành chế độ
khoa cử. Các triều đại thường chú trọng về việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô,
đặt các giáo chức ở các phủ, lộ để trông coi việc học hành. Tại các trường lớp tư gia, do
các ông đồ ngồi dạy trẻ. Các ông đồ được người dân tôn kính, quý trọng bởi họ là những
nhà nho, các nhà khoa bảng.
Nội dung dạy và học từ lớp tư gia đến các trường lớp ở lộ, phủ, kinh đô đều lấy
Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa. Các triều đại Lí, Trần, Lê, Nguyễn tổ chức các nhà
khoa thi (thi hương, thi hội, thi đình, hay thi tiến sĩ) về cơ bản giống nhau. Từ năm 1075,
nhà Lý mở khoa thi và hơn 2900 người đỗ từ tiến sĩ đến trạng nguyên.
Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nhiều
thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếu cho hệ thống
quan chức quản lý nhà nước và xã hội. Nền giáo dục ấy đã tạo nên nhiều bác học, nhà
văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng cùng những thế hệ tri thức giữ vai trò
quan trọng việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam. Một nền giáo dục phong kiến
coi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Tuy
nhiên, ý thức tôn cổ của nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát
triển của xã hội; phương pháp học khuôn sào, giáo điều, nặng về chương trình cũ, lý
thuyết suông, chạy theo hư danh là những hạn chế của nền giáo dục phong kiến Việt
Nam.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân pháp xâm chiếm nước ta. Nền giáo dục phong kiến
Việt Nam bị thay đổi toàn bộ, chữ hán thay thế bằng chữ quốc ngữ và chữ pháp. Từ nội
dung chương trình sách giáo khoa đến cách học, cách dạy, cách tổ chức các kỳ thi thay
đổi, hệ thống các trường từ sơ cấp, tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học phổ thông đến

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 3

SVTH: Trần Đức Thọ


của các em”.
Khi thực dân pháp quay lại xâm lược chiếm nước ta một lần nữa, cuộc kháng
chiến toàn quốc bùng nổ. Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và các khu
an toàn. Phong trào xóa mù chữ vẫn được duy trì. Được công nhận đạt tiêu chuẩn xóa nạn
mù chữ.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 4

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
Năm 1950, Trung ương đảng và Chính phủ quyết định tiến hành cải cách giáo
dục: Nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết kế trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, khoa
học, đại chúng. Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực
tiễn. Đến năm học 1953-1954, ở vùng giải phóng đã có 3673 trường cấp I, 397 trường
cấp II, 34 trường cấp III, 5 trường trung học chuyên nghiệp và 4 trường đại học.
Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc và thống nhất đất nước (1954-1975).
Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong kháng chiến
chuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trong quá
trình xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục mới này được tiến hành
không chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Nội dung
giáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt: Đức, trí, thể, mỹ. Phương châm giáo
dục là liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội.

thống giáo dục ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục đã
xây dựng và triển khai chương trình phát triển giáo dục 3 năm (1987- 1990). Sau 3 năm
đổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thu
được những kết quả đáng khích lệ.
Năm 1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật phổ cập giáo dục
tiểu học. Trước đó, Nhà nước đã quyết định phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ là
chương trình mục tiêu quốc gia, đặt mục tiêu đến năm 2000, tất cả các tỉnh, thành trong
cả nước đều đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ.
Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ tư (khoá VII) đã đề ra Nghị quyết về “tiếp tục
đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết nêu lên 4 quan điểm chỉ đạo phát
triển giáo dục và đào tạo trong đó nhấn mạnh giáo dục và đào tạo cùng với khoa học
công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu. Tháng 12/1996, Hội nghị lần thứ hai Ban
chấp hành Trung ương Ðảng khoá VIII tiếp tục ra Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào
tạo. Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua Luật Giáo dục,
tháng 12/1998.
Trong những năm cuối thập kỷ XX, Giáo dục và Ðào tạo Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu lớn. Quy mô giáo dục và đào tạo tăng nhanh. Tính đến tháng 8/1999, có
hơn 93,7% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, 85% tỉnh, thành và 90% quận, huyện đạt
chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Nhiều tỉnh đang tiến tới phổ
cập trung học cơ sở. Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích
cực. Trên 100 trường dân tộc nội trú đã được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho con
em các dân tộc theo học. Ðội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olimpic quốc
tế đem lại niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam. Hơn 25 năm qua, năm nào học sinh Việt
Nam cũng mang về cho đất nước nhiều huy chương và nhiều giải cao trong các kỳ thi
Olimpic về toán, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, ngoại ngữ.
Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam nhân dân
Việt Nam đã xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, có tính nhân dân, tính dân tộc,
khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
Ðây là cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.1

của Đảng ta để làm hõng công việc của ta”.
Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định tệ tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe
dọa sự sống còn của sự nghiệp cách mạng làm cho bộ máy Đảng, Nhà nước bị suy yếu,
lòng tin của nhân dân đối với Đảng bị xói mòn. Vì thế, đã đề ra phương hướng, quyết
sách phòng, chống tham nhũng.
Đó là Chỉ thị số 15/CT-TW ngày 20/11/1992 về một số biện pháp ngăn chặn,
đẩy lùi tham nhũng.
Nghị quyết số 14/NQ-TW ngày 15/5/1996 về quan điểm chỉ đạo và một số giải
pháp để đấu tranh chống tham nhũng.
Chỉ thị số 10/CT/-TW ngày 04/01/1997 về một số việc cần làm để tăng cường
hơn nửa công tác đấu tranh chống tham nhũng.
Nghị quyết số 06/NQ-TW (hội nghị lần 2) và kết luận số 04/KL-TW ngày
19/11/2001 của Hội nghị Ban chấp hành Trương ương khóa IX Đảng Cộng Sản Việt
Nam về tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi
tham nhũng.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 7

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
Sau đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tiếp tục
ban hành Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21/8/2006 về tăng cường lãnh đạo của Đảng
đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục xác định các biện pháp đấu
tranh ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng càng thể hiện rõ quyết tâm phòng, chống tham
nhũng của Đảng ta.


SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan,
quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ
quan, đơn vị thuộc công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần
góp vốn của Nhà nước tạo doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ
có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.2
Nhìn chung nhóm đối tượng này có đặc trưng đặc thù so với các nhóm đối tượng
khác như: Họ thường là những người có quá trình công tác và cống hiến nên có nhiều
kinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác
nhau; là những người có quan hệ rộng và có uy tính xã hội nhất định và thậm chí có thể
mạnh về kinh tế. Những đặc trưng này của chủ thể hành vi tham nhũng chính là yếu tố
gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vi tham nhũng.
Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ quyền hạn giao
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khi
thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình
như một phương tiện mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác.
Đây là yếu tố cơ bản xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạn
nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuy
nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng. Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi
này với hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với
các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi
Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi.

Trong trường hợp đó, họ trở thành đồng phạm khi người có hành vi tham nhũng bị truy
cứu trách nhiệm hình sự.3
1.3. Nguyên nhân tham nhũng trong giáo dục phổ thông
1.3.1. Những nguyên nhân liên quan đến cơ chế quản lý giáo dục hiện nay
Trách nhiệm thể chế yếu
Cơ chế và văn hóa “xin cho” đi kèm với quản lý kém và giám sát lỏng lẻo của
các cơ quan quản lý, thiếu minh bạch trong phân bổ ngân sách, thẩm định và phê duyệt
các dự án đầu tư là những nguyên nhân thể chế quan trọng nhất dẫn tới tham nhũng.
Trách nhiệm thể chế yếu mà các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đều thừa nhận, đã
tác động đến đầu tư, phân bổ ngân sách mua sắm công và phân bổ giáo viên. Cần lưu ý
rằng tình trạng này tồn tại cả trong các lĩnh vực khác liên quan đến quản lý ngân sách và
sử dụng nguồn lực tài chính. Vì vậy, trách nhiệm giải quyết vấn đề này không chỉ ở
ngành giáo dục mà còn ở ngành khác trong đó các cơ quan nhà nước trung ương và chính
quyền địa phương phải đóng vai trò chính.
Giám sát cán bộ kém
Vấn đề năng lực quản lý yếu kém của cán bộ ở tất cả các cấp từ trung ương tới
địa phương đã được các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận. Tuy nhiên,
năng lực hạn chế thường đi đôi với việc cán bộ không thực hiện đầy đủ chức năng và
nhiệm vụ theo quy định, quy trình và thủ tục đã được ban hành. Việc thếu cơ chế theo
dõi, giám sát nghiêm ngặt và chặt chẽ trong quá trình thực hiện các chương trình tạo cơ
hội cho tham nhũng và lãng phí, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư và mua sắm công. Hoạt
động kiểm tra và giám sát còn yếu do nhiều hạn chế và thách thức. Công tác này chủ yếu
được thực hiện sau khi sự việc xảy ra, và điều đó cũng cho thấy việc xây dựng và thực
3

Tài liệu bồi dưỡng về phòng chống tham nhũng, dành cho giáo viên các trường trung học phổ thông,
[truy
cập ngày 20/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

quản lý.
Động cơ thực hiện sai
Sự tồn tại các động cơ và chỉ tiêu hoạt động phản tác dụng trong việc quản lý và
khuyến khích các trường càng khẳng định căn bệnh thành tích và bằng cấp rởm, từ đó tạo
điều kiện cho hành vi tham nhũng. Ví dụ chỉ tiêu thành tích hoạt động của các trường,
đánh giá kết quả học tập của học sinh chủ yếu dựa trên điểm kiểm tra và điểm thi, cũng
như tiêu chí lựa chọn giáo viên và cơ chế tuyển dụng. Việc quá chú trọng đến đánh giá
kết quả học tập của học sinh dựa trên điểm số đã dẫn đến tình trạng học sinh chỉ học tủ và
chú trọng đến những môn học có khả năng phải thi. Hơn nửa phụ huynh học sinh cũng
phải chạy ngược chạy xuôi để lo cho con em mình có điểm tốt, và vì vậy tình trạng dạy
thêm ngày càng tăng nhằm đảm bảo học sinh đạt được điểm tốt. Các phụ huynh nói rằng
xu hướng các nhà tuyển dụng và xã hội nói chung quá nhấn mạnh đến tầm quan trọng của
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 11

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
bằng cấp rõ ràng đã gây áp lực lên cha mẹ học sinh buộc họ phải cố gắng hết sức để đảm
bảo bằng cấp cho con em mình, không cần biết năng lực thật sự của các em thế nào.
Thu nhập của giáo viên thấp
Một nguyên nhân khác của tham nhũng trong ngành giáo dục phổ thông là lương
và thù lao của giáo viên thấp. Mặc dù nhà nước đã có nhiều cải cách nhằm tạo ra một hệ
thống tiền lương ưu việt hơn, song giáo viên dường như vẫn không kiếm đủ tiền cho một
cuộc sống bình thường nếu chỉ dựa vào lương chính. Đây cũng là trường hợp xảy ra ở
nhiều ngành khác như y tế, văn hóa và quản lý nhà nước. Tình trạng này được nhận thấy
rõ hơn trong khu vực đô thị, nơi chi phí sinh hoạt tăng rất nhanh. Trong những khu vực



Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
Sự liên kết trong tham nhũng giữa cả thủ phạm và nạn nhân làm cho công tác
chống tham nhũng trong ngành giáo dục trở nên khó khăn. Các hiện tượng và hành vi
tham nhũng ngày càng lan rộng, bởi vì trong hầu hết các trường hợp, tham nhũng làm lợi
cho cả thủ phạm lẫn nạn nhân. Ví dụ không thể phủ nhận rằng cơ chế “giá thị trường”
cho việc chạy trường, chạy lớp, chạy điểm cao có lợi cho phụ huynh học sinh, những
người luôn mong muốn các em họ được vào học ở các trường có chất lượng tốt, có danh
tiếng, được các giáo viên tài giỏi dạy dỗ, và điều quan trọng nhất là học tập tốt ở trường.
Điều này cũng lý giải tại sao các nhà quản lý giáo dục và giáo viên lại chú trọng
quá nhiều tới kết quả học tập của trường và lớp. Những chỉ số đánh giá kết quả học tập là
động lực để phụ huynh học sinh tặng nhiều quà cáp hơn cho giáo viên và hiệu trưởng từ
đó giúp con em họ thành công. Kết quả là các nhà quản lý giáo dục và giáo viên có xu
hướng nghĩ rằng giúp học sinh bằng cách nâng điểm nhằm làm vui lòng cha mẹ. Chính vì
vậy mới có tình huống hai bên cùng có lợi. Tương tự như vậy, các hiện tượng không
minh bạch và chạy chọt để có được các dự án đầu tư cơ bản không chỉ có lợi cho cá nhân
những người tham nhũng (các quan chức có thẩm quyền) mà còn có lợi cho các trường
học được nhận dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và cuối cùng là phụ huynh học
sinh.
Thiếu văn hóa chống tham nhũng
Rõ ràng có tâm lý sợ hãi và e ngại trong xã hội khi phát hiện và tố cáo tham
nhũng nói chung và tham nhũng trong giáo dục nói riêng. Nếu chuyện sống và chết nằm
trong tay ngành y thì tương lai trẻ em nằm trong tay ngành giáo dục. Có sự chấp nhận
tham nhũng rộng rãi trong xã hội, thậm chí là sự nhẫn nhịn. Nhiều phụ huynh tin rằng
thường xuyên biếu quà giáo viên sẽ có ảnh hưởng tốt tới kết quả học tập ở trường của con
em học. Tuy nhiên hầu hết phụ huynh học sinh lại không coi đây là tham nhũng, mà nhìn
nhận như một cử chỉ bình thường thể hiện lòng tôn trọng đúng mức của họ. Tuy nhiên, có
một ranh giới không rõ ràng giữa tặng quà để thể hiện sự kính trọng giáo viên với việc

tại cuộc đối thoại về phòng, chống tham nhũng do Thanh tra Chính phủ phối hợp Ban chỉ
đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng và đại sứ quán Thụy Điển tổ chức, PGS-TS
Nguyễn Đình Cử, Viện dân số và các vấn đề xã hội, Đại học kinh tế quốc dân đã chỉ ra 9
hình thức tham nhũng chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục phổ thông: Chạy trường; chạy
điểm (vụ chạy điểm 553 triệu đồng ở Bạc Liêu); tham nhũng qua dạy thêm; lạm thu phí
qua giáo dục; độc quyền xuất bản sách giáo khoa; tham nhũng trong tuyển dụng, đề bạt
và luân chuyển giáo viên; rút ruột các công trình xây dựng (kiên cố hóa trường học phát
hiện 14% phòng học gây thất thoát hơn 27 tỷ đồng); xả xẻo khi mua thiết bị dạy học; xả
xẻo kinh phí dự án giáo dục.4
Tại cuộc đối thoại với các nhà tài trợ về phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực
giáo dục lần thứ 7 do Thanh tra Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Đại sứ
quán Thụy Điển tổ chức ngày 28-5-2010 tại Hà Nội, Thanh tra Chính phủ nêu 6 điểm:
Dạy thêm, học thêm; tuyển sinh đầu cấp; thực hiện các khoản thu; đầu tư xây dựng; xuất
bản sách giáo khoa; tổ chức cán bộ.
Chính hình thức tham nhũng trong hệ thống giáo dục phổ thông mà PGS-TS
Nguyễn Đình Cử nêu ra là khá đầy đủ, đã chỉ mặt được từ “tiểu nhũng” (là giáo viên và
cán bộ quán lý cấp thấp) trong việc chạy điểm, dạy thêm, tới “đại tham” (là cán bộ quản
lí cấp cao) trong việc độc quyền xuất bản sách giáo khoa, tiêu cực khi tuyển dụng, đề bạt,
luân chuyển giáo viên và cán bộ quản lý, rút ruột công trình xây dựng, xả xẻo kinh phí dự
án giáo dục, liên quan các hình thức này, có vô vàn ví dụ thực tế. Chẳng hạn về chạy
trường, cách đây vài năm báo chí đã phanh phui một vụ chạy trường có giá 4 ngàn đô la
4

Lê phương, 9 hình thức tham nhũng trong giáo dục, [truy cập ngày 25/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 14

SVTH: Trần Đức Thọ

duyệt và ra quyết định cuối cùng về việc đầu tư. Vì đầu tư từ ngân sách nhà nước hạn
hẹp, trong khi các trường lại thường không đáp ứng được các yêu cầu đầu tư, nên họ
thường phải “chạy chọt” các cơ quan có thẩm quyền để phê duyệt dự án. Ngoài ra, tham
nhũng trong đấu thầu và xây dựng cơ bản của các trường còn có thể xảy ra thông qua các
báo cáo gian lận về khối lượng và chất lượng xây dựng nhằm rút ruột ngân sách nhà
nước. Những hình thức tham nhũng này cộng với cơ chế quản lý lỏng lẻo và yếu kém có
thể là nguyên nhân chính khiến cho công trình xây dựng không đáp ứng được yêu cầu và
5

Nghiên cứu của Ban nội chính Trung ương (2005).

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 15

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
tiêu chuẩn chất lượng. Kết quả là sự an toàn của giáo viên và học sinh bị đe dọa những
công trình xây dựng không an toàn.
Tham nhũng trong các dự án mua sắm công
Tương tự như các dự án xây dựng cơ bản, hàng trăm tỉ đồng từ ngân sách nhà
nước được phân bổ cho việc mua sắm thiết bị giảng dạy mỗi năm. Trong trường hợp này,
tham nhũng xảy ra từ giai đoạn lập kế hoạch, bằng cách làm dự toán ngân sách khống,
việc định giá mua sắm không do cơ quan có thẩm quyền tiến hành, trang thiết bị được
mua sắm không phù hợp với nội dung công tác giảng dạy tại trường học (không cần thiết
hoặc không đầy đủ)
Theo một công dân được phỏng vấn thì những hình thức tham nhũng sau đây đã

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
Có những hình thức tham nhũng tồn tại trong mối quan hệ giữa các trường và các
tổ chức quản lý hệ thống giáo dục, như đưa hối lộ đề đạt danh hiệu “trường chuẩn” và
“các danh hiệu xuất sắc”. Một quan chức giáo dục về hưu được phỏng vấn cho biết có
một căn bệnh gọi là “bệnh thành tích” trong ngành giáo dục, và căn bệnh này bị dư luận
lên án mạnh mẽ trong những năm gần đây. Việc đạt danh hiệu trường chuẩn có thể giúp
cho các trường có điều kiện xin và được nhận thêm ngân sách đầu tư, vì vậy sẽ có thêm
nhiều cơ hội cho tham nhũng. Trên thực tế, một trường được công nhận là trường chuẩn
sẽ thu hút phụ huynh học sinh cho con vào học, từ đó tạo ra hiện tượng hối lộ để được
nhận vào trường tốt theo nhu cầu.
Hiện tượng tham nhũng dưới hình thức bệnh thành tích hay chạy theo danh hiệu
hoặc bằng cấp giả tạo cũng tồn tại cả trong giáo viên và phụ huynh học sinh. Giáo viên
chạy chọt để có được danh hiệu “giáo viên dạy giỏi” và từ đó có nhiều cơ hội tăng thêm
thu nhập nhờ mở các lớp học thêm; các trường học có giáo viên như vậy cũng có thể sử
dụng lập luận có “nhiều giáo viên dạy giỏi” để thu hút thêm nhiều học sinh. Về phần
mình vì tương lai của con em mình một số phụ huynh cũng sẵn sàng trả tiền để con em
họ đạt điểm cao, bằng cấp không thực chất.
Tham nhũng trong dạy thêm, học thêm
Hiện tượng dạy thêm, học thêm dường như đã lan rộng khắp cả nước, đặc biệt ở
các khu vực đô thị và thành phố lớn. Đây là một chủ đề hay được đề cập đến trên báo chí.
Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006 cho thấy gần nửa trẻ em ở độ tuổi đến trường
phải đi học thêm trong năm học ở trong trường. Trong số các em đi học thêm, 68% học
thêm ở trường, và 28% học thêm ở nhà thầy, cô giáo.
Tất cả phụ huynh đều nói rằng họ phải thu xếp để con em mình có thể đến các
lớp học thêm. Phần lớn các lớp học thêm ở trường, trong đó một phần ba nói rằng họ phải
thu xếp cho con mình theo học cả lớp học thêm của giáo viên trong trường và cả lớp học

như: Bớt xén tiền Chính phủ hỗ trợ học sinh ngèo,7 thu tiền mua sách giáo khoa mà
Chính phủ cấp miễn phí. Những hiện tượng này gần đây đã được báo chí phát hiện. Bên
cạnh đó, mặc dù đã có những bằng chứng rõ ràng và dư luận lên tiếng, nhưng một số
trường hợp vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết một cách triệt để. Trong
một số trường hợp người tố cáo tham nhũng lại trở thành nạn nhân. Điều này rõ ràng làm
giảm lòng tin của cộng đồng và hiệu quả của việc đấu tranh chống tham nhũng trong
tương lai.
Thu tiền học sinh trái quy định
Hầu hết phụ huynh đều nói rằng ngoài tiền học phí, họ còn phải đóng các khoản
quỹ bổ sung để mua thiết bị học tập, hay trả tiền điện, nước mặc dù những khoản này đã
được nhà trường trợ cấp.
Theo các nhà quản lý trường học, các trường phải thu thêm của phụ huynh học
sinh cho các quỹ bởi vì ngân sách nhà nước không đủ cho hoạt động của trường. Nhiều
phụ huynh nói rằng gia đình không biết hay biết hết các quy định của Chính phủ về
khoản thu nào là hợp pháp hoặc khoản thu nào là không được phép hoặc họ cũng không
nhớ những quy định này. Phụ huynh liệt kê đến 14 loại phí họ phải nộp cho trường, có
thể chia làm ba nhóm chính: Phí theo quy định của Bộ Giáo dục Đào tạo (ví dụ như học
phí), phí thu hộ cho các cơ quan khác (ví dụ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể), và
các khoản đóng góp tự nguyện và những đóng góp không nằm trong quy định chính thức

7

Hiệu trưởng ăn chặn: Phụ huynh than, giáo viên khóc, [truy cập ngày 27/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 18

SVTH: Trần Đức Thọ


đồng ý rằng vấn đề này ảnh hưởng xấu đến chất lượng giáo dục. Cụ thể là nó làm cho học
8

14 loại phí liệt kê dưới đây bao gồm: học phí, tiền học thêm, quỹ trường, quỹ lớp, tiền xe đạp và xe máy, bảo hiểm
y tế, phí tuyển sinh, sách giáo khoa, đồng phục, trang thiết bị giảng dạy, quỹ khuyến học, đóng góp từ thiện và quỹ
xây dựng trường.
9
Rất khó xác định rõ ràng loại phí và đóng góp nào được thu theo quy định và khoản nào là không hợp pháp. Phí và
các khoản đóng góp không được phép thu thường được ngụy trang dưới hình thức “đóng góp tự nguyện” hay đóng
góp theo sự nhất trí và được ban phụ huynh đứng ra thu.
10
Hoàng Anh, Cựu hiệu trưởng Sầm Đức Lương nhận án 9 năm tù, [truy cập ngày 28/8/2014].
11
Cho học sinh kém lên lớp: điểm 0 thành điểm 10, [truy cập ngày 29/8/014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 19

SVTH: Trần Đức Thọ


Pháp luật về phòng chống tham nhũng trong
lĩnh vực giáo dục phổ thông - Thực trạng và giải pháp
sinh dựa dẫm vào người khác và không thúc đẩy năng lực của học sinh, còn giáo viên thì
mất đi đạo đức nghề nghiệp. Theo ý kiến của những người được phỏng vấn, tình trạng
này có thể dẫn đến việc học sinh không còn động lực học hành chăm chỉ; học sinh sẽ
không có kiến thức và từ đó phá hỏng tương lai của các em. Giáo viên cũng mất đi động
lực dạy học và không mong muốn có sáng kiến cải tiến và nâng cao phương pháp giảng
dạy.


SVTH: Trần Đức Thọ


Trích đoạn Tổ chức về dạy thêm, học thêm Trách nhiệm quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm Xử lý tài sản tham nhũng trong giáo dục phổ thông Về trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác phòng, chống Thực trạng về công tác phòng, chống tham nhũng trong giáo dục phổ thông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status